073. Trang [0791-0802] - @ThanhVan (done)

26/10/15
073. Trang [0791-0802] - @ThanhVan (done)
  • Bỏ thuế vặt ở Hà Tiên. Hà Tiên trước không có ngạch thuế. Từ Mạc Tử Thiêm mới thu các thuế mỡ lợn, thuốc phiện và thuế sòng bạc. Bọn án thủ là Ngô Y Nhiễm, Lê Tiến Phước, lại chia thuyền buôn ra làm ba hạng để đánh thuế. Đến nay làm sổ quân dân và đem ngạch những thuế đã đánh để do thành thần Gia Định tâu xin định lệ. Gặp lúc bọn Tống Phước Ngoạn tự nước Xiêm về, nói rõ mối tệ. Vua bèn xuống chiếu bỏ đi. Chiếu rằng: “Hà Tiên là nơi biên giới ở xa. Triều trước dựng trấn tiết cốt để làm bảo chướng, chứ không phải cốt để thu thuế. Từ khi quân nổi, dân vật điêu hao, Tử Thiêm có chức phận giữ đất, để chăn dân, thế mà không biết thể theo đức ý, lại còn đòi kiếm ngoài ngạch, bóc lột dân để nuôi béo mình. Bọn án thủ Y Nghiễm lại cứ theo lối cũ mà làm, có phải ý của triều đình vì dân đặt quan như thế không. Vậy các tạp thuế như thuế mổ lợn, thuế thuốc phiện, thuế sòng bạc đều bỏ hết. Thuế thân, thuế thuyền chưa có định ngạch cũng đều miễn cả. Duy có dân tịch thì đăng ở Hộ bộ để biết rõ số dân thôi”. Tờ chiếu ban xuống dân rất vui mừng.

    Phó đô thống chế quân Thần sách là Nguyễn Văn Tri bắt lính làm việc riêng, việc phát giác. Bãi quyền coi quân, vẫn lưu làm Phó đô thống chế.

    Truy tặng Cai cơ Vọng Các hành Lưu thủ Bình Hòa là Nguyễn Thoan làm Chưởng cơ.

    Hạ lệnh cho thành thần Gia Định xét những biền binh thuộc thành nên chi gạo bổng gạo lương thì đều theo giá chợ mà cấp bằng tiền.

    Sai Cai cơ chi Thanh nghĩa ở Bắc Thành là Nguyễn Văn Thuật đem một trăm người binh của chi đóng giữ bảo Hoàng Chuyết (thuộc huyện Bạch Hạc) trấn Sơn Tây.

    Đổi dựng cầu Lý Hòa ở Quảng Bình. (Cầu cũ 138 nhịp, đến nay đo sông rộng 74 trượng, đổi dựng 56 nhịp, bớt cũ đi 82 nhịp), sai quản cơ Cao Công Giang trông coi công việc.

    Dời trấn thành Bình Định đến Tân An (tên xã thuộc huyện Tuy Viễn). Trấn thần thấy dân đương làm ruộng, xin sai 17.500 người, chia làm hai ban, 10 ngày thay một lần. Lại xin hoãn bắt lính một tháng. Vua đều theo lời. Ruộng đất nào bị mở vào, sai cấp cho 4 phần 10 giá tiền.

    Sai Tham lý Đê chính là Nguyễn Khắc Thiệu kiêm quản Thủy quân ở Bắc Thành.

    Lưu thủ Phiên An là Lê Văn Lân chết. Cho 2 tấm gấm Tống và 100 quan tiền.

    Cho Lê Duy Hoán 100 quan tiền, Lê Duy An 30 quan tiền.

    Bắc Thành bị hạn. Sai thành thần xét hỏi tù đương giam, tha hơn ba chục người án còn ngờ.

    Đổi định lệ tiền ân tuất cho các quan viên văn võ: (Nhất phẩm tiền tuất 400 quan, tòng nhất phẩm 300 quan, nhị phẩm 200 quan, tòng nhị phẩm 100 quan, tam phẩm 70 quan, tòng tam phẩm 40 quan, tứ phẩm 30 quan, tòng tứ phẩm 28 quan, ngũ phẩm 25 quan, tòng ngũ phẩm 23 quan, lục phẩm 20 quan, tòng lục phẩm 18 quan, thất phẩm 15 quan, tòng thất phẩm 13 quan, bát phẩm 10 quan, tòng bát phẩm 8 quan, cửu phẩm 5 quan, tòng cửu phẩm 4 quan. ở Kinh do Hộ bộ, ở ngoài do quan địa phương theo lệ chiếu phát. Tam phẩm trở lên thì tâu ngay lên cho vua biết. Còn từ tứ phẩm trở xuống đều đến cuối năm làm thành sách tâu lên. Bề tôi huân cựu được đặc biệt gia ân thì không theo lệ định. Ty thuộc vị nhập lưu cùng binh lính và thợ cục đương sai phái việc công, thì cấp tiền 3 quan).

    Nguyễn Đức Xuyên tâu nói rằng hai xã Dương Nỗ và Quy Lai, có đầm nông cạn có thể cày cấy được, xin sai dân đắp đập chống nước mặn để cày cấy. Sau khi thành ruộng, theo lệ công điền mà thu thuế. Vua y cho.

    Phó vệ úy vệ Túc võ là Hồ Văn Trương đốc suất quân dân hộ giải đồ vật của nhà nước, gặp khi trời hè nóng dữ, dân phu có người đau bụng không đi được, binh lính ngờ là dối đánh roi, người ấy chết. Văn Trương vì không hay răn cấm phải phạt 70 roi. Lại thu tiền mai táng 36 quan cấp cho nhà người chết.

    Phó vệ úy vệ Phấn võ là Tôn Thất Nghị tuổi già xin nghỉ việc. Vua thấy Nghị trước có chiến công, cho hàm Cai cơ.

    Cấp cho Thanh Hoa 10 chiếc thuyền.

    Bắc Thành giá gạo đắt. Thành thần tâu nói: “Nhân dân bị đói kém, vì nỗi khan tiền. Nay đồng đỏ ít, xin đem gang pha lẫn với thiếc, theo kiểu tiền đồng thời Hồng Đức mà đúc, để tiêu dùng trong nước”. Vua sai định kiểu mẫu khuôn đất, gửi cho để đúc, cứ 1 quan tiền nặng 2 cân làm mức, không được quá nhẹ.

    Tha thuế thân năm nay cho thợ thuyền các địa phương làm việc ở Kinh.

    Hạ lệnh cho Đô thống chế Hậu dinh quân Thần sách là Trần Văn Năng đem hơn 1 nghìn biền binh theo thú ở Gia Định hộ đưa thuyền vận tải về Kinh. Tới nơi, vua nghĩ đi thú ở xa đã lâu ngày thả cho về, binh thì thưởng cho hơn 3.000 quan tiền, quan thì đều thưởng cho 1 tháng lương.

    Sai Phó tướng Hữu quân là Mạc Văn Tô đem binh cũ về Kinh. Trước đây Văn Tô chiêu tập hơn 1 nghìn người binh cũ theo việc sai phái ở thành Gia Định, rồi sau trốn đi chỉ còn một nửa. Thành thần đem việc tâu lên. Vua sai Văn Tô quản suất đem về Kinh, kẻ nào đi đường mà dám trốn thì bắt chém để làm gương. Khi tới Kinh, có 3 người trốn, qua cửa Hải Vân quan thủ ngự bắt được, sai chém ngay.

    CHÍNH BIÊN

    ĐỆ NHẤT KỶ - QUYỂN XLI

    THỰC LỤC VỀ THẾ TỔ CAO HOÀNG ĐẾ


    Canh ngọ, Gia Long năm thứ 9 [1810], mùa thu, tháng 7, ngày mồng 1, tế thu hưởng.

    Lại tha thuế các nguồn năm nay cho Quảng Ngãi. Các nguồn từ khi bọn ác man nổi loạn, lính thú phải đóng giữ, đường buôn bán chưa thông, cai quản là Dương Công Vịnh đem việc tâu lên, cho nên lại tha.

    Dựng kho các trấn Phú Yên, Bình Hòa, Bình Thuận.

    Thổ phỉ ở Thanh Hoa tụ họp ở Thiệu Thiên, thổ dân là Nguyễn Xuân Dần và Nguyễn Miện dụ chúng đến xã Viên Quang, rồi báo quan quân vây bắt, bắt được tướng giặc là tên Kim tên Lâm và đồ đảng 8 người. Thổ tù là Phạm Phước Ba cũng bắt được đảng giặc là tên Vĩ và súng đạn khí giới đem nộp. Trấn thần tâu nói công trạng. Sai bọn Dần làm đội trưởng và thưởng 50 quan tiền, thưởng mũ áo và 100 quan tiền cho Ba.

    Chia binh Thị trung làm ba ban, một ban nghỉ, hai ban ở trực.

    Định lệ chia ban chi lương cho các viên dịch ở các nha sáu bộ. (Ty Lệnh sử đồ gia ở sáu bộ, ty Chiêm hậu ở Khâm thiên giám đều chia làm ba ban, một ban làm việc, hai ban nghỉ. Người ở ban mỗi tháng được cấp gạo lương mỗi người 1 phương; Thái y viện cùng y sinh ngoại khoa chia làm năm ban: một ban làm việc, bốn ban nghỉ, ở ban mỗi tháng được cấp gạo lương mỗi ban 30 phương).

    Sai Đô thống chế Lê Văn Phong đem hơn 1 nghìn quân và hơn bốn chục chiếc thuyền đi thú ở Gia Định.

    Trong kinh kỳ bị bão, nước lụt tràn lên. Thuyền buôn ở cửa Eo và cửa Tư Dung bị chìm đắm, nhân dân có người chết đuối. Vua sai một người thị thư và một người tiểu sai hội với dinh thần Quảng Đức đến tận nơi, thu nhặt xác chết, cho tiền chôn cất.

    Nước Xiêm La sai Long Tham Sám Bạt Ca, và Long Chãi Khổn Sạ Môn Tri đến dâng sản vật địa phương. Trước kia người Xiêm là Ngô Ngãnh bị bão thuyền dạt vào phần biển Quảng Nam, vua sai theo lệ cấp cho gạo lương, lại cho vay hơn 1.000 quan tiền, hơn 1.000 phương gạo. Đến nay người Xiêm đến tạ ơn và dâng thư nói nước Xiêm La đã đánh phá được Phạ Ma (tên khác của nước Diến Điện), lấy lại đất Sa Lãng. Vua sai trả lại những vật dâng và làm thư trả lời.

    Nguyễn Văn Thành dâng phong thư kín nói các việc một là xin định lại phép thưởng phạt các phủ huyện ai có công thì thăng cấp, tăng lương, ai có lỗi thì giáng cấp, phạt lương, để khuyên răn. Hai là xin định 6 năm chia làm hai kỳ khảo khóa; phủ huyện trong 3 năm không có lỗi thì được điều bổ đi hạt khác, đến 6 năm thì xét giỏi hay không để định thăng truất. Ba là nói những bãi nổi ven sông ở Bắc Thành dân hay tranh nhau trưng, gây thành kiện tụng, xin định điều lệ để ban hành.

    Vua sai đình thần bàn lại tâu lên.

    Định lệ cấp người dẫn đường cho các địa phương. Từ Gia Định đến Bắc Thành, phàm cấp người dẫn đường, đều lấy tới Kinh làm hạn, không được vượt qua.

    Tôn Thất Thăng tâu xin mộ dân ngoại tịch có văn học lấy 20 người sung bổ làm văn hàn thuộc phủ. Vua y cho.

    Kén thêm binh Tống Sơn sung vào vệ Tín uy Thị nội. Chiếu rằng: “Tống Sơn là nơi căn bản, triều trước lấy dân làm thân binh. Từ nhà nước hưng phục tới nay, tô thuế dao dịch đều miễn cả, duy các đội của vệ Tín uy là binh thân cận thì lấy dân huyện, vì muốn cho cùng nhà nước nương nhau. Nay số quân chỉ có 160 người, mà trong huyện cũng có người chưa được dự. Vậy hạ lệnh cho kén đủ 600, chia làm 10 đội thuộc vệ Tín uy, mỗi đội 60 người, để phục sự Nguyên miếu, hoặc gọi về Kinh ứng trực. Vả lại binh giáp của triều đình, thêm một huyện không là nhiều, bớt một huyện không là ít, song việc suy ân phải bắt đầu từ gốc, Tống Sơn là ấp thang mộc, ở nước là thân dân thì ở quân là thân binh, những vệ hiệu khác không thể ví được. Vậy đều phải thể theo ý ấy của trẫm”.

    Tham hiệp Nghệ An là Nguyễn Văn Huân tự tiện chi dùng của công, bị tội miễn chức; lấy Tri phủ Anh Đô là Lưu Văn Vượng thay.

    Tướng giặc ở Kinh Bắc tên là Liễn tụ đảng ở Bắc Hà hoành hành cướp bóc. Trấn thủ Lưu Phước Tường đem quân vây bắt được đồ đảng 50 người.

    Đô thống chế Thủy dinh là Lê Văn Quế chết. Văn Quế có công Vọng Các, vua thương vì không có con nối dòng nên miễn thuế thân cho người cháu gọi bằng chú bác là Lê Văn Do, khiến giữ việc thờ cúng. Lại sai mộ dân ngoại tịch 7 người làm mộ phu.

    Tháng 8, ban thước kinh đo ruộng cho trong ngoài. Thước kinh do triều Lê cũ chế ra ban hành đã lâu, dân gian vẫn thường dùng. Năm Gia Long thứ 5 mới dùng thước trung bình, chế hơi dài hơn, bởi thế đo ruộng số mẫu sai nhau nhiều. Vua sai hỏi tìm thước kinh cũ. Lấy được ở nhà dân xã Cổ Linh huyện Gia Lâm, bèn theo các thức ấy lấy đồng (nặng 1 cân 12 lạng) mà làm ban cho các thành dinh trấn. Những ruộng đất công tư từ trước trót đã dùng thước trung bình mà khám đạc, thì làm sổ để đó mà theo. Từ nay nếu có việc tranh địa giới hay tố cáo ẩn lậu và báo xin khai khẩn thì dùng thước kinh để đo.

    Tha dao dịch ba năm cho dân Triều Tôn (tên xã, nay là Giang Triều thuộc huyện Phú Vang) dinh Quảng Đức. Chánh quản cơ Kiên chu là Lê Văn Châu tâu nói rằng tiên tổ là người Triều Tôn (tên xã, nay là Triêu Dương, thuộc huyện Quảng Xương) ở Thanh Hoa, khi Thái Tổ vào trấn phương Nam, đem nghĩa dân đi theo, nhờ ơn cho dân ấy làm binh thuyền Triều Tôn, lấy hơn 10 mẫu ruộng đất Tiên Nộn, Nam Phố và Phổ Trì (tên ba xã, thuộc huyện Phú Vang) cho ở. Khi Tây Sơn nổi loạn, quân dân tan tác bốn phương, ruộng đất bị xã Nam Phố chiếm mất. Năm Gia Long thứ 7, lấy cấp trả lại, sai chiêu tập dân về. Nay dân dần dần trở về, xin lập sổ đinh sổ điền xã Triều Tôn. Ruộng thì xin nộp thuế theo lệ công điền hạng ba. Vua y cho. Lại thấy dân ấy mới về, miễn dao dịch ba năm.

    Thành thần Gia Định tâu nói: “Số binh ở các trấn còn ít, xin căn cứ vào sổ đinh từ 20 người trở lên, 30 người trở xuống, thì lấy 1 người dân ngoại tịch lập làm hương binh. Chọn dân nội tịch lấy người nhanh nhẹn siêng năng cho làm thủ ngự để suất lãnh, lệ thuộc trấn sai khiến”.

    Vua thấy lấy binh ở dân ngoại tịch, hoặc sinh rối thêm, xuống chiếu bảo không nên.

    Tướng giặc ở Sơn Tây là bọn tên Bách, tên Bàng mưu nổi loạn. Người Tam Đới là bọn Nguyễn Như Phượng, Nguyễn Đạo Cần báo dẫn quan quân bắt giết. Việc tâu lên. Cho Phượng làm Cai đội, Cần làm Đội trưởng và thưởng tiền 500 quan.

    Sai các địa phương tìm hỏi sự tích công thần. Vua bảo bầy tôi rằng: “Từ năm Quý tỵ về sau, vận nước suy vi, trong khoảng ấy trung thần nghĩa sỹ đem mình báo nước thực chẳng phải ít. Lúc mới trung hưng đã từng sai tìm chép, nhưng lâu năm dấu tích mất đi, sợ chưa nêu rõ hết. Nay mới dựng miếu công thần, nên đi hỏi rộng mà liệt vào điển thờ, để yên ủi hồn thơm của người đã mất. Vậy hạ lệnh cho các thành dinh trấn hỏi khắp các quan lại dân chúng thuộc hạt, ai có ông cha vì nước chịu nạn, trung tiết rõ ràng, cho con cháu thân thuộc đem thực trạng làm thành sách tâu lên”.

    Thả quân Thần sách ở Thanh Nghệ về. Thưởng cho cai đội, đội trưởng mỗi người một tháng tiền lương, binh lính mỗi người 3 quan tiền.

    Hạ lệnh cho bộ Hộ định rõ thuế sản vật từ Quảng Bình về Nam, khiến dân đem nộp như lệ.

    Tham hiệp Tuyên Quang là Nguyễn Dũng có tội, bị xử tử. Trước kia phân Quản tổng Vân Quang châu Bảo Lạc là Nông Khoan Triều bị giặc Tây Sơn giết, con là Nông Phước Đổ lánh nạn đi trốn. Người Quảng Đông nước Thanh là Trí Võ đã biết rõ, bèn mạo xưng là Phước Đổ để nối giữ chức Quản mục Vân Quang. Kịp khi Phước Đổ về, Trí Võ đem đồ đảng đương đêm chạy trốn, lẻn qua ải Cốc Bàng. Người giữ ải là Nông Phan Trung (cựu thuộc của Khoan Triều) chặn đường bắn chết đồ đảng 5 người. Trí Võ chạy tố cáo với trấn. Dũng biết rõ Trí Võ là giả dối, nhưng tham lợi nên để đấy, chỉ hỏi Phan Trung về tội giết người, thu bạc bồi thường 200 lạng và bỏ tù hai người dân đến chết ở ngục. Trung kiện lên thành. Thành thần tra hỏi, biết hết tình trạng. án dâng lên. Vua cho Trung là người hăng hái việc nghĩa, làm nổi chức vụ, rất khen, thưởng tiền 100 quan. Dũng và Trí Võ đều xử tội chết. Trấn thủ là Đặng Phước Trung, Hiệp trấn là Nguyễn Thế Trung vì chỉ việc a dua, đều phải bãi chức. Lại cho Phước Đổ quản tổng Vân Quang.

    Lấy Vệ úy vệ Trinh võ là Lê Văn Thái làm Trấn thủ Tuyên Quang, Thiêm sự Binh bộ là Bùi Công Kim làm Hiệp trấn, Tri phủ Thiên Quan là Nguyễn Kim Giám làm Tham hiệp.

    Sửa cung Trường Thọ, thưởng cho binh lính 500 quan tiền.

    Tha thuế thân và dao dịch cho Văn hàn ty thuộc công phủ hoàng tử.

    Lấy 48 người dân xã Nguyệt Biều sung vào bốn đội Phú Thuận lính coi kho Kinh.

    Hạ lệnh cho Gia Định lập sở dưỡng tế ở chùa Kim Chương cho những dân cùng túng không nơi nương tựa ở đấy, lương cấp cho ăn.

    Lấy Khâm sai chưởng cơ vệ úy vệ Ban trực hữu quân Thần sách là Mai Gia Cương làm Quản đạo Thanh Bình.

    Định lại 4 điều về việc vận tải:

    1. Kỳ hạn vận tải. (Phàm việc vận tải mỗi năm một lần, cứ thượng tuần tháng 4 thì ra biển. Quan sở tại, trước ngày ra khơi, tư ngay cho các trấn thủ các địa phương, ngày đêm đi tuần ở biển; thuyền chở đi qua, có cần giúp đỡ gì, tức thì chiếu cố và khám làm chứng, đem việc tâu lên. Hạn thuyền đi thì trung tuần tháng 5 đến Kinh. Gặp nạn gió mà có giấy khám làm chứng minh bạch thì khỏi phải đền; vô cớ chậm trễ và buông thuyền chạy trái thì phải tội, chiếu số mất mà đền đủ số.

    2. Sổ vận tải. (Các trấn ở thành Gia Định, đem số tiền thóc sản vật phải chở làm hai bản sổ, một bản nộp cho thành, một bản giao cho sở tại lãnh giải. Thành thần hội làm hai bản sổ tâu, một bản đệ bộ Hộ, một bản giao quan đốc vận. ở Bắc Thành cũng thế. Duy từ Quảng Bình, trở về Nam đến Bình Thuận, trở về Bắc đến Thanh Hoa, mỗi kỳ chở phải làm hai sổ tâu một sổ đệ bộ Hộ, một sổ giao quan đốc vận hay viên lãnh giải).

    3. Chức đốc lãnh. (Vận tải ở Gia Định và Bắc Thành chia làm bốn bang, Gia Định thì lưu thủ, cai bạ, hoặc ký lục các trấn lần lượt lãnh giải; quan trấn nào không thể đi được thì ủy cho thư ký, cai án, tri bạ, câu kê thuộc trấn theo giải. Bắc Thành thì lấy thư ký, tri bạ hoặc cai trưng, đề lãnh của thành và trấn đều một người theo bang về Kinh. Các dinh trấn từ Quảng Bình trở về Nam tới Bình Thuận, hằng năm chở sản vật, về tiền thóc thì chờ bộ tư báo rồi sau mới chở, lấy Lưu thủ hay cai bạ lãnh giải. Tiền thóc và sản vật của hai trấn Thanh Nghệ thì không câu nệ hàng năm, phàm bộ có tư ra thì phải theo đúng số mà chở, thư ký, tri bạ, cai trưng, đề lãnh mỗi chức một người theo giải).

    4. Việc phụ giải. (Khi các thành dinh trấn đem tiền thóc sản vật phát chở thì lấy bạc lễ và thuế buôn thường năm chở kèm; thành Gia Định lại lấy thuế sản vật ở hai đạo Long Xuyên và Kiên Giang để chở kèm).

    Định lệ chi phát tiền lương cho quan viên ở Kinh và ở ngoài. (Phàm ban cấp lương tiền cho quan viên thì nguyệt bổng, ngoài ra còn gọi là nguyệt xướng. Bổng và xướng cấp hằng tháng và hết thảy số tiền lương phải chi, thì cuối tháng đều làm thành sổ. Bộ Hộ thì ngày 10 tháng sau, Quảng Trị thì ngày 12, Quảng Bình, Quảng Nam ngày 13, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Nghệ An, Thanh Hoa ngày 15, Bình Hòa, Bình Thuận, Bắc Thành ngày 20, Gia Định ngày 25, đều đúng hạn ấy đem sổ tâu lên. Quan viên được thăng trật thêm bổng, được sắc chỉ ngày mồng 10 về trước thì lấy tháng ấy làm đầu, từ ngày 11 trở về sau thì lấy tháng sau làm đầu, đều chiếu theo số lương, hay bãi chức bỏ lương, mà án xử trước ngày mồng 10 thì số nguyên bổng trót đã lãnh rồi, số lương bị giảm để tháng sau sẽ khấu trừ; số lương bị bỏ phải truy thu ngay tháng ấy; nếu từ ngày 11 trở về sau, thì tháng sau mới giảm hay bỏ lương).

    Định lệ tiền ân tuất cho người tôn thất. (Hạng nhất thân thuộc tang một năm, khi chết xin sắc chỉ; hạng nhì, thân thuộc tang 9 tháng, từ 18 tuổi trở lên cấp tiền tuất 100 quan, từ 17 đến 15 tuổi tiền tuất 70 quan, từ 14 đến 12 tuổi tiền tuất 50 quan, từ 11 đến 9 tuổi tiền tuất 30 quan; hạng ba, thân thuộc tang 5 tháng, từ 18 tuổi trở lên tiền tuất 50 quan, từ 17 đến 15 tuổi tiền tuất 30 quan, từ 14 đến 12 tuổi tiền tuất 20 quan, từ 11 đến 9 tuổi tiền tuất 10 quan; hạng tư, thân thuộc tang 3 tháng, từ 18 tuổi trở lên tiền tuất 20 quan, từ 17 đến 15 tuổi tiền tuất 14 quan, từ 14 tuổi đến 12 tuổi tiền tuất 10 quan, từ 11 đến 9 tuổi tiền tuất 6 quan; hạng năm, thân thuộc tang để lộ cánh tay và bỏ mũ, từ 18 tuổi trở lên tiền tuất 10 quan. Con gái tôn thất từ tang 3 tháng trở lên, còn ở nhà thì cấp tuất theo lệ thân thuộc bậc ấy, đã đi lấy chồng thì hạng nhất khi chết xin sắc chỉ, hạng nhì thì giáng theo hạng ba, hạng ba giáng theo hạng tư, hạng tư giáng theo hạng năm; nếu đã đi lấy chồng mà chồng chết không con thì vẫn theo hạng thân thuộc trước mà cấp đủ. Đều do quan quản lãnh Tôn nhân phủ xét rõ dòng họ, tư sang bộ chiếu số phát cho. Như người đã có quan chức mà theo lệ thân thuộc được tiền tuất nhiều, theo phẩm trật được tiền tuất ít, thì chiếu theo lệ thân thuộc mà cấp. Nếu theo lệ thân thuộc được tiền tuất ít mà theo lệ phẩm trật được nhiều, thì cấp theo phẩm trật. Đến như người dự có công lao được gia ơn đặc biệt thì không thuộc lệ này).

    Ban sắc thần cho trong ngoài. Trước vua thấy trong nước đã yên, theo lẽ phải nên thăng trật cho bách thần, sai bộ Lễ nghị tâu. Đến khi tâu lên thì có những đế vương hậu phi các triều trước ở điển thờ cũng bàn tăng, vua nói: “Đế vương các đời trước có công đức với dân, tuy triều đại đã đổi thay mà danh vị đã định, nay nếu lại tăng thì chẳng là nhảm sao? Vậy gửi sắc chỉ khiến xã dân cứ phụng thờ như cũ. Duy những các thần thượng trung hạ đẳng thì đều theo lời nghị gia tặng, ban cấp cho”.

    Cấp cho Tổng nhung cai cơ Nguyễn Tiến Khương 3 người mộ phu. (Tiến Khương có công Vọng Các, chết trận năm Canh tuất).

    Bớt lính thú ở Thanh Bình. Trước kia Thanh Bình có việc, sai Thanh Hoa đem 200 quan quân ra thú ở đấy, mỗi tháng một lần thay đổi. Tới nay việc bắt giải đã ít đi, bèn bớt đi một nửa.

    Tháng 9, ngày Quý sửu, dựng Quang Minh đường và Trinh Minh đường.

    Sửa đồ thờ ở Nguyên miếu.

    Truy tặng Thống binh cai cơ Tôn Thất Mân làm Chưởng cơ (Trước Mân theo xa giá vào Nam, đến khi vâng mệnh đi gọi binh sáu đạo ở Quảng Ngãi, đánh nhau với giặc bị chết).

    Lấy Tống Phước Thuận làm Phó vệ úy vệ Định võ quân Thần sách.

    Dựng kho ở các dinh Quảng Bình và Quảng Trị.

    Hạ lệnh cho sách Man hai nguồn Đồng Hương và Đồng Nãi thuộc Bình Hòa lại nộp thuế sáp ong như lệ (mỗi năm nộp sáp ong 2.708 cân 10 lạng).

    Chiêu viên là Lê thị (con gái út của vua Lê Hiển Tông) mất, tặng Đức phi, an táng ở Trúc Lâm, lập từ đường ở Kim Long. Thưởng cho binh dân 600 quan tiền.

    Lấy Lưu thủ Quảng Trị là Nguyễn Văn Thiện làm Trấn thủ Hà Tiên, Ký lục Nguyễn Đức Hội làm Hiệp trấn, Tham luận Dương Văn Châu làm Tham hiệp; lại lấy hai đạo Long Xuyên và Kiên Giang lệ vào Hà Tiên. (Từ sau khi Mạc Thiên Tứ thất thủ, Công Bính và Tử Thiêm tuy nối chức trấn, mà hai đạo lại đặt quan khác nhau để cai quản, tô thuế nộp theo Vĩnh Thanh, đến nay lại lệ vào Hà Tiên). Đặt tả hữu thừa ty 20 người, chiêm hậu ty 3 người. Sai thành thần Gia Định điều 200 lính cơ thuộc bốn trấn Phiên An, Biên Hòa, Vĩnh Thanh, Định Tường và 6 chiến thuyền đến thú, 6 tháng đổi một lần. Lại lấy ở thành phát cho 1.000 đồng bạc phiên, 300 phương gạo và 500 quan tiền đem chứa đấy.

    Vua lại thấy địa giới Hà Tiên ở biên cương xa xôi mà quân lại mới đặt, mọi việc chưa định, sắc từ nay có việc gì nên tâu thì làm ba bản sớ, một bản chính và hai bản phó, một bản phó lưu chiếu ở thành.

    Định lệ bổng các quan trấn Hà Tiên. (Nguyệt bổng cũng như Trấn thủ và Hiệp trấn ở các trấn Bắc Thành, tiền 10 quan, gạo 10 phương, Tham hiệp thì tiền 8 quan gạo 8 phương).

    Quốc vương Chân Lạp là Nặc Chăn sai Ốc Nha là Ma A Mân Si đưa thư đến Gia Định nói: năm trước sai em là Nặc Nguyên, Nặc Yêm, Nặc Đôn cùng ốc Nha là bọn Cao La Hâm Mang Trà Tri Biện sang Xiêm, đến nay Xiêm sai Uất Vô Thi đưa bọn Nguyên về, khiến chia đất Chân Lạp cho Nguyên làm vua thứ hai, Đôn làm vua thứ ba, lại đòi 1 vạn binh để đánh Diến Điện, Chăn ngờ Cao La Hâm Mang Trà Tri Biện thông mưu với nước Xiêm, có ý làm phản, bèn giết đi. Thành thần dâng thư ấy lên. Vua sai vời sứ giả đến Kinh. Khi đến, cho vào yết kiến, vua hỏi rằng: “Nước ngươi là nước nhỏ, vậy mà cùng với nước Xiêm gây hiềm khích, nếu Xiêm đem quân đánh thì nước ngươi lấy gì mà chống?”. Sứ giả thưa rằng: “Nước tôi xin đem hết số quân nhỏ để chống quân Xiêm, nếu không đủ, thì xin nhờ uy linh của triều đình”. Vua thong thả yên ủi vỗ về, ban cho bạc tiền y phục rồi cho về. Nhân đấy cùng bầy tôi bàn chước xử trí. Mọi người cho rằng: Nặc Chăn đưa thư đến nói Xiêm trưng binh mà không nói binh đi đường nào, nói Xiêm bảo chia cho các em làm vua mà không nói có theo lệnh hay không, thực hay dối chưa có thể biết được! Nhưng bọn Cao La Hâm Mang Trà Tri Biện đều là do người Xiêm phong cho làm phụ thần nước Chân Lạp mà Chăn giết đi, chưa chắc đã giữ được không xảy ra việc. Gia Định cùng Nam Vang tiếp giáp nhau, không thể không dự bị đề phòng.

    Vua cho là phải, tức thì xuống lệnh cho các trấn đạo ở Gia Định đều lập hương binh. Chiếu dụ rằng: “Từ khi quân nổi về sau, hằng năm trưng phát, địa phương các ngươi theo việc quân khó nhọc lâu rồi. Đến khi thiên hạ yên định, triều đình thương vì nhọc mệt nhiều, nên cho về với dân cùng vui vẻ nghỉ ngơi. Duy trong khi nước nhà không có việc, cũng nên lo nghĩ mà đề phòng. Huống nay Chân Lạp với Xiêm La hiềm khích nhau, thì việc võ bị ở nơi biên cương không thể thiếu được. Nếu lại điều động binh ở nơi khác đến thì không quen phong thổ, quyết không bằng dân thổ trước các ngươi biết rõ tình thế biên cương hoãn cấp thế nào mới có thể sai được. Vậy hạ lệnh số dân các phủ huyện tổng xã thôn phường cùng số dân đồn điền, biệt nạp, đều lấy một nửa lập làm hương binh, biên thành đội ngũ, có việc thì làm lính, không việc thì làm ruộng. Đó là thượng sách để cùng nhau giữ gìn yên ổn”. Lại sai thành thần chế áo trận, sửa khí giới, luyện thuốc đạn, chứa gạo lương, để phòng bị dụng binh.

    Thuyền dân bị nạn người Thanh là Trịnh Thiên Thịnh dạt vào phần biển Yên Quảng. Thành thần tâu lên. Sai đưa về Khâm Châu.

    Hạ lệnh cho các kho ở Bắc Thành cùng các trấn Sơn Nam thượng hạ cùng bảo Nông Giang, thu thóc tô năm nay thì xay ra gạo 70 vạn phương nộp về Kinh. Những số thuế còn thiếu năm trước cho dân nộp thay bằng tiền (một hộc thóc 1 quan tiền).

    Định lệ cống thuế cho các sách các động châu Quy Hợp ở Nghệ An. Ba động Mông Sơn, Yên Sơn và Thâm Nguyên, 3 năm một lần cống (lấy năm sửu, thìn, mùi, tuất làm kỳ cống. Vật cống: voi đực 1 thớt, ngà voi 2 chiếc, sừng tê 2 tòa, sáp ong 5 khối, vải thổ 4 tấm, nộp ở Nghệ An); động Động Dịch và sáu sách Vụ Quang, Trú Cẩm, Chúc A, Phù Lưu, Thanh Lãng, Minh Nông, thường năm nộp thuế (Tiền và sáp ong mật ong), cũng như lệ các động ở châu Trà Lân. Lại lấy 50 người thổ binh lưu giữ châu Quy Hợp.

    Lấy Phó vệ úy vệ Hổ uy là Nguyễn Văn Tạo làm Vệ úy vệ Tuyển phong hữu, Phó vệ úy vệ Thuận võ là Võ Văn Toán làm Vệ úy vệ Túc võ.

    Lấy Chưởng cơ Tống Văn Khương hành chức Thủ ngự đạo Cam Lộ, Cai cơ Trần Văn Huyên làm Thủ ngự cửa Eo, Trần Văn Quý làm Thủ ngự cửa Nhật Lệ.

    Tướng giặc ở Thái Nguyên là Dương Đình Cúc ra vào ở nơi rừng rậm, hoành hành cướp bóc. Trấn thủ Nguyễn Đình Tuyển đuổi bắt rất gấp. Cúc lập mưu hoãn binh, bèn sai anh là Tự đến cửa quân đầu hàng. Đình Tuyển tin lời, đóng binh ở Na Miệt, muốn chiêu dụ Cúc. Ngay đêm hôm ấy, Tự trốn đi, bị quân đi tuần đâm chết. Đình Tuyển bèn lùa quân đi tìm cùng núi thì Cúc đã trốn xa, bắt được đồ đảng hơn mười người đem về.

    Lấy Vệ úy vệ Chấn bảo là Đào Quang Lý làm Trấn thủ Phiên An.

    Nguyễn Văn Thành dâng biểu xin nghỉ đến hết tang. Vua không cho, dụ rằng: “Khanh là đại thần của nước, việc hiếu đã xong, nên lấy nước làm gấp, làm việc công quên việc riêng, đấy cũng là đạo lấy hiếu làm trung”. Thành lạy xin vâng mệnh, bèn lại đi coi việc.

    Mùa đông, tháng 10, ngày mồng 1, tế đông hưởng.

    Triệu Trấn thủ Kinh Bắc là Lưu Phước Tường, Hiệp trấn là Phan Tiến Thiện, Trấn thủ Lạng Sơn là Nguyễn Văn Thụy về Kinh. Lấy Trấn thủ Thái Nguyên là Nguyễn Đình Tuyển làm Trấn thủ Kinh Bắc, Phó thống Tả đồn Trung quân là Nguyễn Văn Trị làm Trấn thủ Lạng Sơn, Chánh quản thập cơ quân Thần võ là Trần Văn Thìn làm Trấn thủ Thái Nguyên, Hiệp trấn Sơn Nam hạ là Nguyễn Duy Hòa làm Hiệp trấn Kinh Bắc, Thiêm sự Hộ bộ là Nguyễn Công Tiệp làm Hiệp trấn Sơn Nam hạ.

    Tướng giặc ở Kinh Bắc là tên Liễn lại họp đảng hơn 200 người, cướp bóc dân xã Ngọc Nham. Tri huyện Yên Thế là Hoàng Phước Đạt đem dân phu đuổi bắt, chém được tên Liễn và 7 người đồ đảng. Việc tâu lên. Cho Phước Đạt làm Tri phủ, ban cho mũ áo lục phẩm.
    :rose: