075. Trang [0814-0825] - @Ca Dao (Đã xong - Wiki)

12/1/16
075. Trang [0814-0825] - @Ca Dao (Đã xong - Wiki)
  • Sứ giả không nói được nữa. Hành nhân của nước Xiêm có Sênh Hâm trước kia đã từng hầu vua ở thành Vọng Các. Vua sai hậu đãi vỗ về và thường hỏi về việc nước Xiêm, Hâm đều nói hết, không giấu điều gì.

    Trước đây Nặc Chăn cùng nước Xiêm gây ác, chỉ trông nhờ vào ta. Đến khi nghe sứ Xiêm lại chầu, cho rằng ta vui vẻ với Xiêm, Nặc Chăn rất sợ. Vua sai đình thần làm thư bảo cho biết những lời hỏi đáp với sứ Xiêm khiến cho yên lòng. Lại dụ rằng: “Nước ngươi hãy còn suy yếu, thế chưa thể tranh với người Xiêm được. Nay nước Xiêm có tang Phật vương trước, vương tuy không thể thân hành đi được, nhưng cũng nhân lúc này sai sứ sang hội táng, để tỏ tình giao hiếu”. Nặc Chăn được thư cả mừng, dâng biểu tạ ơn.

    Trấn thủ Sơn Tây là Trương Phúc Phượng, Hiệp trấn là Hoàng Tử Cao báo thiên tai không đúng bị miễn chức. Lấy Dương Công Tòng làm Hiệp trấn, phục chức cho Võ Xuân Cẩn làm Tham hiệp.

    Cho Khâm sai cai cơ Tống Phước Ngoạn làm Khâm sai chưởng cơ.

    Tháng 3, ngày Nhâm ngọ, duyệt các quân ở trước điện Càn Nguyên, dẫn sứ Xiêm đến xem. Thưởng cho các quân 2.500 quan tiền. Ngày hôm sau thao diễn chiến thuyền ở sông Hương.

    Vua ung dung cùng bọn Tống Phước Lương bàn về cơ lược dùng binh. Dụ rằng: “Côn Lôn, Phú Quốc, Thị Nại, Cù Mông, trẫm cùng tướng sĩ các ngươi đã trăm trận đánh vất vả mới có ngày nay. Lúc yên đừng quên lúc nguy, đó thực là đạo giữ nước yên dân”. Bọn Lương cúi đầu tạ.

    Lấy Hữu tham tri Lại bộ Nguyễn Hữu Thận làm Hữu tham tri Hộ bộ, Hữu Thận tính cẩn hậu có mưu kế. Thượng thư Hộ bộ Lê Quang Định tâu xin điều bổ, nên có mệnh này.

    Đặt thuyền Toàn bính ở Bình Định, sai trấn thần mộ dân ngoại tịch sung vào.

    Lấy Thuộc nội chưởng cơ Nguyễn Văn Tuyên kiêm Quản vệ Chấn bảo nhất.

    Sai bọn Chưởng cơ Tống Phước Ngoạn, Phó vệ úy Trần Văn Trinh, Thiêm sự Phạm Văn Toán sung Chánh phó sứ sang Xiêm. (Tặng Phật vương 120 tấm lụa trắng, 100 tấm vải trắng, 2.000 cân đường cát, đường phổi, đường phèn đều 500 cân; cho vua thứ hai 80 tấm lụa trắng, 80 tấm vải trắng, 1.000 cân đường cát, đường phổi đường phèn đều 300 cân).

    Vua sai Lại bộ viết thư trả lời về việc thu xếp việc nước Chân Lạp rằng: “Nước Chân Lạp là một nước phiên nhỏ, người thưa đất hẹp, trước đây các vua thánh ta phong cho ông cha Nặc Chăn một nước một vua, chính quyền về một mối, cho nên có thể nắm được giềng mối để giữ gìn vô sự; nay vì nước loạn ly đã lâu, sức người mòn mỏi, Nặc Chăn đã làm quốc vương mà em là Nặc Nguyên lại làm vua thứ hai, Năm Yêm làm vua thứ ba, một nước ba vua, nhân dân do đó mang hai lòng. Mới đây nghe dân Man không yên, cho nên hạ lệnh cho khổn thần ở Gia Định đem quân trấn giữ, đấy là nghĩa yêu nước nhỏ không thể không được, chứ không phải vì lợi, cũng không phải thích dụng binh. Huống chi Nặc Chăn đem thần dân trong nước để thờ hai nước lớn cũng chỉ là mong nhờ uy đức để giữ bờ cõi toàn vẹn mà thôi. Trong khi Nặc Chăn có việc mà nước Xiêm trong thì có quốc tang, ngoài thì có việc quân, thế ấy không thể trông coi cả được, nước ta đưa quân đi tuần ngoài biển để nhân giữ cho yên, chẳng những là giúp cho Nặc Chăn mà cũng giúp cả cho nước Xiêm nữa. Đường sá xa cách e vương không suốt được ý ấy, nên nói rõ ra”. Sứ giả nước Xiêm cũng xin về nước. Thưởng cho rất hậu, khiến cùng với sứ ta đều đi.

    Bắc Thành bị hạn. Trấn thần Nghệ An tâu nói: “Trà Lân, Quy Hợp ở miền thượng du, đường quan báo tất phải đi qua. Xin đặt mỗi nơi một hiệp thủ, để sai coi việc thu thuế và để báo tin ngoài biên cho nhanh”. Vua y cho.

    Tha tô thuế dao dịch cho huyện Tống Sơn, cấp thêm lương tiền cho binh lính. Vua thấy Tống Sơn là đất thang mộc, cỗi gốc ở đó, muốn ra ơn đặc biệt, hạ chiếu cho từ nay tô thuế dao dịch đều miễn. Những binh ở vệ Tín uy Thị nội mỗi năm cấp cho mỗi người 12 phương gạo, như có sai phái việc quân thì cấp cho lương tháng khác (1 quan tiền 1 phương gạo), hằng năm cứ tháng 12 thì đòi về tập hợp ở Kinh. Tại trấn thì cấp quần áo, 3 quan tiền và một tháng tiền lương (1 quan 5 tiền), đến Kinh thì chiếu theo lệ lương của binh Tả hầu Hữu hầu và Trung nhất mà cấp. Rồi hạ lệnh cho các thành dinh trấn, phàm binh các đội thuyền Bính quê ở Tống Sơn thì quan thống quản không được sai bừa làm việc vặt, để tỏ phân biệt.

    Định lệ lương cho các đội Nội hầu, Trung hầu, Tả hầu. Người thường xuyên ứng trực thì chiếu tháng chi lương tháng, tháng nhuận thì thôi; người chia ban thì tháng thiếu khấu đi 1 ngày, tháng nhuận vẫn được chi cấp.

    Chưởng cơ án thủ bảo Hà Trung là Lê Phước Điển cho rằng phẩm trật ở trên chức Tham hiệp, nên các giấy tờ quan hệ do trấn Nghệ An gửi mà có viết chức hàm Tham hiệp ký đều không nhận cả. Tham hiệp Lưu Văn Vượng đem việc ấy hỏi, Trấn thủ Hoàng Viết Toản, Hiệp trấn Ngô Nhân Tĩnh đều không quyết định được, đem sự trạng tâu lên. Vua bèn hạ lệnh từ nay về sau ở trấn có truyền báo việc quân, thì Trấn thủ và Hiệp trấn là chủ, duy các việc kiện tụng và lương tiền thì Tham hiệp mới được dự.

    Lấy Cai đội Nguyễn Văn Quý làm Thủ ngự cửa biển Văn Úc (thuộc tỉnh Hải Dương).

    Chưởng dinh lãnh phó tướng Tiền quân là Nguyễn Đình Đắc chết, tặng Thiếu bảo, cho tiền 400 quan, sai quan đến dụ tế.

    Khai mỏ sắt La Bôn ở Biên Hòa. Bọn lái buôn người Thanh là Lâm Úc Tam và Lý Kinh lãnh trưng, mộ người thổ dân và người Thanh lập làm đội Thiết trường, mỗi năm nộp thuế sắt mỗi người 50 cân.

    Nguyễn Văn Tồn đóng thú ở La Bích, quân nhiều người bị bệnh nước độc. Nguyễn Văn Nhân tâu xin rút về mà mộ người Hán [Việt] ngụ ở Chân Lạp lập làm ba đội Tráng ngự, Cường ngự và Uy ngự đều cho tùy nơi đóng giữ. Vua theo lời. Chiếu dụ vua nước Chân Lạp rằng: “Nay nước Phiên yên tĩnh, không cần để quân lại nữa, nếu có sự cần kíp sẽ phát quân cũng chưa muộn”.

    Vua cùng bọn Phạm Như Đăng, Phạm Đăng Hưng bàn về những người tiết nghĩa xưa nay. Như Đăng thưa rằng: “Người giữ tiết nghĩa đời nào chẳng có? Do người trên bồi dưỡng cho đấy thôi. Bản triều như Võ Tánh, Ngô Tòng Chu, tiết nghĩa đáng kính, người xưa cũng không hơn được!”. Vua cho là phải.

    Lấy Tri huyện Trần Trọng Huyên làm trợ giáo Hoài Đức.

    Lạc Hoàn vào cống.

    Bỏ lệ thuế các mỏ vàng, diêm tiêu, lưu hoàng ở Hưng Hóa và Tuyên Quang. (Mỏ vàng động Hương Sơn trấn Hưng Hóa lệ nộp thuế vàng 1 lạng 5 đồng cân; mỏ diêm tiêu Bản Vĩnh lệ nộp thuế diêm tiêu 100 cân; mỏ lưu hoàng An Phú lệ nộp thuế lưu hoàng 100 cân. Năm nay các mỏ không có người khai lấy, quan Bắc Thành tâu cho miễn thuế).

    Quản đạo Kiên Giang là Trương Phước Giáo và quản đồn Uy viễn là Nguyễn Văn Tồn vào chầu, vua cho mỗi người 10 lạng vàng, 30 lạng bạc và 200 quan tiền, áo thường 3 cặp, mũ áo một bộ.

    Mùa hạ, tháng 4, ngày mồng 1, tế hạ hưởng.

    Hoàng Viết Toản vì tang vợ, xin nghỉ việc trấn. Vua cho. Lấy Phó đô thống chế Tả dinh quân Thần sách Trịnh Ngọc Trí quyền lãnh Trấn thủ Nghệ An.

    Thượng thư Hình bộ là Nguyễn Tử Châu chết; tặng Tham chính, cấp 3 người mộ phu.

    Tham hiệp Hà Tiên là Dương Văn Châu cùng Hiệp trấn Nguyễn Đức Hội vốn có hiềm khích với nhau. Từ khi Trấn thủ Nguyễn Văn Thiện chết rồi, hai người chuyên coi việc trấn. Hội hay mưu lợi, sai riêng người đi Chân Lạp. Châu biết được việc, bèn họp các viên biền thuộc trấn bắt giữ những người chứng để tra hỏi. Hội bảo kêu ở Gia Định, Châu đón chặn đường, lại họp quân dân vây dinh thự của Hội. Hội cũng hịch cho quân tự vệ. Cả trấn rối động. Trấn thần bắt trói cả hai người, đem việc hặc tâu lên. Hạ lệnh cho Nguyễn Văn Thụy quyền lãnh việc trấn. Khi án tâu lên, Châu bị tội trảm quyết, Hội bị tội trảm giam hậu, các viên biền thuộc trấn a tòng đều bị xử trượng và đồ.

    Vua thấy thóc tô ở Quảng Ngãi và Bình Hòa thu vào không có mấy, hạ lệnh cho Quảng Nam chuyển thóc sang Quảng Ngãi 75.000 hộc, Bình Định chuyển thóc sang Bình Hòa 50.000 hộc để chứa.

    Sai cho Cai bạ Quảng Đức là Lý Gia Du giám đốc cục Đúc tiền ở Bắc Thành và các mỏ đồng kẽm. Dụ rằng: “Quyền lợi của triều đình quan hệ vào đấy rất lớn. Ngươi quen tính toán, hãy vì trẫm trù tính. Nếu có bày tỏ việc gì thì do thành thần chuyển tâu”. Gia Du đến nơi dâng sớ nói: “Nhà Lê trước đặt cục đúc tiền ba sở, đúc luôn không nghỉ, thế nên đồng tiền thừa thãi. Từ khi ngụy Tây đúc không đúng phép, tiền ngày càng ít, thóc gạo rẻ mà dân nhiều người đói, vải lụa rẻ mà dân nhiều người rét. Nay nhà vua sáng suốt, mở cục đúc tiền, cho kẻ nào có đồng kẽm đều được tự mình đúc lấy. Nhưng những người đúc tiền, kẻ có của thì ít mà kẻ tay không thì nhiều; việc mua đồng kẽm thì kẻ có của phần nhiều mua được giá rẻ, người tay không vẫn chịu giá đắt. Lại việc đem tiền mới đổi tiền cũ, trong khi phát ra thu vào, bọn nha lại nhân đó yêu sách. Người ta không dám đúc, vì những cớ ấy. Vậy xin phàm mua đồng thiếc thì nhà nước định giá cho để giá hàng không đến nỗi chênh lệch. Khi đã đúc thành tiền thì đều được thông dụng. Như thế thì người ta tranh nhau mà đúc, tiền ngày càng nhiều”.

    Vua theo lời. Sai đặt thêm cục đúc tiền, sắc cho dân ai có đồng kẽm đem nộp cho nhà nước thì cấp cho giá tiền. Mua bán riêng với nhau thì đều cấm. (Khối đồng đỏ 100 cân giá tiền 35 quan; khối kẽm 100 cân giá tiền 30 quan; khối chì 100 cân giá tiền 11 quan 5 tiền; khối thiếc 100 cân giá tiền 24 quan. Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hưng Hóa là những nơi sản xuất đồng, chì, thiếc, cho nhân dân do đường thủy đường bộ thông hành đổi chác. Phàm chở bán cho nhà nước thì qua cửa quan bến đò được miễn thuế. Nếu ai dám mua bán riêng với nhau, thì tang vật sung vào nhà nước và lại phải tội. Người tố cáo đúng thực thì lấy một nửa làm của công, một nửa để thưởng. Những đồ đạc bằng đồng, thau, chì, thiếc và đồng nát không ở lệ cấm).

    Ngày Kỷ mùi, dựng điện Trung Hòa.

    Cấp tiền lương tháng cho lính mộ ở các đội Hữu thuận, Kiên uy, Võ lược, Thiện võ, Định uy ở Bắc Thành.

    Dời phủ lỵ Hạ Hồng (trước ở Tứ Kỳ) trấn Hải Dương đến Vĩnh Lại.

    Tháng 5, ngày Mậu dần, sửa lại điện Cần Chánh.

    Thành thần Gia Định tâu nói tiền thóc và sản vật ở trong thành và ở 4 trấn 2 đạo từ năm Mậu ngọ đến năm Giáp tý trước đã kiểm tra rồi, nay xin sai quan xét thực số từ năm Ất sửu tới nay mà kê tra. Vua nghe lời tâu.

    Hạ lệnh cho hai trấn Thanh Nghệ hằng năm đến tháng giêng đem 2.500 người thuộc năm dinh quân Thần sách đi thú Bắc Thành, mỗi năm thay đổi một lần.

    Lại tha thuế nguồn năm nay cho Quảng Ngãi. Vua cho rằng bọn ác Man làm trở ngại, dân trong nguồn chưa giao thông buôn bán được, nên lại tha thuế cho.

    Đặng Trần Thường và Nguyễn Gia Cát có tội, đều bị bỏ ngục. Trước đây Thanh Nghệ và Bắc Thành tâu sự tích bách thần. Vua sai Gia Cát bàn tâu. Gia Cát ủy cho Thiêm sự Vũ Quý Dĩnh chủ trương việc ấy và sai con là Nguyễn Dục, em vợ là Cống sĩ Tô Văn Dâu ngầm giúp đỡ. Quý Dĩnh làm sắc giả, phong cho ông cha và bố mẹ vợ mình làm Phước thần. Bọn Dục cũng dựa nhau làm gian, khiến điển thờ đảo lộn nhầm lẫn rất nhiều. Đến nay thành thần hạch tâu hơn 560 đạo sắc. Vua sai đình thần tra xét. Bọn Quý Dĩnh đều xin phục tội. Lại có tướng Trịnh là Hoàng Ngũ Phúc năm Giáp ngọ vào lấn phương Nam, khi về bị chết đường, người Trịnh phong làm Phúc thần. Trần Thường trước ở thành tào giấu việc ấy đi, liệt lẫn vào điển thờ, Gia Cát theo mà gia tặng là “Thanh danh văn võ thánh thần đại vương”. Đến khi việc phát, Trần Thường sợ hãi, xin chịu tội. Vua nói: “Đăng trật cho bách thần là điển lễ lớn ở buổi đầu của nhà nước. Bọn ngươi làm gian trá, dối người khinh thần, không tội nào lớn bằng. Vả cuộc biến loạn năm Giáp ngọ Hoàng Ngũ Phúc chính là thủ ác, nay lại cất lên mà cho là thần, thế chẳng phải là bán tước sao? Việc ấy còn nỡ làm thì việc gì lại chẳng nỡ!”. Giao xuống Hình bộ nghị tội. Phạm Như Đăng cho là tội Trần Thường nên cách chức, tội Gia Cát nên xử tử. Lê Bá Phẩm cho rằng Trần Thường và Gia Cát tội cũng như nhau, cùng tội mà phạt khác, thì không đúng hình, đều xử tội chết. Nghị ấy tâu lên, vua sai đình thần xét lại. Nguyễn Văn Thành nói dầu rằng Trần Thường, Gia Cát vẫn là có tội, nhưng lấy công chuẩn lỗi thì còn có bát nghị; bọn Lê Quang Định, Nguyễn Đức Huyên, Nguyễn Hữu Thận đều chủ trương theo lời nghị ấy; bọn Trịnh Hoài Đức, Trần Văn Trạc lại theo lời nghị của Như Đăng. Bàn mãi không quyết định được. Khi tâu lên, vua nói: “Bá Phẩm nói phải”. Vua theo lời Phẩm mà phạt Văn Thành. Quý Dĩnh bị tội trảm; Trần Thường và Gia Cát đều giam hậu; bọn Dục bị tội đồ, những người khác đều giáng và phạt khác nhau. Tham quân Lê Chấn cũng vì nhận riêng một đạo thần sắc phần hoàng bị giáng làm điển quân. Nhân đó hạ chiếu thu lại thần sắc, rồi sai quan Lễ bộ bàn lại việc phong tặng.

    Định lệ lương bổng cho thủy quân: Chưởng cơ coi như Vệ úy quân Thị trung, Quản cơ coi như Phó vệ úy quân Thần sách. Còn từ cai cơ, cai đội trở xuống, cũng cùng lệ với quân Thần sách.

    Tha giảm tô thuế cho những ruộng bị hại ở các trấn Bắc Thành. Số thóc thiếu từ năm Canh ngọ, cũng cho dân lấy tiền nộp thay (một hộc giá là 9 tiền). Thành thần lại xin lấy bọn tù tội đồ đắp đường cái để đỡ nhọc cho dân. Vua y cho.

    Tháng 6, đắp thành đất Quảng Bình, sai Phó tướng Trần Quang Thái đốc suất các quân ứng dịch.

    Lấy Lê Đức Tần làm Cai bạ Quảng Đức, Thiêm sự Công bộ Nguyễn Văn Thịnh làm Ký lục.

    Lấy Cai cơ ở đồn Uy viễn là Tót làm Án phủ hai phủ Trà Vinh, Mân Thít.

    Vua cùng Phạm Như Đăng bàn về việc các đế vương đời xưa truy tôn thụy hiệu cho ông cha. Như Đăng thưa rằng: “Những đế vương thời xưa khi vẻ vang có thiên hạ, ai là chẳng truy tôn ông cha, như nhà Hán truy tôn đế hiệu bốn thân, nhà Tống truy tôn thụy hiệu bốn đời. Chính vì công đức cao dày không thể quên được”.

    Trấn thủ Phước Yên là Lê Văn Vạn, Cai bạ là Lê Công Bật, Ký lục là Nguyễn Văn Thục mắc tội tham tang, bị miễn chức. Cho Chưởng cơ Nguyễn Văn Huyên, Thượng bảo khanh Trần Đình Trưng và Thiêm sự Lễ bộ Vũ Doãn Thiếp thay.

    Bàn soạn sách Quốc triều thực lục. Triệu Thị trung học sĩ là Phạm Thích, Đốc học Sơn Nam thượng là Nguyễn Đường, Đốc học Hoài Đức là Trần Toản về Kinh, sung chức biên tu ở Sử cục. Lại thấy Lê Duy Thanh là người Duyên Hà có văn học, cùng triệu về Kinh, rồi cho chức Đông các học sĩ.

    Xuống chiếu tìm điển tích. Chiếu rằng: “Đạo dựng nước, phải có phép thường; mà cách sửa trị, nên tìm điển cũ. Nước Việt ta, các đời Đinh Lý Trần Lê nối nhau, chính trị có điều theo điều đổi, trong khoảng ấy điển chương pháp độ, há không có điều gì đáng thuật sao? Các vua thánh ta mở mang xây dựng, hơn hai trăm năm làm sáng tỏ mưu xưa và vâng theo nghiệp trước, đều có phép sẵn. Mới đây từ khi giặc Tây Sơn lấn cướp, sách vở tan tác mất cả. Tuy sau binh biến, kho sách không còn bằng chứng, nhưng những nhà học giả uẩn súc, chắc còn ghi chép. Nay đất nước đã thống nhất, cần phải tìm xét rộng rãi. Phàm dân chúng các ngươi như có điển xưa việc cũ, hoặc do ở kho nhà nước còn để lại, hoặc được ở nhà riêng ghi chép, hết thảy điển chương điều lệ, cho phép do quan địa phương sở tại dâng lên. Nếu có điều gì quan hệ đến chính thể, trẫm sẽ tự xét chọn, đều có nêu thưởng”.

    Lại chiếu cho các dinh trấn từ Quảng Bình về Nam rằng: “Nay soạn Quốc triều thực lục, phàm sự tích cũ cần phải tìm xét rộng rãi để sẵn mà tham khảo. Từ khi giặc Tây Sơn nổi loạn, người Trịnh xâm lấn, trẫm chính mình mưu toan khôi phục, búa cờ vất vả hơn ba chục năm, siêng năng lo lắng không phải một ngày, xếp đặt làm ra không phải một việc. Trong khoảng đó, việc binh tình giặc, một người không thể ghi hết. Tưởng ở chốn đồng quê các nhà quan cũ và các cụ già, những điều ghi chép được, những điều thấy nghe được, hẳn có điều đáng dùng. Vậy đặc chiếu cho các sĩ dân, từ năm Quý tỵ trở về sau, năm Nhâm tuất trở về trước, phàm những việc quan hệ đến việc nước, ai hay biên chép thành quyển cho đưa đến nộp quan sở tại; các cụ già ai hay ghi nhớ việc cũ, thì quan sở tại mời đến hỏi, ghi chép chuyển tâu. Lời nói nào có thể ghi vào sử được sẽ có thưởng. Thảng hoặc có can phạm kỵ húy cũng không bắt tội.

    Bàn soạn sử nhà Lê.

    Chiếu cho các trấn ở Bắc Thành có ai thu chép được sự tích nhà Lê cũ và sự tích giặc Tây Sơn thì đem sách dâng. Từ đấy những sách cất ở nhà dân dần dần đem ra.

    Bắt đầu định chương trình xét công các phủ huyện. Vua thấy tri phủ tri huyện là chức gần dân, nên phân biệt người hay hay người dở để định việc cất nhắc truất bỏ khiến biết khuyên răn, bèn định ba năm một lần khảo, hai lần khảo làm một khóa, bắt đầu từ năm Mậu thìn Gia Long thứ 7. Quan trên các địa phương kê suốt trong ba năm các phủ huyện án kiện đã xét hết được tình lý là bực thượng khảo, được 8, 9 phần 10 cũng là thượng khảo, được 6, 7 phần là trung khảo, được một nửa sai một nửa là hạ khảo, được ít sai nhiều và được tuy nhiều mà khép tội sai một án mạng nào, thì đều là hạng cuối, phân biệt tâu rõ cả để đợi chỉ. Từ năm Tân mùi này trở về sau, cứ đến cuối năm phải liệt kê án đã xử đoạn để sẵn đến ba năm xét công. Duy có người chính sự giỏi đặc biệt thì đem tên tâu lên ngay, không câu nệ niên khóa.

    Truy tặng Phó tướng Tả quân Phạm Văn Sĩ làm Tả quân thự phủ sự, Tham tán Trần Văn Thức làm Chánh thiêm sự, (Sĩ có công Vọng Các, Thức chết vì việc nước).

    Sai Quảng Nam dựng kho Hội An, thu 5 vạn hộc thóc tô năm ấy chứa ở đấy.

    Bộ Hộ tâu nói: “Trước kia trong hai phủ Thăng Hoa, Điện Bàn thuộc Quảng Nam, một mẫu ruộng công chỉ đánh thuế 8 phần, còn 2 phần, trừ làm nương mạ. Nay tính mẫu mà đánh thuế cả, dân lại viện lệ cũ xin miễn”.

    Vua nói: “Vương giả rất công bằng, không riêng tây, gần xa như một. Nay cư dân ở đâu thổ trạch đều có thuế cả, sao chỉ ruộng mạ hai phủ ấy không nộp thuế?”. Không cho.

    Từ Bình Thuận đến Bắc Thành lâu không mưa. Sai hoãn thu thóc tô năm nay 2 phần 10.

    CHÍNH BIÊN

    ĐỆ NHẤT KỶ - QUYỂN XLIII
    THỰC LỤC VỀ THẾ TỔ CAO HOÀNG ĐẾ

    Tân mùi, Gia Long năm thứ 10 [1811], mùa thu, tháng 7 ngày mồng 1, tế thu hưởng.

    Lấy Vệ úy vệ Trương võ là Đỗ Thiên Thẩm làm Vệ úy vệ Hùng dũng, Cai cơ Nguyễn Văn Cường làm Phó vệ úy vệ Hậu bảo tam.

    Triệu Lê Phúc Điến về Kinh; lấy Chưởng cơ Phạm Công Nghĩa hành Vệ úy vệ Uy võ, án thủ đồn Hà Trung.

    Hạ lệnh cho Bắc Thành đem thóc thuế vụ đông xay thành gạo hơn 60 vạn phương, đợi sang năm chở về Kinh.

    Người Diên Khánh là Mạc Văn Diên dâng sách Hồng Đức luật lệ đời Lê; Tri huyện Thủy Đường là Nhữ Công Quý dâng sách Hoàng Việt thống chí; người Sơn Nam thượng là Hoàng Quý Chi, người Sơn Tây là Cao Văn Tình, người Kinh Bắc là Lê Doãn Khản dâng các sách quan chế và điều luật triều Lê trước. Đều thưởng tiền khác nhau.

    Dân Gia Định đi buôn ở Nam Vang, nhiều người mua rẻ sản vật của người Phiên, người Phiên khổ vì họ quấy nhiễu. Vua nghe tin, sai thành thần nghiêm cấm.

    Làm xong hai điện Trung Hòa và Cần Chánh, thưởng cho lính và thợ 7.500 quan tiền. Quan thì thưởng tiền bổng hai tháng.

    Lấy Hàn lâm viện thừa chỉ Nguyễn Văn Giảng làm Tuyên phủ sứ Hoài Đức.

    Vua cùng bầy tôi bàn về chế độ chia giới hạn tỉnh điền. Dụ rằng: “Đời xưa mỗi người được ruộng 100 mẫu, dùng thước ngày nay mà đo thì 100 mẫu rất rộng, sức một người khai khẩn thế nào hết được! Đó là do thước đời xưa so với thước ngày nay rất ngắn”.

    Hiệp trấn Nghệ An là Ngô Nhân Tĩnh vào chầu. Nhân Tĩnh nhiều lần dâng sớ xin về Kinh để trình bày nỗi đau khổ của dân gian, vua y cho. Nhân Tĩnh đến, nói hết tình trạng điêu hao của dân Nghệ An. Bèn xin hoãn thu số tiền thóc còn thiếu từ năm Nhâm thân trở về trước. Lại cho thuế biệt nạp sản vật như vải trắng, dầu nước, có ai thiếu thì xin cho nộp thay bằng tiền. (Thuế vải mỗi người 2 tấm, thuế dầu, mỗi người 2 cân 3 lạng, đều nộp thay bằng 6 quan tiền). Vua đều theo lời. Hơn một tháng khiến về trấn.

    Triệu Trịnh Ngọc Trí về Kinh. Lại lấy Hoàng Viết Toản làm Trấn thủ Nghệ An.

    Sửa lại cửa Tả đoan.

    Hoãn đòi lính thiếu cho dân bị thủy tai ở Sơn Nam hạ, Hải Dương và Yên Quảng. Các trấn từ năm Kỷ tỵ gặp thủy tai, hộ khẩu hao hụt nên kén lính thiếu ngạch thường không cấp đủ. Thành thần đem việc tâu lên. Vua sai xét số người bị thủy tai nhiều ít, theo bực mà hoãn cho. (Nguyên lệ kén lính ở Sơn Nam hạ và Hải Dương cứ 7 người đinh thì lấy 1 người; số người chết đuối mất 1, 2 đinh thì hoãn đòi 1 tên lính trong 1 năm; mất 3, 4 đinh thì hoãn 2 năm, mất 5, 6, 7 đinh thì hoãn 3 năm. Nguyên lệ kén lính ở Yên Quảng cứ 10 đinh lấy 1; số chết đuối mất 1, 2, 3 đinh thì hoãn đòi 1 tên lính trong 1 năm; mất 4, 5, 6 đinh thì hoãn 2 năm, mất 7, 8, 9, 10 đinh thì hoãn 3 năm).

    Đổi định trình hạn đổi phiên cho các quân ở Bắc Thành. Trước kia các quân chia ban mỗi tháng thay đổi một lần. Kỳ hạn ngắn vội quá, người đều khó chịu. Thành thần xin đổi 2 tháng làm một hạn để nhọc rỗi được đều. Vua y lời tâu.

    Tháng 8, Kinh sư bị bão (Giờ mùi nổi, giờ sửu thôi, cộng 7 khắc). Nước lụt lên hơn lúc thường hơn 8 thước; nhiều nhà ở của quan dân sụp đổ. Sai đội Tiểu sai hội đồng với dinh thần Quảng Đức chia đi các huyện xét hỏi sự đau khổ của dân gian để tâu lên. Thuyền vận tải và thuyền buôn bị lật đắm thì cho tiền tuất. Các hạt Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi cũng có nạn bão. Xuống chiếu rằng tiền thóc còn thiếu và binh lính trốn chết đều hoãn đòi một năm; tạp dịch, kiện vặt và việc thổ mộc không gấp đều bãi cả.

    Cửa biển Tư Dung vỡ (mở thành cửa lạch rộng: 7 trượng 5 thước, sâu 7 thước).

    Lê Chất tâu cử Lê Đại Cương theo làm việc ở thành. Cương trước làm Tri huyện Tuy Viễn, vì tham tang phải mất chức, Chất thấy Cương là người có tài làm việc, mới tâu xin. Vua y cho.

    Sao chổi hiện ở phương tây.

    Vua ra chầu, từng cùng bầy tôi bàn về sự tích vua tôi đời Hán Đường và lễ nhạc chế độ các triều trước. Khi thôi chầu liền sai thị thư đem tiến sách Minh sử để xem đến nửa đêm mới thôi.

    Hạ lệnh tuyển bổ các phủ huyện ở Bắc Thành. Tri phủ khuyết thì lấy Tri huyện lâu năm không có lỗi thăng bổ, Tri huyện khuyết thì lấy những hương cống nhà Lê đã từng sung làm việc trường thi bổ vào.

    Thuyền Hải Nam của Phan Nguyên Ký đến buôn. Thủ ngự Sa Kỳ là Lâm Ấn riêng nhận của lót bảo giấu hàng hóa để mong giảm thuế. Việc phát giác. Vua sai giết. Nhân đó dụ các thủ ngự cửa biển rằng phàm thuyền buôn có giấu bớt đều tịch thu hàng hóa.

    Hạ lệnh cho các trấn quan học quan từ Nghệ An trở ra Bắc đều đề cử người mình biết. Chiếu rằng: “Dùng người không phải chỉ một lối, chọn học trò không phải chỉ một đường. Năm trước mở khoa thi Hương, phàm người dự trúng tứ trường đều đã bổ chức Tri huyện. Nhưng nghĩ trong số học trò dự trúng tam trường cũng có người học thuật có thể dùng được. Vậy hạ lệnh cho trấn quan và học quan xét hỏi người nào văn học hơi khá thì ghi tên tâu lên”.

    Lấy Quản đạo Kiên Giang là Trương Phước Giáo làm Trấn thủ Hà Tiên, Ký lục Định Tường là Bùi Đức Miên làm Hiệp trấn. Vua thấy Hà Tiên là nơi trọng yếu ngoài biên, hai người đã biết rõ tình hình biên cương cho nên sai đi. Bọn Giáo đến trấn, chính sự chuộng rộng rãi giản dị, không làm phiền nhiễu, sửa sang trại quân, chiêu dân xiêu dạt, đặt trường học, khẩn ruộng hoang, vạch định phố chợ, ngăn khu cho người Hán [Việt], người Thanh, người Chân Lạp, người Chà Và, khiến tụ họp theo loài, làm cho Hà Tiên lại trở thành một nơi đô hội ở Nam thùy vậy.

    Lấy Trần Quang Tĩnh làm Ký lục Định Tường.

    Vua nghĩ muốn cất nhắc những người bị chìm đọng, sai các Tham tri ở Bắc Thành xét hỏi dân gian có người học rộng nết tốt thì tâu lên.

    Lấy con trai của Thị giảng Lê Cao Kỷ là Lê Cao Cơ sung Hàn lâm viện. Cao Kỷ trước làm Thị giảng cho Hưng tổ, Trương Phúc Loan ghét mà giết đi. Năm Gia Long thứ 8 lục dụng con là Cao Cơ sai chầu chực ở cung Trường Thọ, đến nay đặc cách cho chức này.

    Truy tặng Tham mưu Trung dinh là Đào Duy Mẫn làm Khâm sai tham tán.

    Tháng 9, ngày Bính tuất, Hoàng thái hậu se mình. Trước đây sao chổi xuất hiện, người hầu đem tâu, Hoàng thái hậu buồn rầu không vui, một đêm lẻn ra xem, rồi vào bảo người hầu rằng: “Sao chổi chính ứng điềm vào thân già này”. Đến nay se mình. Vua sớm chiều đến chầu ở cung Trường Thọ, sai hoàng tử hoàng tôn vào hầu. Các quan văn võ đều họp ở công thự bên hữu.

    Ngày Kỷ sửu, Hoàng thái hậu băng, thọ 74 tuổi. Vua thương khóc không thôi. Triệu các quan vào bên để bàn việc tang. Các quan xin từ tam phẩm trở lên đều để tang một năm. Vua dụ rằng: “Nhà vua lấy Tôn Miếu Xã Tắc làm trọng. Nay trẫm đã để tang 3 năm, các ngươi lại để tang 1 năm, nếu trong một năm có việc ở Tôn Miếu Xã Tắc thì làm lễ thế nào? Vậy cho để tang 3 tháng”. Các quan lại ngờ về tang phục của công chúa để tang. Vua nói: “Thánh nhân đặt lễ phân biệt từng ly từng tý. Lòng kính không thể thích hợp cả đôi đường, tang phục không thể trọng cả hai bên. Cho nên một người con gái, khi ở nhà thì lấy nhà cha làm tôn, khi lấy chồng thì lấy nhà chồng làm trọng. Nghĩa đã có phân biệt, tang sao lại như nhau được. Vậy nghị cho hoàng nữ đã đi lấy chồng thì kém hoàng nữ còn ở nhà một bậc”. Bộ Lễ lại xin định hạn cấm việc giá thú. Vua nói: “Thần dân nên theo thứ tự mà tỉnh giảm để lấy vợ lấy chồng được kịp thời”. Thế là sự bàn đã định.
    cute_smiley26