076. Trang [0825-0836] - @Orion Khoai Môn (done)

14/11/15
076. Trang [0825-0836] - @Orion Khoai Môn (done)
  • Ngày Đinh dậu, làm lễ thành phục (Vua để tang 3 năm; hoàng hậu tang 3 năm; phi tần, hoàng tử và công chúa chưa đi lấy chồng đều tang 1 năm; trưởng công chúa và công chúa đã đi lấy chồng tang 9 tháng. Người tôn thân ở năm bậc tang đều để tang theo như lễ; người thân ở bậc trần cánh tay và bỏ mũ thì dùng khăn vải trắng; quan văn võ từ chánh tam phẩm trở lên, tang mặc áo vén gấu 3 tháng, từ tòng tam phẩm trở xuống, ai dự vào việc tang thì dùng vải trắng; quan ngoài thì miễn áo tang, duy ai về Kinh thì mang áo tang cũng như quan Kinh; quan thuộc cung Trường Thọ thì chánh tam phẩm trở lên mặc áo vén gấu 5 tháng; mệnh phụ đều để tang như chồng; quan viên từ tam phẩm trở lên cấm cưới vợ gả chồng 3 tháng, tứ phẩm trở xuống thì 1 tháng, quân dân 15 ngày; cấm dùng màu hồng màu tía 1 năm; cấm hát xướng 3 tháng. Quan viên vào chầu hầu, trong 3 năm đều không được mặc áo màu đỏ màu tía; phàm gặp việc thờ cúng hay việc quân đều cho mặc áo thường mà làm việc; các thành dinh trấn trong 3 tháng, ngày mồng một và ngày rằm đều được miễn bái chầu).

    Chiếu dụ trong ngoài rằng: “Giờ tuất ngày 14 tháng này, Hoàng thái hậu thăng hà, trẫm thương xót đau lòng, kính cẩn ở trong cung để tang ba năm, nhất thiết theo lễ chế. Phục chế và hạ cấm đối với quan viên trong ngoài và quân dân đều theo nghị định mà làm”.

    Trước kia vua thờ Hoàng thái hậu rất kính cẩn, khi muôn việc đã rồi thì xem bữa ăn, thăm sức khỏe, lễ thường không thiếu. Đến khi thái hậu băng, vua cư tang, lòng rất đau thương. Từ đấy buổi chầu buổi hội đều miễn, ngày thường chỉ ngự ở tiện điện để nghe chính sự.

    Bãi kho Nông Giang ở Hải Dương. Trước đây Hải Dương lập riêng kho chứa ở đồn thủy Nông Giang để thu tiền thóc của dân các huyện. Đến nay dòng sông nông cạn, vận tải không tiện, thành thần xin cho các huyện lại nộp ở trấn. Vua y cho.

    Thổ tù Mộc Châu trấn Hưng Hóa là Xa Văn Tiên và thổ tù châu Trình Cụ trấn Thanh Hoa là Phạm Phì Nam tranh nhau đất hai động Cẩm Nang và Mộc Thượng. Vua sai quan Bắc Thành phái người hội đồng với trấn thần Thanh Hoa để xét hỏi. Phì Nam thác bệnh không đến. Việc bèn thôi.

    Cai đội Thanh Hoa là Trần Văn Thịnh đến Kinh làm sổ binh, làm sắc thị giả, cho bổ cai đội, đội trưởng hơn 70 người. Trấn thần biết được sự trạng tâu lên. Vua sai bắt Thịnh giết đi.

    Quản Tàu vụ là Nguyễn Đức Xuyên dâng sổ thuế thuyền buôn hai năm Canh ngọ và Tân mùi. (Tiền thuế hơn 97.500 quan).

    Mùa đông, tháng 10, ngày mồng 1, tại cung Trường Thọ làm lễ điện lớn. Vua thân đến làm lễ. Từ nay mồng một và rằm là lễ điện lớn, lấy làm lệ thường. Trước là vua sai bộ Lễ bàn về nghi tiết tế đông hưởng. Bộ thần tâu nói: “Thiên Vương chế ở Kinh Lễ nói rằng: Vua có tang ba năm thì không đi tế. Duy có tế Trời Đất Xã Tắc thì tạm bỏ tang mà tế. Không vì ngôi thấp mà bỏ ngôi cao được. Sách Tế nghĩa của Hạ Tuần nói: Theo lễ người có đại tang không dự tế, vì tế là việc cát. Là vì nghĩa chẳng những ở người sống, mà tình ông cha đã chết cũng đều thương xót. Năm Kiến Long nhà Tống, khi mới có tang Chiêu hiến Đỗ Thái hậu, Thái thường lễ viện xin đình lễ hưởng ở Thái miếu, đợi an táng rồi sau sẽ theo lệ cũ. Suy theo ý lễ, xét việc đời trước, thì ngày mồng một tháng mạnh đông năm nay nên tế điện ở bàn thờ Hoàng thái hậu, mà lễ đông hưởng ở Thái miếu thì nên tạm đình, đợi sau khi an táng sẽ làm”. Vua y lời tâu. Rồi hạ lệnh từ năm nay trở đi, cứ tế Chạp rồi mới làm lễ hưởng, sai hoàng tử hoàng thân tế thay.

    Thành thần Gia Định là Nguyễn Văn Nhân và Trịnh Hoài Đức cùng các trấn thần dâng sớ xin vào viếng tang.

    Vua xuống chiếu dụ rằng: “Việc hiếu của nước là lễ lớn, lòng người tôi con trong ngoài như một. Nhưng giữ chức vụ ở nơi bờ cõi, không thể ai ai cũng đến viếng được. Vậy Hoài Đức cứ đến còn Văn Nhân thì nên ở lại trông coi việc thành; các trấn thần thì mỗi trấn một người, sang năm cùng đi với chuyến vận tải”.

    Đặt đàn chay lớn ở chùa Thiên Mụ. Do trạm đưa thầy tăng ở Gia Định về Kinh.

    Nước Chân Lạp sai sứ đến cống, và xin đổi quốc hiệu làm Ân Di Bắc Phủ Lài. Vua cho vào yết kiến ở tiện điện, hỏi về việc nước của vua Phiên. Sứ giả thưa rằng: “Nước chúng tôi giữ được đất đai, dân vật yên ổn, đều nhờ ơn đức thiên triều che chở”.

    Vua nói: “Nước ngươi là thần thuộc của triều đình từ lâu. Lấy nước lớn yêu nước nhỏ là trách nhiệm của trẫm, mà săn sóc vun trồng là đạo của trời, chứ có ơn đức gì đâu”. Nhân hỏi vương đệ là Nặc Nguyên và Nặc Yêm ở đâu. Sứ giả thưa: “Nghe nói đều vào ở chùa cả”. Vua nghĩ thương. Sứ giả lại đem việc quốc hiệu để xin. Vua nói: “Quốc hiệu cũ đã đẹp rồi, cần gì phải đổi”. Hơn một tháng sứ giả về nước. Sai trả lại những đồ cống. Lại viết thư cho vua Phiên rằng: “Xem biểu của vương, khen lòng thành thực. Vừa đây hỏi sứ thần mới biết rõ việc hai em của vương. Vả tổ tiên của vương đều nhờ Tiên triều che chở; tiên phụ của vương là bề tôi trước của trẫm, mà anh em của vương đều là người con mồ côi của tiên phụ vương, nay vương là anh cả được chịu tước phong, hai em cũng là ruột thịt rất thân, tình ý há nên chia rẽ. Vương nên thể theo lòng trẫm, nghĩ đến đạo trời, bảo cho hai em nghĩ đến tình cùng gốc, chớ lấy thế vị mà khuynh loát nhau, chớ lấy hình tích mà ngờ ghét nhau, làm sao cho luân thường được hậu, nhà nước yên hòa, để không làm đổ cơ nghiệp của tổ tiên của vương, để xứng ý dựng nước phên dậu của trẫm. Còn quốc hiệu của vương, tự tổ phụ vương dựng nước đã định danh rồi, không cần thay đổi làm gì. Vương nên tuân theo”. Nặc Chăn được thư, rất cảm tạ.

    Vua nhiều lần cùng bầy tôi bàn về lễ tang của các triều đại. Tham tri Lê Chánh Lộ đem sách Ngũ lễ thông khảo tiến lên. Vua mỗi khi ngự ở tiện điện là sai thị thần đọc, nước đồng hồ xuống 12 khắc mới nghỉ.

    Làm quách đá. Lê Cẩn ở Nội đồ gia đem cách thức dâng lên. Vua thân tự xét định, sai trấn thần Thanh Hoa đốc thợ đá làm đúng theo thức.


    Nguyễn Khắc Thiệu tự Bắc Thành vào viếng tang. Vua hỏi công việc ở thành, Khắc Thiệu thưa bày rất kỹ. Nhân có cha mẹ già xin về thăm. Vua y cho.

    Người Hương Trà được hai bản sách vàng cũ, hủy trước đi một bản rồi sau mới dâng. Dinh thần Quảng Đức bắt và tâu lên. Vua nói: “Dân dốt không biết chữ, trách làm gì lắm”. Sai tha cho.

    Lấy Chưởng Tiền quân Nguyễn Văn Thành làm Khâm sai chưởng Trung quân, Chưởng Hữu quân Nguyễn Hoàng Đức làm Khâm sai chưởng Tiền quân, Chưởng Thần võ quân Phạm Văn Nhân làm Khâm sai chưởng Hữu quân. Đổi mười cơ Tiền quân làm mười cơ Trung quân, hai vệ Tiền bảo nhất, nhị, làm hai vệ Trung bảo nhất, nhị, năm đội Tiền sai làm năm đội Trung sai, mười cơ Trung quân làm mười cơ Tiền quân, hai vệ Trung bảo nhất nhị làm hai vệ Tiền bảo nhất, nhị, năm đội Hữu sai làm năm đội Tiền sai, mười cơ quân Thần võ làm mười cơ Hữu quân, hai vệ Võ bảo nhất, nhị làm hai vệ Hữu bảo nhất, nhị, năm đội Võ sai làm năm đội Hữu sai.

    Bình Định và Phú Yên bị lụt, nhà cửa của quân dân trôi mất nhiều, có người chết đuối. Vua sai Vệ úy Tôn Thất Bính và Tham tri Nguyễn Hữu Thận đi phát chẩn. Dụ rằng: “Nhà nước tích trữ đều là ở dân ra, chẩn cấp cho dân bị tai nạn không thể tiếc phí được”. Bọn Bính đến nơi phát gạo ở Phú Yên hơn 19.000 phương, gạo ở Bình Định hơn 4.800 phương, chia hạng để chẩn cấp. (Hạng bị tai hại lắm mỗi người 3 phương gạo; hạng thứ mỗi người 2 phương; hạng thứ nữa 1 phương 15 bát; trẻ con một nửa). Nạn dân sống được rất nhiều. Khi bọn Bính chưa đến, trấn thần Bình Định là bọn Vương Văn Học trước đã tùy tiện phát gạo muối chẩn cấp cho dân, dâng sớ xin chịu tội. Vua nói: “Giữ chức chăn nuôi dân phải nên như thế chứ có tội gì”.

    Hạ lệnh cho các địa phương chẩn cấp cho dân đói không phải đợi trả lời. Chiếu rằng: “Tai trời lưu hành xưa nay đời nào cũng có. Thương người bị tai, xót người mắc nạn, chính sách nhân từ lấy đó làm đầu. Nếu các địa phương chợt có tai nạn nên chẩn cấp mà đợi tâu báo thì chậm quá, đã không phải là ý thương dân của triều đình, lại không phải chức chăm dân của thú mục. Từ nay phàm chợt có lụt hạn cấp thiết trước mắt thì quan dinh trấn phải thân đi khám xét ngay, chẩn cấp trước rồi sau tâu. Nếu năm nào mất mùa, ruộng lúa tổn hại, thì phải tâu trước kỳ”.

    Đổi Phó tướng Trung quân là Hoàng Văn Điểm làm Phó tướng Tiền quân, đi thú Bắc Thành.

    Triệu Chưởng cơ lãnh trấn thủ Bình Định là Vương Văn Học về Kinh; lấy Vệ úy Thị trung là Hoàng Công Lý lãnh Trấn thủ Bình Định.

    Miễn thuế thân và dao dịch cho những người họ Lê tản cư. Chi hệ họ Lê tản cư ở hai xã Tam Lư và Bất Căng (thuộc huyện Lôi Dương trấn Thanh Hoa), dân sở tại bắt chịu thuế thân và dao dịch. Lê Duy Hoán xin ghi vào sổ là dòng dõi họ Lê, được tha miễn như lệ. Vua y cho.

    Giảm thuế hương cho dân Nghệ An. Hai đội Phan Long và Cát Sơn huyện Thạch Hà mỗi năm mỗi người nộp 1 cân tốc hương, nộp thay trầm hương bằng tiền 10 quan, gần đây bổ thiếu, không thể nộp được. Trấn thần tâu lên. Bèn bỏ ngạch thuế tốc hương, mà giảm tiền thuế trầm hương, mỗi năm mỗi người nộp 6 quan. Thuế trước còn thiếu đều miễn. Lại tiền thuế trầm hương của xã Chi Quan huyện Kỳ Anh cũng giảm như thế.

    Tháng 11, lấy Tống Phước Lương và Lê Quang Định sung Sơn lăng sứ, sai cùng Trịnh Hiến và Lê Duy Thanh xem chọn kiểu đất đẹp cho sơn lăng. Duy Thanh vẽ đồ để dâng (thuộc xã Định Môn), sai bói thì tốt. Vua bèn đến xem.

    Bọn Tống Phước Ngoạn, Trần Văn Trinh và Phạm Văn Toán từ nước Xiêm về. Vua hỏi về Xiêm La và Chân Lạp. Bọn Ngoạn thưa rằng: “Nặc Chăn ơn ta mà thù Xiêm, nước Xiêm chưa hết giận, việc Chân Lạp hẳn là chưa xong được”. Vua cho là phải.

    Vua cùng bầy tôi bàn đến tình hình nhân dân, thói tệ quan lại.

    Dụ rằng: “Gần đây lụt hạn xảy luôn, đời sống của dân ít thỏa. Trẫm nghĩ chăm nuôi dân tai nạn hơn con trẻ, ấp ủ bú mớm còn sợ không kịp, huống quan tham lại nhũng lại theo mà bóc lột à! Phàm yêu trâu trước phải trừ con mòng, yêu dân trước phải trị kẻ lại, đó là lời thông luận về chính sự”. Nhân sắc cho các địa phương từ nay hễ đến kỳ thu thuế thì quan dinh trấn đều một người ngồi thu, nghiêm cấm nha lại và lính kho không được làm khó khăn để sách nhiễu, kẻ nào dám làm khổ dân thì giết không tha.

    Lục xét tù tội, thả thân thuộc của người phạm trốn. Chiếu rằng: “Cấm kẻ gian răn kẻ ác là lệ công của phép nước; thương tù ngục, hoãn hình phạt là việc lớn của vương chính. Gần đây các nha môn xét hình, đặt phép bắt trộm cướp, trộm cướp có trốn thì bắt giam vợ con, trải năm không cho ra. Nhưng can phạm điều cấm là tội một người, vợ con có tội gì, nếu nhất khái bắt giam, cho ở lẫn trong nhà tù, ngày dồn tháng chứa, nỗi u uất không bày tỏ được, thực rất không phải là ý thương xót. Vậy hạ lệnh cho các quan địa phương đều lục xét tù tội, phàm vợ con phạm trốn, không đáng giam giữ thì thả cho về để yên nghiệp làm ăn”.

    Từ Quảng Bình trở về Nam gạo đắt. Hạ lệnh cho các cửa ải bến đò sở tại, phàm thuyền buôn chở gạo vào cửa biển, không được hà khắc quấy nhiễu, để cho hạt gạo được lưu thông.

    Bọn giặc ở Bắc Thành là bọn Nguyễn Đăng Bích, Nguyễn Danh An 16 người vì đầu thú được miễn tội, theo thành bắt giặc. Thành thần muốn bọn Bích hết sức, tâu xin cho chức quan. Hạ lệnh cho Bích làm Trưởng hiệu, bọn An đều làm Cai đội.

    Vua ham xem sử các đời trước, thường vời bọn văn thần là Vũ Trinh, Trần Hựu vào đọc sách Lịch đại thông giám và cùng bàn về trị loạn đắc thất, mãi đến mặt trời xế mới thôi.

    Quan Bắc Thành tâu xin lấy câu kê, thủ hợp cùng văn hàn ở Tiền quân và Hữu quân sung bổ làm thư ký, cai án, tri bạ các trấn. Vua theo lời xin. Sai đình thần truyền dụ rằng: “Những người giúp việc tạp lưu, muốn dùng thì không xét không được, nếu là người ngay thẳng siêng năng, nên cử thì cử. Không thế thì hoặc có kẻ lười biếng, hoặc có kẻ tham nhũng, tội cử nhầm người tất phải giao quan nghị xử. Nên cẩn thận đấy”.

    Sông Nhĩ Hà lở, nhà cửa dân huyện Hoài Đức hư hỏng nhiều, thành thần xin khiến dân cư các phố ở thành tự đem gạch đá và cây gỗ làm kè đá khác để ngăn giữ.

    Vua nói: “Nước sông gây hoạn nạn, dân chúng thở than. Nhà nước không thiếu gì của, không nên so tính với dân. Vá đắp kè đá, đắp rồi lại lở, không phải là kế lâu dài”. Sai xuất tiền kho 47.000 quan thuê dân đắp đê mới (từ phường Đông Hà đến cửa ô Ông Tượng 108 trượng) để bảo vệ.

    Lại sửa cống ở Khê Ôi (tên xã thuộc huyện Kim Bảng) trấn Sơn Nam. Khê Ôi trước có cống, năm Gia Long thứ 2 xã dân xin bỏ đường đê, nhân đấy bỏ cống. Đến nay xã dân lại xin. Thành thần cho là nên theo ý nguyện của dân, cho nên sửa lại. Sai Phó tướng lãnh Đê chính là Nguyễn Văn Hiếu trông coi công việc, tính dùng nhân công vật liệu hết hơn 6.000 quan tiền. Vua lại thấy thế nước sông Nhĩ Hà chảy xói mà xã Xuân Canh và xã Lực Canh (thuộc huyện Đông Ngàn trấn Kinh Bắc) dòng sông quanh co, muốn khai một dòng sông khác cho nước chảy thẳng. Bèn sai Lê Chất thân đến nơi xem vẽ hình thế, nêu rõ lợi hại, để tâu lên. Chất dâng sớ nói: “Dòng sông chỉ nên thuận theo tự nhiên, nếu nay khai một dòng khác thì nước sông cũ chưa hẳn là tiêu đi mà nước lạch sông mới vỡ chảy ra bên, mối hại lại không nói xiết”. Vua khen phải. Việc ấy bèn thôi.

    Cho hai vệ Trung hầu và Nội trực lệ thuộc vào quân Thị nội.

    Triệu Cai bạ Bình Định là Nguyễn Văn Diên, Ký lục là Ngô Đình Giới về Kinh; lấy Tăng Địch và Trần Văn Tính thay.

    Thống lĩnh thượng đạo Thanh Hoa là Hà Công Thái cử người thuộc hạ là Tri bạ Lê Tuần Trì làm Tri huyện Cẩm Thủy. Trấn thần tâu cho. Vua nói: “Huyện lệnh là chức gần dân, triều đình tự có phép tuyển chung, sao lại khinh suất bổ cho người riêng. Huống chi hai huyện Thạch Thành và Cẩm Thủy trước không đặt quan. Công Thái không nên xin riêng, trấn thần không nên đem việc ấy tâu lên”. Bèn không cho.

    Công Thái lại vì con là Công Dâu họp đảng trộm cướp, sợ hãi xin chịu tội.

    Vua xuống chiếu bảo rằng: “Xem lời ngươi tâu thấy ngươi một dạ trung thành, còn con ngươi làm giặc thì triều đình đã có phép thường. Ngươi không may gặp phải đứa con hư hỏng ấy nó đã tự hại thân nó trẫm không nỡ bắt tội ngươi”.

    Sai Thái Nguyên mộ binh giữ bảo Đồng Mỏ. Quan quân đóng thủ ở Đồng Mỏ không quen thủy thổ, sinh nhiều bệnh tật, thành thần tâu lên. Bèn sai trấn thần mộ dân ngoại tịch sung làm nghĩa binh cấp cho lương xướng để tự giữ lấy.

    Người Xiêm La là Hà Vũ đi thuyền buôn đậu ở Long Xuyên. Có người đàn bà Xiêm nói là Hà Vũ vỗ nợ người Xiêm mà trốn. Thư ký Long Xuyên là Nguyễn Văn Minh, Cai đội là Hoàng Văn Giao, Thủ hợp là Trần Quang Hiên tham hối lộ, thu lấy thuyền của Hà Vũ cho người đàn bà Xiêm kia quản nhận ra biển mà đi. Hà Vũ kiện ở thành Gia Định. Việc tâu lên. Vua nói: “Bọn Minh bỏ pháp luật, làm lợi riêng, khác gì kẻ cướp!”. Hạ lệnh chém và tịch thu gia tài, cấp trả thuyền và hàng hóa cho Hà Vũ.

    Quan Bắc Thành tâu nói: “Những cửa ải và bến đò ở Cao Bằng và Thái Nguyên, đời Lê trước đã có chỗ nhất định, từ khi giặc Tây Sơn đặt thêm ra để đánh thuế bừa, dân buồn khổ lắm”. Vua giao xuống đình thần bàn. Phàm những chỗ giặc Tây Sơn đặt ra khiến bỏ đi hết, người buôn mới được khỏi khổ. (Đời Lê trước, ở Cao Bằng cửa ải chính có 11 sở, cửa ải nhánh có 3 sở; Ngụy Tây đặt thêm 5 cửa ải chính và 5 cửa ải nhánh. ở Thái Nguyên cửa ải chính 12 sở, cửa ải nhánh 2 sở: Ngụy Tây đặt thêm 5 cửa nhánh).

    Tháng 12, lấy Phó tướng Trung quân là Nguyễn Văn Vân làm Đô thống chế Tiền thống chế Tiền dinh quân Thần sách.

    Lại lấy Văn Nguyên làm Vệ úy vệ Hậu nhất Thị trung, Thuộc nội cai đội Nguyễn Văn Nguyên làm Phó vệ úy vệ Hữu nhất.

    Vua xem cổ sử nhân bảo Phạm Như Đăng rằng: “Đời thịnh nhà Hán nhà Đường đều làm nhân chính, nhẹ dao dịch, ít thuế má, thiên hạ do đó mà giàu vui. Người sau thừa hưởng, lòng tham không chán, nhàm việc võ, đùa việc binh, cuối cùng nên loạn lớn. Mới biết việc trị việc loạn chỉ ở người làm vua làm ra thôi”. Như Đăng cúi đầu nói: “Bệ hạ nói tới điều ấy, thực là phúc cho bốn biển”.

    Võ Trinh dâng bản phàm lệ soạn sử. Sai Nguyễn Văn Thành sung chức Tổng tài, Phạm Như Đăng làm Phó.

    Nguyễn Văn Thành dâng sách Võ bị chí và sách Tứ di loại chí. Sai Thị thư viện thu cất.

    Tha thuế cho người Man hoang ở Bình Hòa và giảm tiền thuế lá trầu cho các sách Man. (Man hoang nguồn Nha Trang mỗi năm nộp tiền thuế 1.000 quan; sáu sách Man Thượng Sai, Phú Ân, Thủy Tuần, Khế Giang, Bồng Bôn. Cam Ranh mỗi năm nộp tiền thuế lá trầu hơn 5.170 quan. Năm nay dân Man tản trốn đi, giá trầu ngày rẻ, bèn ra lệnh tha thuế cho người Man hoang, còn thuế lá trầu thì sai trấn thần giảm giá mà thu).

    Tha thuế thân cho dân biệt nạp gỗ lim ở Nghệ An.

    Thổ phỉ ở Lạng Sơn cướp bảo Bình Gia. Cai đội Trần Văn Long đánh giặc bị chết, tặng Cai cơ.

    Thổ phỉ ở Tuyên Quang là Hoàng Văn Thái họp đảng đánh bảo Tụ Long. Trấnthầnsai tuyên úy là Ma Sĩ Trạch đem quân đi đánh, bắt được đồ đảng và khí giới rất nhiều. Thưởng cho Sĩ Trạch mũ áo và 100 lạng bạc, 200 quan tiền.

    Lấy Thuộc nội cai cơ Nguyễn Văn Giám làm quản cơ cơ Trung kích.

    Nước Vạn Tượng sai sứ đến cống, lại đưa trả về hơn ba chục người lính trốn. Vua bảo Nguyễn Văn Thành và Phạm Như Đăng rằng: “Vạn Tượng đã nộp lễ cống hằng năm lại trả lính trốn về, đủ thấy lòng thành thực. Nên nhân đấy ban chiếu khen ngợi để cho yên lòng. Nếu bọn Lê Đoàn và Trịnh Vân đến theo thì họ tất sẽ bắt trói đem dâng. Thế là Vạn Tượng là nước phên giậu miền thượng đạo của ta đấy”. Sứ giả vâng mang chiếu về.

    Sai Cai đội Nguyễn Quang Hiến đem việc quốc tang báo cho nước Xiêm. Hạ lệnh cho thành thần Gia Định chọn một người có văn học cùng đi.

    Em quốc vương Chân Lạp Nặc Chăn là Nặc Nguyên trốn đến Phủ Lật(1. Tức Pursat.1) (tên phủ), nhiều tội nhân trốn của nước ấy đi theo, sửa sang binh khí để tự giữ, xin cắt cho đất ba phủ (Phủ Ca Khu, phủ Lòng, phủ Trung) để ở, lại sai người cầu viện với Xiêm, Xiêm sai tướng là Phi Nhã Nhâm Ba Lạc đóng quân ở Bắc Tầm Bôn, thế rất dữ tợn. Nặc Chăn sợ, báo gấp cho Gia Định. Tổng trấn Nguyễn Văn Nhân đem việc tâu lên.

    Vua triệu bầy tôi bàn. Nguyễn Văn Thành, Lê Văn Duyệt tâu nói: “Xiêm La cùng ta kết nghĩa hòa hiếu, nếu gây binh đao thì lợi hại thực không nhỏ. Vả anh em Nặc Chăn không hòa với nhau, trước đã không có cớ gì mà xin quân, làm nhọc triều đình phải một phen thu xếp, nay tờ biểu ấy chưa thể tin được. Xin hạ lệnh cho thành thần hịch cho một tướng ngoài biên đem quân đi tuần ở biên giới để xem hư thực, rồi sau sẽ cất quân”. Vua cho là phải.

    Chiếu báo cho Nguyễn Văn Nhân rằng: “Trước kia quân Xiêm đã lui, nay lại trở lại, chưa biết ý ra sao. Nặc Chăn là phên giậu của ta, nếu có sự hoãn cấp thì không lẽ ngồi nhìn, nhưng việc binh cũng không thể khinh động. Nên sai trấn thủ Định Tường là Nguyễn Văn Thụy đem quân đến La Bích, nói phao là đi lấy gỗ, để viện trợ ngầm”.

    Quân Văn Thụy chưa đến thì Nặc Chăn lại dâng biểu xin quân. Bèn hạ chiếu cho Văn Nhân lấy quân đồn Uy Viễn để chờ phát và răn rằng: “Phàm việc ngoài biên phải bình tĩnh mà trấn giữ, thong thả mà xem biến chuyển, cẩn thận chớ nên gây hấn trước”.

    Sai Tham tri Binh tào Bắc Thành là Vũ Đức Thông quyền lãnh Đê chính.

    Triệu Cống sĩ viện thị học là Lê Đăng Doanh về Kinh, thành Gia Định tâu xin lưu lại, bèn cho chức Tri bạ, để làm công việc thành.

    Lấy Thượng bảo thiếu khanh Phạm Như Phong làm Cai bạ Chính dinh tri tàu vụ.

    Quan Bắc Thành xin đặt thêm cai huyện và ký huyện để coi thu tô thuế. Vua nói: “Triều đình đặt quan là vì dân, quan nhiều thì rối dân”. Không cho.

    CHÍNH BIÊN


    ĐỆ NHẤT KỶ - QUYỂN XLIV

    THỰC LỤC VỀ THẾ TỔ CAO HOÀNG ĐẾ

    Nhâm thân, Gia Long năm thứ 11 [1812] (Thanh - Gia Khánh năm thứ 17), mùa xuân, tháng giêng, định lại lệnh cấm bán riêng và chở trộm đồng kẽm. Vua bảo bầy tôi rằng: “Đúc tiền cốt để cho đủ dân giàu nước, mà đồng kẽm là vật sinh ra tiền, nếu không đặt rõ phép cấm thì bọn buôn tích trữ, nguồn của dễ tắc. Vậy lại ra lệnh cấm để ban hành”. (Người dân ai đem đồng kẽm mua bán riêng với nhau và vận chở theo đường thủy, đường bộ đều trị 70 roi, tính tang vật theo giá nhà nước thành tiền mà truy [cả tang và tiền] thu vào nhà nước. Như hai người mua bán cùng phạm thì người bán mất tang vật, người mua mất tiền giá hàng. Người phạm một mình thì tang vật và tiền giá đều phải chịu cả. Người nào tố cáo được thực thì tang vật thu vào nhà nước, tiền giá sung thưởng. Trong bọn kẻ nào tự thú thì được miễn tội mà không có thưởng, số tang vật phần mình thì nhà nước mua cho và trả đúng giá. Quan quân dân thứ có chứa riêng đồng kẽm thì hạn trong một tháng phải nộp vào nhà nước, ở Kinh do Nhà đồ, ở ngoài do quan địa phương chiếu giá thu mua. Ai cất giấu mà phát giác ra thì theo luật mua bán riêng mà luận tội. Bang thuyền chở vật hạng, có người dám chở trộm và cùng nhau mua bán riêng thì trị tội như lệ. Những người quản vận cố ý dung túng đều xử 70 roi; kẻ nào nhận hối lộ thì xử tội nặng. Thất sát thì xử 50 roi).

    Sai Tham tri Hộ bộ là Nguyễn Hữu Thận kiêm Phó quản lý Khâm thiên giám sự vụ. Hữu Thận giỏi về sao và lịch, sang sứ nước Thanh học được lịch pháp, thuật càng thêm tinh. Vua từng cùng bàn về thiên tượng, rất khen ngợi.

    Vua nước Chân Lạp là Nặc Chăn nghe tin quốc tang dâng biểu xin đến Kinh tiến lễ. Vua cho thư dụ rằng: “Lòng kính thuận của vương, ta rất khen ngợi. Tuy nhiên, đường sá xa xôi, một mình ta thương xót đau buồn, không muốn làm nhọc vương muôn dặm thang non bè biển. Xin vương đừng đến”.

    Nặc Chăn sau sai sứ giả đem lễ đến dâng.

    Ngày Tân mão, xây lăng ở Định Môn. (Ở phía tả bảo thành dựng tẩm điện, nhà chính và nhà trước đều một; ở tả hữu phối điện đều một; một nghi môn đằng trước: chu vi xây tường gạch; các núi trồng thông khắp). Sai Sơn lăng sứ là Tống Phước Lương và Lê Quang Định trông coi công việc, Trần Quang Thái làm Giám tu, thưởng cho các quân 3.000 quan tiền. Vua nhiều lần đến xem. Gặp một hôm gió tây hơi mạnh, trên lăng có chiếc nhà tranh đổ, vua lánh xuống chỗ lõm, bị thương ở chân. Quan quân không ai là không sợ hãi tái mặt. Hoàng tư và các đại thần tranh nhau dắt đỡ. Vua yên ủi nói: “Không can gì. Quan quân được vô sự chứ? Hoàng bảy Tấn, hoàng tám Phổ, hoàng chín Chẩn đều bị thương nặng. Quân nhân có người chết. Bầy tôi đều nói Quang Thái vâng làm sơ suất, xin trị tội đại bất kính. Vua nói: “Đó là tình cờ thôi. Quang Thái làm thế nào với gió được? Miễn tội cho”. Một lát vua cho vời những cụ già ở Định Môn hỏi thăm đời sống của dân, các cụ nói dân ít ruộng. Ra lệnh cho dân 500 quan tiền, 500 phương gạo, lại sắc cho các quân không được đi riêng xuống làng. Có ai đau ốm thì quan cho thuốc chữa.

    Cho 20 cụ già ở Tống Sơn về Kinh, mỗi tháng cấp cho mỗi người 3 quan tiền và 1 phương gạo.

    Sai Hoàng tư thay làm lễ điện buổi sáng buổi chiều ở cung Trường Thọ. Hoàng thái hậu băng, vua thương xót đau đớn không xiết, sớm chiều đều thân làm lễ điện. Tới đây vua chân đau chưa khỏi, mới sai Hoàng tư tế thay. Hoàng tư vâng mệnh rất cẩn thận, không dám chút trễ. Vua rất khen ngợi.

    Tháng 2, triệu Đốc trấn Thanh Hoa là Tôn Thất Chương về Kinh; lấy Chưởng cơ Vương Văn Học làm Phó đô thống chế Hữu dinh quân Thần sách, lãnh Phó đốc trấn Thanh Hoa. Học đến Nghệ An, bị bệnh chết ở đường. Lại sai Chương ở lại làm việc trấn.

    Ngày Canh thân tế Trời Đất ở đàn Nam giao.

    Hạ lệnh cho các địa phương từ nay các thuế đinh điền và cửa ải bến đò đều nộp nửa bạc nửa tiền. Có ai xin nộp toàn bạc cũng cho.

    Vua đi thăm sơn lăng. Hoàng tư cùng các đại thần đều theo hầu. Đến khi đào huyệt, thấy có đất ngũ sắc, lòng vua mừng lấy làm điềm tốt. Bầy tôi đều khen mừng, duy Nguyễn Văn Thành không hưởng ứng. Vua hỏi vì sao? Thành vội thưa rằng: “Đất ấy chưa đủ làm tốt. Mộ mẹ thần cũng có đất ngũ sắc, mà sắc coi còn tươi nhuần, có thể tốt hơn đất này”. Vua lặng yên. Bầy tôi đều bất bình. Rồi Văn Thành lại nói: “Gần đây xứ Châu Ê có một kiểu đất rất tốt”. Bọn đại thần Phạm Văn Nhân đều nói: “Đã biết đấy có đất tốt, sao không tâu cho vua nghe?”. Văn Thành nói: “Đất ấy tuy tốt nhưng không thể táng được, táng đấy hẳn bị sét đánh”. Vua nghe không đẹp lòng. Hoàng tư quay bảo rằng: “Tây Sơn là bọn tiếm ngụy, tất gặp vạ sét đánh, còn nay là đời thánh minh, được trời giúp đỡ. Đứng trước mặt vua, khanh sao vội nói những câu như thế?”. Văn Thành tự biết mình nói sai rồi, xấu hổ sợ hãi, lùi đi nơi khác.

    Lấy trợ giáo Sơn Nam thượng là Dương Vịnh làm Đốc học, Hương cống đời Lê là Nguyễn Huy Chung làm trợ giáo.

    Quảng Bình mưa đá.

    Lưu thủ Quảng Đức là Tôn Thất Huyên về đinh ưu. Lấy cựu Lưu thủ Nguyễn Huy làm Lưu thủ Quảng Đức, cựu Hiệp trấn là Ngô Đình Siêu làm Cai bạ Quảng Đức.

    Đốc học Sơn Nam hạ là Nguyễn Huy Đảng vì cha mẹ già xin về nuôi. Vua y cho. Lấy trợ giáo Kinh Bắc là Lý Trấn Tấn làm Đốc học Sơn Nam hạ, Hương cống đời Lê là Ngô Đình Hương làm trợ giáo Kinh Bắc.

    Đặt thêm kho Kinh.

    Quảng Ngãi hạn.

    Hiệp trấn Nghệ An là Ngô Nhân Tĩnh ốm, dâng biểu xin kỳ nam. Vua cho.

    Thổ phỉ Thanh Hoa là Nguyễn Tuấn tự xưng là Hổ uy đô thống, tụ đảng ở Nghệ An, lẩn lút ở khoảng Nam Đường, Đông Thành. Quản phủ Diễn Châu là Lê Văn Quân đem quân đi tuần bắt, bị Tuấn giết chết. Việc tâu lên. Vua thấy lính trấn chưa giỏi đánh trận, muốn lấy lính Kinh ra đánh riết, bèn sai Đô thống chế Trung dinh quân Thần sách là Trần Công Lại quản lãnh quân vệ Long võ ra kinh lược Nghệ An. Triệt án thủ Hà Trung là Phan Công Nghĩa về trấn, lấy 500 binh tinh mạnh lệ theo. Lại sai Phó đô thống chế Tả dinh là Trịnh Ngọc Trị đem hơn 1.000 người binh Kinh đóng ở đồn Thổ Sơn chia đường ngăn chẹn.
    :rose: