074. Trang [0802-0813] - @Ca Dao (Đã xong)

11/11/15
074. Trang [0802-0813] - @Ca Dao (Đã xong)
  • Thuộc hạ là Đặng Đình Xuân, Đặng Đình Kim, đều cho làm Đội trưởng, thưởng chung cho 500 quan tiền. Xã dân người bị giặc giết thì cấp mỗi người 5 quan tiền.

    Cấp mộ phu cho Giám quân Nguyễn Hữu Thụy. Hữu Thụy chết vì việc nước, vua thương không con nối dòng, nên tha thuế thân cho cháu gọi chú bác là Đức Ý (là con Lưu thủ Nguyễn Đức Hựu) để giữ việc thờ cúng, sai mộ 5 người dân ngoại tịch làm mộ phu.

    Lại lấy Nguyễn Cửu An làm Lưu thủ Quảng Trị.

    Sai bọn Đô thống chế Lê Văn Phong, Phó đô thống chế Nguyễn Văn Trí, Chưởng cơ Nguyễn Văn Giám đem quân đi tuần ở biên giới.

    Chiếu báo cho thành thần Gia Định là Nguyễn Văn Nhân rằng: “Nước Chân Lạp đời đời làm thần thuộc nước ta, liệt ở chức phương(1. Chức phương: Tên quan nhà Chu, giữ địa đồ trong nước và việc phú cống của bốn phương.1), không bỏ lễ phiên thần. Nay thế nước suy yếu, lại cùng nước Xiêm có hiềm khích, sợ khó tự giữ yên, cho nên sai bọn Phong đi tuần biên giới để giúp tiếng. Người nên chỉnh bị thuyền đi biển 15 chiếc, thuyền chiến 30 chiếc, biền binh hơn 2.000 người, chia làm ba đạo, sai Trí lãnh tiền đạo, Phong lãnh trung đạo, Giám lãnh hậu đạo, đến thẳng Tân Châu đóng giữ. Lại sai Ký lục Định Tường là Bùi Đức Mân và Quản trấn binh là Nguyễn Văn Tồn Quản lãnh binh hai phủ Trà Vinh và Mân Thít đi theo. Nếu Chân Lạp có nguy cấp thì tiến quân ngay đến La Bích để giúp. Người Xiêm biết quân ta đến trước hẳn không dám làm gì, Chân Lạp có thể giữ được vô sự”.

    Dời bảo thủy quân Bắc Thành đến Vị Hoàng (trước ở Nông Giang), vẫn sai Nguyễn Văn Hạnh quản lãnh.

    Quảng Đức có giặc. Dinh thần bắt được đồ đảng hơn 10 người. Sai tra xét ngay ngày ấy. Hữu ty nói ngày ấy là ngày cảnh mệnh(1) (ngày ngọ). Vua nói: “Cùng một ngày Giáp tý mà có người hưng, có người vong(2), người xưa đã phân biệt rồi. Ta trước đánh với giặc Tây Sơn, lấy ngày ngọ ra quân, đã thắng lớn. Việc binh là việc hình rất lớn, việc binh còn không kiêng, huống chi việc hình! Từ nay có án nặng cần tra xét, nếu gặp ngày cảnh mệnh hằng năm đều không cấm”.

    (1) Cảnh mệnh: Mệnh lớn.

    (2) Một ngày Giáp tý mà nhà Chu nổi lên, vua Trụ nhà Thương thì mất đi.

    Vua cùng bầy tôi bàn về đạo trị nước, bảo Nguyễn Văn Thành, Trần Văn Trạc rằng: “Triều đình đặt quan, cốt là được người, đường làm quan trong sạch thì triều chính được nghiêm. Bọn khanh nên xem xét quan lại, nêu rõ điển truất bỏ cất lên, người có công thì thưởng, người có tội thì phạt, nhưng có công mà còn ngờ thì nên xem là trọng, có tội mà còn ngờ thì nên xem là nhẹ, để tỏ ý trẫm ưa người lành nhiều mà ghét kẻ dữ ít”.

    Nguyễn Văn Thành dâng phong thư kín nói bốn điều: Điều thứ nhất nói rằng theo lệ thuộc lại các địa phương thì mộ dân ngoại tịch mà sung bổ, nhiều người không căn cước nên hay bỏ trốn, xin từ nay có khuyết thì không câu nệ nội tịch hay ngoại tịch, chọn ai có gia sản thì sung bổ. Điều thứ hai nói rằng Bắc Thành có mỏ Tụ Long là hơn hết, xin lại hạ lệnh cho khai, để cho nguồn lợi không úng tắc, quốc dụng được dồi dào, đó cũng là một cách sinh tài. Điều thứ ba nói rằng lệ thuế cửa ải và bến đò, đã có định ngạch, gần đây nghe sở tại nhiều nơi đánh thuế quá bừa, xin định rõ điều cấm, đừng làm khổ người buôn. Điều thứ tư nói rằng năm nội trấn Bắc Thành đã thay đổi sổ thường hành rồi sáu ngoại trấn và Thanh Nghệ vẫn còn chưa đổi, xin cũng nhất luật sửa lại. Sớ tâu vào, vua sai châm chước bàn làm. Rồi sai Tuyên úy đại sứ Ma Sĩ Trạch lại khai mỏ đồng ở Tụ Long, theo lệ thu thuế. Lại sai bàn định vật giá trên thị trường, chép làm điều lệ, ban gửi cho các sở cửa ải và bến đò, khiến tuần ty chiếu hàng hóa mà lượng đánh thuế, không được lấy quá.

    Lấy Trần Hựu làm Đông các học sĩ, Phạm Minh Tuấn sung Hàn lâm viện, đều do Nguyễn Văn Thành tiến cử.

    Lấy Vệ úy Thịnh võ là Nguyễn Văn Quang làm Quản cơ cơ Tiền kiên ở Quảng Ngãi.

    Biền binh thuộc Tiền quân thú ở Bắc Thành có hơn 2.900 người. Nguyễn Văn Thành xin lập phép đổi thú, để cho ra vào mệt nhọc đều nhau. Vua y cho. Bèn sai Chánh thống Hậu đồn là Lê Văn Lý quản hơn 1.590 người ở lại đóng thú, Chánh thống Trung đồn là Phạm Văn Quỳnh đem 1.350 người về Kinh.

    Định lệ cày và nộp thuế về ruộng đất ẩn lậu. Phàm ruộng đất có cày cấy mà không nộp thuế, đều ghi sổ bắt đầu thu thuế từ năm phát giác. Lại theo ẩn lậu từ 1, 2, 3 năm mà truy thu tô thuế, nhiều đến 4, 5 năm trở lên, cũng chỉ lấy 3 năm làm hạn. Còn ruộng đất ẩn lậu thì cho ai trưng trước là được. Nếu không có người trưng thì ruộng đất tư cấp cho chủ, ruộng đất công trở về dân, đều cho cày và nộp thuế như lệ.

    Lấy Tôn Thất Tứ làm Cai đội hành quản phủ Hà Trung, kiêm giữ Nguyên miếu.

    Đốc học Thanh Hoa là Phan Bảo Đĩnh ốm phải nghỉ việc.

    Tháng 11, hạ lệnh cho từ Quảng Bình trở về Nam đến Bình Hòa làm địa bạ. Chiếu rằng: “Chính sự tốt trước hết là từ cương giới. Triều trước kinh lý việc dân, ruộng đất có sổ, cương giới rõ ràng. Từ khi biến cách về sau, sổ sách tản mất, đầu thời trung hưng chưa kịp sửa chữa. Gián hoặc có người xin trưng và tranh kiện, thì phần nhiều mờ mịt, không do đâu mà quyết định được. Vậy hạ lệnh cho các dinh trấn báo khắp cho xã dân, đều cứ theo số ruộng đất công tư, thực trưng và bỏ hoang, ghi rõ mẫu sào, đẳng hạng, xứ sở, bốn bên, hạn trong 3 tháng làm xong sổ dâng lên. Quan sở tại phải nghiêm cấm nha lại, không được tạ sự quấy nhiễu”.

    Định lệ lễ ở Nguyên miếu. (Lễ Nguyên đán chi tiền 43 quan, các lễ Đoan dương, tế Chạp, Trừ tịch đều chi tiền 34 quan, lễ Xuân hưởng và Thu hưởng đều chi 107 quan).

    Sai bang trưởng Quảng Đông là Hà Đạt Hòa thuê 3 người thợ làm ngói ở Quảng Đông, khiến nung ngói lưu ly các sắc xanh vàng lục ở Khố Thượng (nay là gò Long Thọ), để cho công tượng học chế đúng theo như kiểu, xong rồi hậu thưởng cho về.

    Bọn ác man ở Quảng Ngãi lẻn xuống Đồng Quán cướp bảo Giang Ngạn. Thủ ngự là Lê Văn Hội đem hết quân ra chống cự, bị chết. Quân Man lại lan xuống Bồ Đề (tên thôn, thuộc huyện Chương Nghĩa), giết cướp dân Hán [Việt], Phan Tiến Hoàng chia quân đuổi bắt, không được, đem việc tâu lên. Vua sai đình thần truyền dụ khiển trách rằng: “Trước kia Lê Văn Duyệt ở đấy người Man không dám phạm tới, là vì có phòng bị. Nay trong khoảng tuần nhật mà quân Man hai lần phạm vào bờ cõi, thế chẳng phải vì phòng ngự sơ sài sao? Từ nay nên gia ý nghiêm phòng, đừng để cho chúng nhân sơ hở làm hại dân ta”.

    Lấy Cai cơ Trịnh Công Lân làm Thủ ngự cửa Hải Vân.

    Đóng thuyền lê. Thưởng cho lính và thợ 2.800 quan tiền.

    Sai Nguyễn Văn Nhân đi kinh lược Nam Vang; lấy Trương Tấn Bửu tạm coi việc ấn tống trấn Gia Định. Trước kia vua nước Chân Lạp là Nặc Chăn đã giết Cao La Hâm Mang Trà Tri Biện, bè đảng nó là Đê Đô Minh giữ đất Bông Xuy và A Phi Phù Biệt Biện đóng đồn ở Bắc Tầm Bôn để làm phản. Nước Xiêm sai tướng là bọn Phi Mã Long Mang và Phi Nhã Na Trật đem trọng binh đến giúp. Chăn cả sợ, sai người đi cầu viện. Vua cùng bầy tôi bàn rằng: “Đê Đô Minh vốn là tôi con của Nặc Chăn, nay trong lòng ngờ sợ, chiếm ấp tự giữ, nên bảo rõ điều họa phúc để gọi lại. Bắc Tầm Bôn là đất của Chân Lạp, không nên để người Xiêm chiếm lấy. Nhưng việc quân khó ở xa mà tính được, không gì bằng sai một đại tướng đem quân tới đó, tùy cơ mà làm, đấy là kế sách vạn toàn”. Bèn sai Văn Nhân đi. Dụ rằng: “Việc nước Chân Lạp ủy thác cả cho khanh. Các tướng từ Lê Văn Phong trở xuống, đều do khanh điều khiển, khanh nên cấm ngăn tướng sĩ, vỗ về dân ngoại biên, khiến cho họ biết uy đức của Triều đình”.

    Nhân ban sáu điều cấm lệnh: (1. Phàm tình hình ngoài biên, việc lớn thì cho đại tướng thân đi chỉ bảo, việc thường thì chỉ sai truyền báo. Còn các tướng nhỏ không được tiếp kiến vua Phiên, cũng không được cùng quan Phiên đi lại riêng. 2. Những lợi cá ở các sông đầm Chân Lạp quan quân không được mưu cầu đổi chác để đòi giá rẻ. 3. Thuyền đi việc công không được chở hàng hóa riêng, cũng không được kèm thêm thuyền buôn để mưu lợi. 4. Quan quân đóng thì dinh trại không được tự tiện vào nhà dân mà hống hách quấy rối. 5. Khi quan quân đi, không được dẫn theo dân Hán [Việt] trà trộn vào chợ phố ở Chân Lạp để rồi nói bậy về việc quân. 6. Quân nhu lương xướng đã có ở thành vận tải cung cấp, nếu nước Chân Lạp có tặng biếu cung ứng thì không được nhận bừa).

    Đổi đồn Xiêm binh làm đồn Uy viễn.

    Quan Bắc Thành tâu nói: “Bốn trấn Sơn Nam thượng, hạ, Hải Dương, Kinh Bắc, vì giặc giã năm Mậu thìn bị tàn phá đến 358 xã thôn, thuế nhà nước còn thiếu nhiều. Xin lượng giảm cho dân đỡ khổ”. Vua hạ lệnh tha thuế thiếu năm nay, còn thuế từ năm Đinh mão trở về trước thì hoãn đừng thu.

    Cấp lương điền cho binh đội Bả lệnh Thị nội, cũng như lệ các đội Thị nội.

    Tháng 12, triệu Phạm Như Đăng về Kinh, đổi bổ Thượng thư Lễ bộ. Dụ rằng: “Đức thanh liêm và cẩn thận của ngươi, trẫm đã biết rõ, nên nghĩ sao cho kịp tới các quan, noi giữ phép thường, để xứng với việc ủy thác”.

    Đổi chức Lưu thủ các trấn từ Quảng Ngãi về Nam làm Trấn thủ.

    Trưởng châu châu Quỳnh Nhai trấn Hưng Hóa là Đèo Chính Kiểu và Phó châu là Đèo Chính Tuyên vì thiếu thuế nhà nước, đem bán dân cho châu Chiêu Tấn, thổ mục là Đèo Quốc Quỳ lấy số tiền bạc ấy đem nộp; lại cử con Quốc Quỳ là Quốc Hùng làm trưởng châu và xin với trấn thần, trấn thần y cho. Đến nay việc phát giác. Hạ lệnh đem dân ấy trả về châu Quỳnh Nhai, cho người trong châu là Đèo Chính Ban làm Trưởng châu, Đèo Chính Bằng làm Phó châu, thế tập việc châu. Kiểu và Tuyên đều bị 70 roi, đuổi về dân. Trấn thủ là Nguyễn Văn Kiên, Tham hiệp là Vũ Xuân Cẩn đều bị bãi chức.

    Triệu Hiệp trấn Nghệ An là Ngô Đình Siêu về Kinh. Đình Siêu đã đi rồi, Chưởng cơ quản vệ Kiên uy là Nguyễn Văn Mỹ hiệp hiềm xui quân dân kiện về những tệ riêng. Trần Văn Lại và Lưu Văn Vượng đem việc tâu lên. Vua giao xuống bộ Hình xét hỏi. Đình Siêu vì đổi tiền kho Hà Trung bị bãi chức. Văn Mỹ vì xui giục thêu dệt để kiện vu bị giáng làm Cai cơ. Công Lại và Văn Vượng khinh suất tâu lên đều xử phạt.

    Bọn Nguyễn Văn Chấn quản tàu Phượng Phi, Lê Văn Lăng quản tàu Bằng Phi, tâu xin đem thuộc binh đã mộ lập làm hai đội Chiến sai Hùng sai, lệ theo sai phái. Vua y cho.

    Người Thanh đưa bọn giặc trốn là Lê Du, An Ôn Bích đến Bắc Thành. Trước kia bọn Du tụ họp côn đồ cùng bọn giặc biển là Trương Bảo Tử, Trịnh Nhất Tảo họp đảng đi cướp ở ngoài biển, bị quan quân đánh bắt, thế cùng bèn sang nước Thanh. Tổng đốc Lưỡng Quảng nước Thanh sai đưa trả về. Nhưng bọn Du thác cớ xin ở lại; bèn cho ở kho Đại Hữu trong thành Quảng Đông. Người buôn Thanh là Trương Tiến Thắng biết rõ tình trạng, báo cho Bắc Thành. Thành thần đem việc tâu lên, vua bảo bầy tôi rằng: “Bọn Dụ tự biết tội ác không thể dung được nên không dám về”. Sai thành thần đưa thư cho Tổng đốc Lưỡng Quảng khiến đuổi về, không thì quản thúc nghiêm nhặt, chớ để sinh việc. Đến nay người Thanh đóng gông đưa bọn Du hơn 30 người về Bắc Thành, bèn đem giết hết.

    Quân của Nguyễn Văn Nhân đến La Bích. Nặc Chăn đến đón, xin quan quân tiến đánh lấy Bắc Tầm Bôn. Văn Nhân bảo Chăn đem quân trong nước đi trước. Chăn từ chối, nói không có quân, Văn Nhân đem tình trạng tâu lên. Chiếu bảo rằng: “Mới rồi sai khanh đem quân đi giúp tiếng cho Nặc Chăn, vốn muốn giúp ngầm thôi. Nay Nặc Chăn lại không thể tự cường, việc gì cũng đùn đẩy, nhưng quân của Trung Quốc có phải là đồ dùng để báo oán cho người Di Địch đâu! Nên đóng quân chớ hành động, thong thả xem tình thế, cẩn thận chớ nên sơ suất phát binh”.

    Lại chiêu dụ bọn vua Phiên và quan Phiên rằng: “Vừa đây vì vua Phiên mới lập, trong nước bất hòa, cho nên Triều đình sai tướng đến bảo hộ. Nay nghe nước Phiên binh bị yếu ớt, chỉ chuyên nhờ quan quân, khi quan quân rút về thì lấy gì mà chống giặc ngoài? Chi bằng nên hiệu triệu binh Phiên, thu dụng các quan thuộc Phiên, để lúc không việc thì phòng giữ tự vệ, lúc có việc thì chống giặc đánh thù, thế mới thực là mưu hay giữ nước. Quan Phiên các ngươi là tôi con của vua Phiên, đương lúc có việc, cũng nên cùng lòng hợp sức để giữ lấy nước; nếu không thế, nước Phiên không yên thì bọn ngươi có ở yên được không? Các việc lành dữ họa phúc lý thế rõ ràng. Vậy nên cùng nhau hết lòng với phận sự, để trên dưới cùng yên, không phụ ý của trẫm yêu kẻ nhỏ mọn, thương người cô đơn”.

    Sai Trần Văn Năng đi Gia Định, theo Nguyễn Văn Nhân làm việc quân. Các quân Thị trung, Thị nội, Thần sách trước về quê nghỉ, ai muốn xin theo lập công, thì cho quản lãnh để đến quân. Rồi sai đặt làm ba vệ Bảo thành.

    Triệu Lưu thủ Vĩnh Thanh là Nguyễn Huy, Lưu thủ Định Tường là Nguyễn Văn Hưng về Kinh. Lấy Lưu Phúc Tường làm Trấn thủ Vĩnh Thanh, Nguyễn Văn Thụy làm Trấn thủ Định Tường, sai cùng Mạc Văn Tô quản lãnh 1.200 người hương binh, tiến đến quân thứ La Bích, lệ theo Nguyễn Văn Nhân điều khiển.

    Vua thấy Hà Tiên ở về biên giới phía đông, có quan hệ tin tức với việc động tĩnh ở biên khổn, nên sắc rằng phàm có thuyền buôn nước ngoài đến buôn, thì nên hỏi thăm sự thể người Xiêm thế nào để tâu lên.

    Trấn thủ Nghệ An là Trần Công Lại xin nghỉ về quê. Vua y cho. Cho Lưu thủ Quảng Đức là Hoàng Viết Toản làm Đô thống chế lãnh trấn thủ Nghệ An, Cai cơ Tôn Thất Huyên làm Lưu thủ Quảng Đức.

    Lấy Đoàn Văn Trường làm Vệ úy vệ Toản võ, Lê Trọng Giảng làm Vệ úy vệ Tuyển phong tả, Đỗ Quý làm Phó vệ úy vệ Trung nhị Thị trung, Lê Phúc Bảo làm Phó vệ úy vệ Hậu nhị, Trương An Sĩ là Phó vệ úy vệ Tiền nhị, Trần Văn Bính làm Phó vệ úy vệ Trung võ, Nguyễn Văn Dũ làm Phó vệ úy vệ Phấn võ, Nguyễn Hữu Khâm làm Phó vệ úy vệ Kiên uy, Lại Thế Nguyên làm Phó vệ úy vệ Phấn dực, Nguyễn Đức Triệu làm Quản cơ cơ Tả thủy, Lê Văn Tứ làm Phó quản cơ cơ Hậu thủy.

    Nghệ An bị hạn. Hạ lệnh hoãn các việc kiện vặt để dân chuyên việc làm ruộng. Trời liền mưa.

    Phục chức cho Trần Văn Phương làm Phó đô thống chế Hậu dinh quân Thần sách (Văn Phương trước nhân có lỗi giáng làm Cai cơ, đến nay được khởi phục).

    Khai mỏ kẽm ở xã Yên Lãng trấn Hải Dương. Vua thấy kẽm có quan hệ đến việc quốc dụng, sắc cho quan Bắc Thành có ai xin khai mỏ ấy thì đem tâu lên. Hiệp trấn Hải Dương là Nguyễn Trí Hòa tự xin mộ hóa phu(1) để khai mỏ, hằng năm nộp thuế kẽm (mỗi lò 720 cân). Thành thần tâu lên. Vua y cho.

    (1) Hóa phu: Người phu bỏ vốn ra mà làm khoán.

    Ngày Quý tỵ, vua yết lăng.

    Ngày Giáp ngọ, tế Chạp.

    Nguyễn Văn Nhân đóng quân ở La Bích. Tướng Xiêm là Phi Nhã Long Mang ở Bắc Tầm Bồn sợ không dám động quân, người đưa thư đến Nặc Chăn nói: “Trước đây vì Diến Điện xâm lấn cho nên đòi binh viện trợ. Nay Diến Điện đã lui nên bãi việc đòi binh”. Văn Nhân đem việc tâu lên. Vua sai đưa thư cho nước Xiêm trách rằng: “Cao La Hâm Mang Trà Tri Biện tuy được nước Xiêm phong, nhưng bọn ấy có lòng bội nghịch, Nặc Chăn giết đi cũng không phải là quá. Vua Xiêm lấy cớ ấy mà động binh là danh nghĩa gì? Ta sở dĩ sai tướng đến bảo hộ, không phải lợi vì đất đai, chỉ là vì nghĩa cứu tai thương nạn, vương nên nghĩ kỹ xem”. Vua Xiêm được thư, ngầm rút quân về.

    Chiếu cho Nguyễn Văn Nhân rút quân về. Nặc Chăn lấy cớ nước mới yên định, tình dân chưa yên, xin lưu quân lại bảo vệ. Bèn sai Nguyễn Văn Tồn đem 1000 binh đồn Uy viễn đóng thú ở đấy.

    Định lại điều lệ thuyền vận tải; 1. Các dinh trấn, mỗi năm đến tháng 10 phải làm sổ thuyền để tâu, gồm ba bản, bản giáp lưu ở bộ Hộ, bản ất gởi cho quan cai Trường đà, bản bính gửi cho địa phương lưu chiếu. 2. Các hạng thuyền ghe lệ nộp tiền thuế thay chở, mỗi năm đến tháng 2 thì xong. Thuyền nào mục nát, hoặc chìm đắm thì biên vào sau sổ, cho miễn thuế. Thuyền nào mới đóng thì chiếu phát bài thuyền, rồi thu tiền thuế thay chở năm nay. Như chủ thuyền ở hạt khác thì do sở tại chiếu thu, và cấp giấy cho về hạt mình mà lãnh bài thuyền. 3. Nhân viên các nha có đóng các hạng thuyền thì bài thuyền ở Kinh do dinh Quảng Đức cấp phát, ở ngoài do các dinh trấn cấp phát.

    Lấy Tri phủ Kiến Xương là Lê Văn Nguyên làm Tham hiệp Hưng Hóa.

    Sai Gia Định mua 700 cân trần hoàng ở Chân Lạp. Vua Phiên không chịu nhận tiền giá. Thành tâu lên. Vua nói: “Trần hoàng không phải không là thứ chính cung của Chân Lạp”. Sai phát cho 350 đồng bạc Phiên để trả.

    Sai Phó tướng Nguyễn Văn Hiếu kiêm lãnh Đê chính Bắc Thành.

    Lấy Tôn Thất Thuận làm phó đội coi binh đội Thủ lăng.

    CHÍNH BIÊN

    ĐỆ NHẤT KỶ - QUYỂN XLII

    THỰC LỤC VỀ THẾ TỔ CAO HOÀNG ĐẾ

    Tân mùi, Gia Long năm thứ 10 [1811] (Thanh - Gia Khánh năm thứ 16), mùa xuân, tháng giêng, ngày Nhâm ngọ, tế xuân hưởng.

    Tiết Vạn Thọ. Trước một ngày cho bầy tôi ăn yến ở điện Cần Chánh. Đến ngày, vua ngự ở điện Thái Hòa; bầy tôi dâng biểu mừng. Lễ xong, sai đội Du Xuân tấu ca nhạc ở nhà Thanh Phong, mặt trời xế bóng mới thôi. Trước đây các văn võ đại thần tâu nói: “Năm nay Hoàng thượng ta tuổi thọ ngũ tuần, xin làm lễ đại khánh”. Vua không cho, chỉ sai làm lễ như năm thường thôi.

    Lấy Hữu tham tri Binh bộ là Ngô Nhân Tĩnh lãnh Hiệp trấn Nghệ An. Nhân Tĩnh đến trấn, tâu nói dân hạt đói kém, còn thiếu tô thuế tiền thóc kể tới 10 vạn. Vua dụ rằng: “Nhà nước để của ở dân, thì ở dân cũng như ở nhà nước, có cần gì. Đợi sang năm được mùa sẽ thu”.

    Vệ úy vệ Trung võ là Nguyễn Văn Như giữ bảo Tiên Lý. Ban đêm bảo bốc cháy, cháy lan tới kho thóc mất hơn 9.000 hộc. Trần thần Nghệ An tịch biên nhà Văn Như, đem việc tâu lên, xin giao xuống cho Lại bộ xét. Vua không nỡ bắt tội, chỉ cách chức quan. Gia sản đã tịch thu đều trả lại hết. Những quân và lại coi giữ cũng đánh trượng rồi tha.

    Sai đình thần soạn định luật lệ, lấy Nguyễn Văn Thành sung chức Tổng tài. Dụ rằng: “Các bực đế vương trị nước, hình pháp đặt ra đã lâu. Hình pháp không đúng thì dân không chỗ mà nắm. Nay luật lệ chưa định, pháp ty không theo vào đâu được, thực không phải ý “Khâm tuất minh doãn”(1) của trẫm. Bọn khanh nên hết lòng khảo xét những pháp lệnh điển lệ của triều, tham hợp với điều luật đời Hồng Đức và nước Đại Thanh, lấy bỏ cân nhắc mà làm thành sách. Trẫm sẽ tự sửa chữa cho đúng để ban hành”.

    (1) Khâm tuất minh doãn: Kính cẩn, thương xót, sáng suốt, tin đúng.

    Chuẩn định từ nay trở đi phàm dân sở tại và người Thanh ngụ ở các địa phương, có ai đóng thuyền từ 7 thước trở lên, 17 thước 9 tấc trở xuống, thì một năm phải chở, một năm đi buôn. Đương đi chở mà xin đi buôn thì thu tiền thuế cảng. Sau vì dân nhiều người xin đi buôn, thuyền vận tải ngày ít đi nên bãi lệ ấy.

    Lấy Chánh quản cơ Trung kích Tượng quân là Đoàn Đức Luận làm Trấn thủ Hưng Hóa.

    Nguyễn Văn Nhân đem quân về Gia Định, vì ốm xin nghỉ việc thành hai tháng. Vua y cho. Bãi hương binh Gia Định, lại cho trở về làm ruộng.

    Hạ lệnh cho Quảng Ngãi mộ dân ngoại tịch lập làm ba đội thuộc binh thuyền Nghĩa binh.

    Miễn cho các tù sung dịch thuộc sáu trấn Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Hưng Hóa, Yên Quảng, khỏi phải phát vãng, đều được ở lại trấn sở làm việc, để cho vợ con cấp nuôi.

    Triệu 3 nghìn binh quân Thần sách ở Thanh Nghệ và 4 nghìn rưởi binh thuộc Ngũ quân và Tượng quân ở Bắc Thành về Kinh.

    Sơn Nam đói. Dân các huyện Bình Lục, Duy Tiên, Kim Bảng, Ý Yên, Thanh Liêm, họp nhau trộm cướp. Thành thần sai Cai cơ Nguyễn Văn Tại, Phó quản cơ Nguyễn Văn Nhàn đem quân đi bắt.

    Chở 5 vạn lạng bạc ở kho Kinh và súng đạn, diêm tiêu, binh khí đem chứa ở thành Gia Định.

    Lấy Cai cơ Nguyễn Văn Lý làm Vệ úy vệ Hữu bảo.

    Đặt thêm Thiêm sự hai tào Hộ Hình ở Bắc Thành. Lấy Tri phủ Nguyễn Văn Bảo và Bùi Phụ Đạo làm Thiêm sự Hộ bộ, Nguyễn Hữu Tung và Lê Văn Quyền làm Thiêm sự Hình bộ sung làm công việc tào. Sau thành thần thấy công việc Binh tào và Đê chính bận nhiều, xin phái thêm Thiêm sự hai bộ Binh Công sung làm. Vua y cho.

    Tháng 2, ngày Bính thân, tế Trời Đất ở đàn Nam giao.

    Hạ lệnh từ nay những sớ chương trong ngoài do đường quan sáu bộ đương ban tâu lên, cùng cả với người dự xin lãnh chỉ đều ghi tên vào cuối giấy để phòng tra xét.

    Bắc Thành nhiều thuế thiếu, thành thần cho rằng các huyện thu đòi bất lực, xin trói để trị tội. Vua nói: “Huyện lệnh là quan thầy của dân, làm nhục là không phải đạo, dân còn coi ra gì”. Không y lời xin.

    Hạ lệnh cho các quan địa phương ở Thanh Nghệ và Bắc Thành, xét những tri phủ tri huyện thuộc quyền giỏi kém thế nào tâu lên.

    Lấy Cai bạ Quảng Bình là Lê Đắc Tần quyền lãnh Ký lục Quảng Đức.

    Đắp đê mới ở huyện Yên Lãng trấn Sơn Tây. (Đê ở các xã Văn Quán, Hạ Lôi, Đông Cao, Trang Việt, Mạch Lũng, dài hơn 1.350 trượng).

    Người Quảng Đông nước Thanh là bọn Chu Phú Quan thuê thuyền Hải Nam đi buôn ở Gia Định, xin giảm thuế cảng. Thành thần hạch là giả dối, cứ đánh thuế đúng như ngạch thuyền Quảng Đông. Việc tâu lên. Vua hạ lệnh từ nay trở đi, kẻ phụ trách thuyền buôn nước ngoài cứ lấy bài thuyền để nghiệm, kẻ nào gian dối thì có tội.

    Lấy Chánh thuộc hiệu hiệu Hùng nhất Tuyên Quang là Ma Doãn Điền lãnh châu Đại Man. Trước kia các dân man di cư phần nhiều phụ ở châu Đại Man. Trấn thần sai thổ tù thu thuế, người Man không theo, xin được Doãn Điền quản lãnh (Doãn Điền trước làm châu trưởng). Trấn thần nhân đấy sai đi. Doãn Điền bèn ghi tên những người Man mới và cũ cộng được hơn 500 người, chia làm 280 bếp, hằng năm nộp thuế bạc là 560 lạng. Thành thần tâu việc ấy lên, mới có mệnh này.

    Lấy thổ tù ở Hưng Hóa là Cầm Nhân Khuể làm Trưởng châu châu Phù Hoa (nay là Phù Yên), Cầm Nhân La làm phó.

    Tướng giặc ở Bắc Thành là bọn Đặng Trần Siêu và Võ Đình Lục lại họp đảng ở Kính Lão (tên xã, thuộc huyện Mỹ Lương) hơn nghìn người, nhân sơ hở đi cướp bóc, Lê Chất đem binh đi bắt. Chất đóng đồn ở Ứng Thiên, sai Phó thống chưởng cơ Tiền đồn Hậu quân là Đặng Đức Bính, Phó vệ úy vệ Hậu bảo tam là Ngô Văn Dần, Cai đội phó trưởng chi chi Chương nghĩa là Nguyễn Văn Chỉnh và Cai cơ Ngô Văn Tiến làm tiền du. Khi quân đến Yến Vĩ (tên xã, thuộc huyện Hoài An), phục binh của giặc bốn mặt nổi dậy. Tiến chạy trước; Bính cùng Dần và Chỉnh đánh nhau bị chết tại trận. Chất chém Tiến để răn quân. Lại ủy cho Trấn thủ Sơn Nam thượng là Nguyễn Xuân, Phó vệ úy vệ Tuyển phong tiền là Mai Văn Châu tiến quân tới Thức Cốc (tên xã, thuộc huyện Chương Đức). Quân giặc chống đánh. Xuân và Châu lùa đánh tan. Chém được 4 đầu giặc, bắt được hơn hai chục người. Việc tâu lên. Thưởng cho quan và binh hơn 1.000 quan tiền, tặng Dần làm Vệ úy, Chỉnh làm Cai cơ.

    Ở Gia Định gạo rẻ, mỗi phương giá 2 tiền 30 đồng. Sai bốn trấn Phiên An, Biên Hòa, Vĩnh Thanh, Định Tường, cho dân nộp tô đều nộp thóc gấp đôi, quan theo giá khấu trừ tiền thuế thân.

    Bỏ lệnh cấm buôn thóc cho Hà Tiên. Trước kia Mạc Tử Thiêm trấn thủ Hà Tiên, triều đình lấy riêng hai đạo Long Xuyên, Kiên Giang lệ vào Vĩnh Thanh, Hà Tiên mỗi năm chỉ được đong một vạn hộc thóc. Kẻ nào buôn gian trị tội. Đến nay hai đạo lại thuộc về Hà Tiên quản lãnh, bèn bỏ lệ cấm ấy, việc mua bán lưu thông, dân đều được tiện.

    Triệu Mạc Công Du, và Mạc Công Tài về Kinh, tha dao dịch cho 50 người nhà.

    Tháng 2 nhuận, nước Vạn Tượng sai sứ sang cống.

    Bảy sách Man ở Cam Lộ vào cống.

    Biền binh Nội hầu và Trung hầu có kẻ đón xa giá kêu kiện. Vua nói: “Triều đình đã đặt quan coi pháp luật, ai có oan khuất gì, nên theo thứ tự mà kêu kiện, sao dám nhảm nhí như thế”. Sai đánh roi.

    Hiệp trấn Thanh Hoa là Nguyễn Hoài Quỳnh vay riêng tiền kho. Tham hiệp là Đinh Văn Nhã hạch tâu. Sai Nguyễn Tăng Địch và Nguyễn Thừa Thân đến xét hỏi. Hoài Quỳnh dâng sớ xin nhận tội. Vua tha cho, truy thu nộp vào kho.

    Lấy Thự tham tri Hình bộ lãnh Hình tào Bắc Thành là Trịnh Hiến đổi làm Thự tham tri Binh bộ lãnh Binh tào.

    Ngày Kỷ mùi, sửa lại Thái miếu. Thưởng tiền cho lính và thợ theo thứ bực khác nhau.

    Chở gỗ ở Nghệ An nộp về Kinh.

    Lấy Hàn lâm viện Ngô Khản làm Thiêm sự Hộ bộ.

    Nước Xiêm La sai bọn Phi Nhã Phi Phật đến dâng sản vật địa phương. Trong thư nói đến tội trạng của Nặc Chăn tự tiện giết bọn Cao La Hâm Mang Trà Tri Biện. Vua sai Nguyễn Văn Thành bẻ rằng: “Cao La Hâm Mang Trà Tri Biện âm mưu phản nghịch, Nặc Chăn là vua giết đi, cũng như bề tôi ở biên cương giết một kẻ lại phạm pháp, thì có tội gì? Huống nước Xiêm phong mà không có bằng sắc để hiềm khích, há nên chỉ trách một mình Nặc Chăn sao?”. Sứ giả lại xin bảo vua nước Chân Lạp thân sang nước Xiêm để hội táng Phật vương trước. Vua lại sai dụ rằng: “Chân Lạp từ khi có nước tới nay, chưa từng có lễ vua thân đi mừng viếng bao giờ. Nếu có lầm lỗi, đưa thư răn bảo là được, hay sai sứ đến trách cũng được, sao lại bắt bỏ nước mà đi? Lấy nước lớn vỗ về nước nhỏ, đó là thuận theo lẽ trời. Nếu nước ngươi làm trái lẽ trời thì hành động của Nặc Chăn biết làm sao được?”.