077. Trang [0836-0847] - @Orion Khoai Môn (done)

26/11/15
077. Trang [0836-0847] - @Orion Khoai Môn (done)
  • Sau thấy địa phương hơi yên, triệu Trần Công Lại và Trịnh Ngọc Trí về Kinh.

    Lại lấy Chưởng cơ Lê Phước Điến hành chức Vệ úy vệ Uy võ, đóng giữ bảo Hà Trung.

    Hạ lệnh cho các quân lính cùng bộ viện và các thành dinh trấn đều cứ đầu năm làm sổ lương.

    Lấy Đốc học Sơn Tây là Lê Huy Du làm Đốc học Hoài Đức, trợ giáo Nguyễn Lý làm Đốc học Sơn Tây, Hương cống đời Lê là Nguyễn Tập làm trợ giáo.

    Sai bộ Lễ đem ngày ninh lăng cáo khắp trong ngoài.

    Các thành dinh trấn dâng sớ xin đưa đám. Cho Tổng trấn Bắc Thành là Nguyễn Hoàng Đức và các quan ở dinh trấn đều cử một người về Kinh.

    Ngày Ất mùi, đúc sách vàng tôn thụy.

    Tháng 3, ngày Mậu dần, vua đem bầy tôi bưng sách vàng dâng tôn thụy Đại hành hoàng thái hậu là ý Tĩnh Huệ Cung An Trinh Từ Hiến Hiếu Khang hoàng hậu. Bài sách nói: “Thần nghe Kinh Dịch khen Đất gây nên vật, Kinh Thi khen Trời sinh ra dân. Nghĩ đức dày thể theo đức chí nguyên; nên tiếng tốt lưu truyền đời mãi mãi. Kính nhớ Đại hành hoàng thái hậu: nhân từ giữ được tính trời, rộng lớn sách cùng nết đất. Gian nan bền chí, giúp đỡ cha hiền. Từ khi vận nước gặp tai, giúp thần bao phen khó nhọc. Đem mình làm khuôn mẫu, chăm lo việc cơ mưu. Cho thần dựng lại nước nhà, thống nhất bờ cõi; ví không nhờ ơn dạy dỗ, sao được thế này? Phong hóa tốt đẹp, thơm khắp mọi phương. Tuổi thọ lâu dài, vượt ngoài bảy chục. Vội bỏ lộc thiên hạ phụng dưỡng, mà đi chơi dạo chốn đế hương. Ơn như trời cao, muốn trả không sao được; đức như đất chở, phải tiếp đến vô cùng. Kính cẩn đem bầy tôi, xin mệnh ở Tôn Miếu, phụng sách vàng dâng tôn thụy là ý Tĩnh Huệ Cung An Trinh Từ Hiến Hiếu Khang hoàng hậu. Cúi xin hồn thiêng sáng suốt, nhận lấy danh hay. Sánh hợp tổ tiên, muôn đời phối hưởng”.

    Ngày Kỷ mão, bố cáo khắp trong ngoài. Chiếu rằng: “Trẫm nhớ: tôn sùng việc hiếu là điều trị nước đầu tiên; kính dâng hiệu hay là điển lễ rất lớn. Cho nên việc nêu danh tiếng không dám để chậm lại sau. Nay kính rước Đại hành hoàng thái hậu lên tiên chầu trời, vâng xét phép thường, tiến dâng thụy hiệu. Ngày mồng 5 tháng này kính cáo Tôn Miếu, ngày mồng 6 thần đem bầy tôi phụng sách kính dâng tôn thụy là ý Tĩnh Huệ Cung An Trinh Từ Hiến Hiếu Khang hoàng hậu. Sáng tỏ hay chương, rệt nêu đức tốt. Ôi! Nghĩa đất kính trời là hiếu, lễ tôn xưng đầu trọng đổi danh; đạo dân phép vật theo thường, gương thùy hậu lâu dài ban phúc”.

    Dựng hành cung Bình Định.

    Hiệp trấn Thái Nguyên là Nguyễn Văn Công ốm, nghỉ việc; lấy Tham hiệp Sơn Tây là Lê Viết An thay.

    Em Nặc Chăn vua nước Chân Lạp là Nặc Nguyên đem quân Xiêm về cướp La Bích. Quân Xiêm chia làm năm đạo đánh xuống. Nặc Yêm Nặc Đôn đều chạy sang với người Xiêm. Nặc Chăn bỏ thành chạy về Nam Vang. Vừa quân của Nguyễn Văn Thụy đến, đưa đi Gia Định, nhân đóng quân ở Lô Yêm để giúp dân Chân Lạp dời chạy vào nội địa. Việc tâu lên. Vua sai thành thần Gia Định dựng phiên đế(1) cho ở phía đông thành. Cho Nặc Chăn 3.000 quan tiền, 3.000 phương gạo, 2.000 lạng bạc, sa, trừu đều 20 tấm. Bộ lạc 1.500 người đều cấp đủ tiền gạo. Nặc Chăn dâng biểu xin viện.

    [1]. Phiên đế: Chỗ ở của phiên thần tại Kinh đô.

    Vua xuống chỉ ủy dụ rằng: “Anh em nhà ngươi không hòa với nhau, tự gây mối lo ấy. Nay đã nương nhờ ở ta, ta sẽ có phương xử trí để yên nhà nước của ngươi, ngươi cũng nên nghĩ tự cường, sai người viết thư về cáo với thần dân nước ngươi, khiến họ có chỗ hệ thuộc. Lòng người đã yên thì việc về nước của ngươi có thể ngồi mà tính được”. Dụ đến, Nặc Chăn cảm khóc dâng biểu tạ ơn. Lại bắt kẻ bạn thần là Đồng Phù (xưa bị tội với nước, trốn sang Xiêm, đến nay lại về) đưa đến Kinh xin mệnh lệnh triều đình. Vua dụ rằng: “Đồng Phù đã biết ăn năn tội lỗi, ngươi nên đem lòng thực mà vỗ về cho nó vui lòng lập công. Cái lỗi đã qua hà tất bắt tội!”.

    Mùa hạ, tháng 4, lấy Ngô Nhân Tĩnh làm Thượng thư Công bộ hành hiệp tổng trấn Gia Định. Sai Đô thống chế Hậu dinh quân Thần sách là Trần Văn Năng kiêm Phó tướng quân Chấn võ, quản lãnh binh thuyền tiến đóng ở Tân Châu, Trấn thủ Vĩnh Thanh là Lưu Phúc Tường giữ Châu Đốc, cùng với đạo quân Nguyễn Văn Thụy đều lệ theo. Lại sai Trấn thủ Phiên An là Đào Quang Lý đóng giữ Quang Hóa, Trấn thủ Bình Hòa là Nguyễn Đắc đem binh các cơ Hòa Thắng và Thuận Nghĩa theo thành thần Gia Định phân phái việc quân.

    Sai lính ba vệ Bảo thành Gia Định cùng với ốc Nha Chân Lạp là Phủ Lịch giữ phủ Ba Xắc. Trước kia Nặc Ấn lên ngôi, vua lấy phủ Ba Xắc cho. Đất ấy người Hán [Việt], người Đường [Hoa Kiều], người Chân Lạp nhóm ở rất nhiều. Đến nay Chân Lạp không yên, lòng người ngờ sợ. Vua sai thành thần đem quân để trấn. Lại sai Nặc Chăn hiệu triệu các quan phiên đều đem man thuộc chia theo quan quân các đạo điều khiển.

    Sai Hà Tiên, Long Xuyên, Kiên Giang thăm dò tình hình động tĩnh của người Xiêm mà báo lên. Phàm công việc ngoài biên do thành thần Gia Định cứ 5 ngày báo một lần.

    Trưng hương binh ở Gia Định chia làm 35 cơ, mỗi cơ 9 đội, mỗi đội 50 người, chọn những quan viên nghỉ việc người nào quả quyết siêng năng sai làm quản cơ, cai đội để suất lãnh.

    Chiếu rằng: “Gia Định là đất trung hưng, dân thứ các ngươi phục dịch nhọc mệt đã lâu ngày, vốn muốn cho được nghỉ ngơi, nhưng ở biên cương có việc, phải phòng bị trước. Vậy nghị trưng hương binh, cứ 2 đinh thì lấy1, biên thành cơ đội lệ theo trấn để đợi lệnh phát động. Sau khi công việc yên rồi, sẽ thả về nhà. Vả việc điều động ngày nay dẫu có phiền nặng, nhưng có việc thì làm lính, không việc thì làm ruộng, so với quân tòng chinh lâu dài thì cũng yên nhàn hơn. Lại quan viên hưu và nghỉ thuộc thành đều là những người nanh vuốt cũ của ta, nay nên đem hết sức thừa của các ngươi, vì nước chịu nhọc mệt, ngày khác biên cương không còn gió bụi, muốn làm quan hay không muốn làm quan trẫm cũng không cưỡng các ngươi”.

    Hạ lệnh cho thành thần Gia Định cứ các hương binh tại hành mà cấp lương như lệ. Lại cấm dân các trấn không được thông thương với Nam Vang.

    Vua thấy các địa phương bị hạn lâu, xuống chiếu tha tô ruộng năm nay, bốn dinh trực lệ tha 3 phần 10, Bình Định, Phú Yên 4 phần 10, các thành trấn khác 2 phần 10. Tô ruộng năm Tân mùi đều tha 2 phần 10.

    Hạ lệnh cho các địa phương thanh lý việc hình ngục. Vua dụ bộ Hình rằng: “Hình ngục là việc lớn, quan hệ đến sinh mệnh của thiên hạ. Gần đây các nha môn hỏi việc hình, có nơi để ứ đọng án tiết làm lụy cho bình dân, ta rất thương. Vậy hạ lệnh cho sở tại phải xét văn án, soát tội tù, kẻ nào nhẹ thì tha cho, kẻ nào nặng thì tâu xin xử trí, để cho hình được thanh chính được bình, xứng với lòng ta”.

    Định lệ thăng bổ đội trưởng ở các quân. (Phàm đội trưởng suất thập, kể từ năm ứng điểm, định làm ba khóa, lấy 6 năm làm một khóa, mãn một khóa là thực thụ, hai khóa thì đổi làm chánh đội trưởng, ba khóa thì thăng cai đội hậu bổ. Ai đã được 3 khóa, lệ được hậu bổ, mà xin về hưu cũng được, vẫn cho miễn dung dịch. Nếu thập đội trưởng nào có khuyết mà không có người ứng bổ, thì cho quân quan chọn lấy binh lính trong thập, người nào lâu năm sõi việc thì chưởng lãnh cấp bằng làm đội trưởng. Mỗi khi đến kỳ tuyển, quan chưởng lãnh đều chiếu họ tên tuổi quê quán và năm tháng đầu quân làm sổ giao bộ Binh xét, tư sang bộ Lại, chiếu chức nên thăng mà tâu xin bổ thụ. Người nào có quân công được dự thưởng thì không nệ theo hạn này).

    Lấy Ký lục Bình Thuận là Nguyễn Tường Vân làm Hiệp trấn Nghệ An, Thiêm sự Hộ bộ Phạm Văn Nhàn làm Ký lục Bình Thuận, Thiêm sự Công bộ Mai Đức Giai làm Cai bạ Phú Yên, Tham hiệp Hưng Hóa là Lê Văn Nguyên làm Tham hiệp Yên Quảng, Tri phủ Quảng Oai là Nguyễn Đức Tu làm Tham hiệp Hưng Hóa.

    Lấy Cựu ký lục Định Tường là Võ Văn Doãn làm Ký lục Quảng Ngãi.

    Bàn định lễ ninh lăng. Sai Nguyễn Văn Thành, Phạm Văn Nhân, Nguyễn Hoàng Đức sung chức Tổng hộ sứ, Lê Văn Duyệt, Nguyễn Văn Khiêm sung chức Phù liễn sứ, Nguyễn Đức Xuyên đề đốc quân và voi theo hầu hai bên tả hữu, Trần Công Lại và Trương Phúc Đặng coi giữ Kinh thành.

    Ngày Quý sửu, an táng lăng Thụy thánh. Trước mười ngày là ngày Giáp thìn, đem việc kính cáo các miếu. Ngày Kỷ dậu, tế khải điện. Ngày Canh tuất, thuyền ra đi. Qua các tôn lăng đều sai quan đem việc kính cáo trước. Ngày ấy an táng. Ngày Giáp dần dâng tên lăng là Thụy thánh. Rước thần chủ về để ở cung Trường Thọ. Ngày Ất mão, đem việc lễ ninh lăng đã xong cáo ở các miếu như lúc đầu. (Ngày Giáp dần tế sơ ngu, ngày Tân dậu tái ngu, ngày Giáp tý tam ngu, ngày Đinh mão tứ ngu, ngày Nhâm thân mồng 1 tháng 5 tế ngũ ngu, ngày Ất hợi tế lục ngu, ngày Mậu dần tế thất ngu, ngày Tân tỵ tế bát ngu, ngày Giáp thân tế cửu ngu. Ngày Canh dần tế tốt khốc. Từ tế sơ ngu đến tế đàm(1), tả hữu cung tần, hoàng tử, trưởng công chúa, hoàng tôn, tôn nhân phủ, các quan văn võ ở Kinh, các thành dinh trấn ở ngoài, quý hương, công tính, họ Phùng ở An Du và Bùi Xá, cùng dòng dõi họ Lê họ Trịnh đều phụ dâng lễ phẩm).

    [1]. Tế hết tang.

    Thưởng cho binh lính làm việc 8.700 quan tiền, quan thì thưởng một tháng lương.

    Bình Định mưa đá.

    Thổ phỉ ở Thanh Hoa là Lê Duy Phán trá xưng dòng dõi nhà Lê, lẻn vào Nghệ An mưu nổi loạn. Trấn thủ Hoàng Viết Toản đem quân bắt được đồ đảng 9 người. Thưởng cho quan và binh 200 quan tiền.

    Định lệ Bắc Thành, Bình Định và Quảng Nam dâng tiến quả phẩm. (Bắc Thành hằng năm tiến cam ngọt 4.500 quả, vải 4.200 quả, để cúng các lễ nguyên đán và tế hưởng xuân hạ đông; Quảng Nam hằng năm tiến 2.200 quả loòng boong; Bình Định hằng năm tiến 1.000 quả xoài lớn [xoài tượng] để cúng tiết Đoan dương và các ngày kỵ).

    Nguyễn Quang Hiến từ nước Xiêm trở về. Xiêm gửi kèm thư nói duyên cớ nước Xiêm dụng binh ở Chân Lạp.

    Vua triệu bầy tôi làm thư trả lời.

    Vua chăm nghe triều chính, sắc cho các quan theo ngày tới chầu, từ tháng 2, đến tháng 8 thì sáng tinh mơ, từ tháng 9 đến tháng giêng thì sáng rõ, đồng hồ rỏ xuống 9 chuyến thì lui chầu.

    Tháng 5, ngày Đinh sửu, sửa lại miếu Hoàng khảo.

    Ngày Nhâm thìn, vua yết lăng Thụy Thánh. Sai kén 30 người công tính bổ vào hai thuyền An Lão để phụng trực ở Nguyên miếu, dân quý hương những người trước được bổ hai thuyền An Lão cùng với dân trong sổ 84 người sung làm lính lệ để phục sự, dân 11 trang tổng Thượng Bạn trước sung ngạch lính lệ thì triệt hết về, đổi chịu binh dao.

    Người Hương Trà là Nguyễn Hoành Nho dâng nói tám điều. Sai ba bộ Lại, Lễ, Công duyệt tâu. Đều không dùng được. Vua nói: “Để đấy”. Dụ bảo về dân, mà cho miễn dao dịch.

    Chiếu lấy sang năm là năm Quý dậu mở khoa thi Hương: Quảng Đức, Bình Định, Gia Định, Nghệ An, Thanh Hoa, Thăng Long, Sơn Nam thượng, đều đặt trường thi. (Trường Quảng Đức thì học trò Quảng Đức, Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Nam hợp thi; trường Bình Định thì học trò Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Bình Hòa hợp thi; trường Gia Định thì học trò Bình Thuận, Phiên An, Biên Hòa, Vĩnh Thanh, Định Tường, Hà Tiên hợp thi; trường Thăng Long thì học trò Kinh Bắc, Sơn Tây, Hoài Đức, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Hưng Hóa, Tuyên Quang, Cao Bằng hợp thi; trường Sơn Nam thượng thì học trò Sơn Nam hạ, Hải Dương, Yên Quảng hợp thi).

    Sắc cho bộ Lễ bàn gửi cho quy thức thi. Rồi ra lệnh cho trường Bình Định hợp với trường Quảng Đức. Nhưng học trò Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Bình Hòa đến thi đều cấp cho lương đi đường. Hai trường Thanh Hoa, Nghệ An thì thi tháng 3; hai trường Quảng Đức, Gia Định thì thi tháng 7; hai trường Thăng Long, Sơn Nam thượng thì thi tháng 10.

    Định lại điều lệ thi Hương. (Phàm binh lính lại dịch có học mà tình nguyện xin thi, thì binh lính ở Kinh do bộ Binh, ở ngoài do quan địa phương, lại dịch thì do quan sở quản sát hạch, người nào thông văn lý thì được miễn công vụ 3 tháng cho về học tập để đến kỳ vào thi; sinh đồ khoa trước thi trượt vẫn là sinh đồ như cũ; học trò trúng nhị trường thì miễn dao dịch 3 năm, nhất trường thì miễn 2 năm).

    Đổi bổ Phó tướng Hữu quân là Mạc Văn Tô làm Phó tướng Tiền quân.

    Quân Trần Văn Năng đóng ở Tân Châu, chạy thư báo với Gia Định rằng “quân thủy quân bộ Xiêm La rất thịnh, nếu chúng nhân được gió nước thuận chiều thẳng xuống các đạo Hà Tiên, Long Xuyên, Kiên Giang, thì quân tuần biên của ta đầu đuôi bị đánh. Chi bằng đem quân đánh trước Nam Vang để đoạt khí của chúng”. Thành thần đem việc tâu lên.

    Chiếu báo rằng: “Quân Xiêm tuy nhiều không thể làm lo cho ta được, không nên gây bậy hiềm khích ngoài biên. Nếu chúng phát trước thì ta đối phó cũng chửa muộn”. Bèn hạ lệnh cho Mạc Văn Tô đem quân tiến đóng ở Quang Hóa, mà sai Đào Quang Lý dời giữ Xỉ Khê (tên đất, thuộc đạo Quang Hóa) và Thống quản đồn Uy viễn là Nguyễn Văn Tồn giữ Thông Bình, cho theo [Văn Tô] điều khiển. Văn Tô đến, xem hình thế, đắp đồn lũy, cùng Văn Năng thanh ứng với nhau. Quân Xiêm mỗi khi gặp quân ta thì sợ không dám phạm. Trước kia dân ta nhiều người buôn ở Nam Vang; quân ta cũng có người đi lấy củi ở đất ấy; đến khi quân Xiêm đến, thuyền ghe của quân và dân đều bị quân Xiêm ngăn giữ. Đến nay bọn Văn Năng gửi thư trách. Tướng Xiêm là Long Mang bèn đem hết số đưa tới quân thứ của ta (quân dân 163 người, thuyền 35 chiếc) và đem thổ vật biếu Văn Năng, xin cho thuyền dân ở Sa Đéc và Ba Xắc được thông thương với Nam Vang. Văn Năng từ chối. Quân Xiêm từ đó dần dần rút lui.

    Nguyễn Văn Thành trước ở Bắc Thành vay riêng tiền kho 4.500 quan. Đến nay hữu ty đòi. Văn Thành đem việc tâu lên. Vua tha tội và sắc cho không đòi nữa.

    Cho cai đội Nội trực được cấp tiền tuất cũng như cai đội Thị trung.

    Tháng 6, tăng cấp lương hằng năm cho hoàng tử hoàng tôn (tiền 600 quan, gạo 600 phương).

    Chân Lạp dâng 39 thớt voi đực. Sai thành thần Gia Định xuất tiền kho trả đúng giá.

    Tha thuế bạc thiếu cho dân Man Lạng Sơn. Trấn thần lấy việc vì thổ phỉ lấn cướp mà dân Man trốn đi tâu xin miễn cho.

    Thám tử ở Gia Định đều nói Xiêm La bị Diến Điện đánh, đã rút quân về. Nguyễn Văn Nhân đem tình trạng tâu lên và xin lượng để ở Vĩnh Thanh và Định Tường mỗi trấn 2 cơ, chia phiên đóng giữ, còn dư thì thả hết về làm ruộng. Vua theo lời. Thế rồi tướng Xiêm rút về Long úc, đóng quân tự thủ.

    Vua nghe tin bảo bầy tôi rằng: “Yên định được nước người ta không phải là dễ. Người Xiêm hay dối trá, thực giả chưa thể biết được. Một lần cử động thì phải được vạn toàn”. Bèn sai Hà Tiên ủy người đi dò tình hình nước Xiêm. Hạ lệnh cho Nguyễn Văn Thụy và Lưu Phước Tường đều lấy một cơ hương binh theo quân thứ Trần Văn Năng để phân phái phòng ngự, mà rút quân các đạo về.

    Lấy Cai cơ thủy quân là Nguyễn Văn Phú làm Phó quản cơ cơ Tiền thủy, Cai đội Lê Xuân Quang làm Phó quản cơ cơ Hậu thủy.

    Xiêm La sai bọn Sa Trật Sĩ Na đến tiến hương và dâng thư nói rằng vì anh em Nặc Chăn không hòa cho nên sai trọng thần đến là muốn dập tắt mối tranh nhau chứ không có ý gì khác.

    Vua bảo bầy tôi rằng: “Người Xiêm chối, biết là nói dối rồi. Nhưng Trung Quốc với Di Địch nên đãi bằng lòng chí thành”. Vài ngày sau triệu sứ Xiêm đến yết kiến. Vua trách rằng: “Nước ngươi vô cớ dấy quân để cho Nặc Chăn phải chạy, nay lại thác cớ giải hòa là thế nào! Chân Lạp đời đời làm tôi của ta, ta tất phải vì họ mà kinh lý. Ngươi về nói với vua ngươi rằng Nặc Chăn tất phải trở về. Vương đừng dối ta và đừng làm lo cho Chăn thì tình nghĩa tốt với láng giềng, giúp đỡ nước nhỏ mới trọn được”. Sứ Xiêm từ trở ra.

    Trước kia vua sai Nguyễn Quang Hiến đem việc quốc tang cáo với nước Xiêm. Quang Hiến chưa đến, vua Xiêm đã sai Sĩ Na đi trước, vì đường biển bị trở ngại, đến nay mới đến Kinh. Bèn nhân ngày tế điện lớn, sai bộ Lễ dẫn sứ Xiêm theo ban vào viếng, rồi lại đến lăng Thụy Thánh vọng bái. Lúc trở về, tặng cho rất hậu. (Tặng Phật vương 40 lạng vàng, 500 lạng bạc; cho vua thứ hai 20 lạng vàng, 300 lạng bạc). Sai đình thần làm thư trả lời và lấy ý khu xử nước Chân Lạp mà dụ.

    Lấy Thượng thư Hộ bộ là Trịnh Hoài Đức làm Thượng thư Hình bộ. Hoài Đức cố từ, bèn lấy Phạm Như Đăng cho làm.

    Định lệ tiếp ống trạm cho nhà trạm (Ty Lệnh sử sáu bộ, ty Lệnh sử Nội Ngoại đồ gia, ty Lệnh sử tàu, ty Chiêm hậu lại, chia phiên ứng trực, cứ hai ty là một phiên, mỗi ty 2 người, mỗi phiên một ngày một đêm, tiếp nhận ống trạm của nha nào thì giao cho nha ấy nhận).

    Cấp cờ hiệu cho các nhà trạm (viết tên trạm).

    Lấy Chánh phó vệ úy ngoại ngạch thuộc Hữu quân là Trần Văn Quế và Võ Công Nhất làm Chánh phó vệ úy Hữu bảo nhất.

    Lấy Phó vệ úy Nghĩa võ quân Thần sách là Trần Văn Trinh làm Phó vệ úy vệ Hùng cự nhị của Tượng quân.

    Chuẩn định thuế cửa quan ở Bắc Thành nộp vàng thì 1 lạng vàng ngang giá 16 lạng bạc.

    Bỏ thuế cho ba sở mỏ bạc mỏ gang ở Thái Nguyên và Sơn Tây. (Mỏ bạc Đồng Lạc trấn Thái Nguyên, lệ nộp thuế bạc 100 lạng; hai sở mỏ gang Thanh Vân và Cẩm Trạch trấn Sơn Tây, lệ nộp thuế gang 600 cân. Quan Bắc Thành thấy không có người khai mỏ tâu xin miễn thuế).

    Lê Văn Duyệt tâu nói: Sáu cơ Kiên ở Quảng Ngãi phòng ngự bọn ác man chia giữ nhiều ngả, xin lấy các xã thôn ven núi ở ba huyện, tùy đất liền nhau mà đặt làm 27 xóm”. (Trung Tín, Trung Phấn, Trung Võ, Trung Uy, Tiền Sơn, Tiền Vân, Tiền Thuận, Tiền An, Tiền Thái, Tả Dũng, Tả Hùng, Tả Thanh, Tả Sơn, Hữu Nội, Hữu Trị, Hữu Dũng, Hữu Hòa, Hữu An, Nội Bảo, Nội Thọ, Nội Tài, Nội Phú, Nội Lộc, Hậu Tường, Hậu Nghĩa, Hậu Quỳnh, Hậu Thành, mỗi xóm đặt cai xóm phó xóm để trông nom, cho cùng với lính cơ phụ giữ đồn lũy, đều được miễn dao dịch).

    Vua theo lời. Rồi thấy đường núi hiểm vắng, rừng xanh rậm kín, bọn ác man thường thường nhân đó mà rình nấp, bèn sai Phan Tiến Hoàng đem 300 dân xóm đi nhổ cây mở đường để tiện cho quan quân tiến đi.

    Trấn thủ Lạng Sơn là Nguyễn Văn Trị ốm phải nghỉ việc. Lấy Khâm sai chưởng cơ Trung quân là Nguyễn Văn Kiên lãnh Trấn thủ Lạng Sơn.

    Hạ lệnh cho các dinh trấn đều chọn những người văn học uẩn súc ở trong tổng, tuổi từ 50 trở lên, đặt làm Tổng giáo để dạy các lớp sơ học. Rồi đó Bắc Thành lại xin cho người từ 40 trở lên được sung cử. Vua y cho.

    Đổi hai vệ Trung bảo nhất, Trung bảo nhị của Trung quân làm hai vệ Túc bảo nhất, Túc bảo nhị, năm đội Trung sai làm 5 đội Túc sai, lấy Vệ úy Nguyễn Văn Ngoạn quản lãnh.

    Gọi 3.200 người biền binh ở Thanh Nghệ, Bắc Thành và Thanh Bình về Kinh. (Thanh Hóa 300 người, Nghệ An 700 người, Bắc Thành 1.110 người, Thanh Bình 80 người).

    Tàu của người Hồng Mao là ốc Luân đậu ở vụng Trà Sơn, dâng biểu nói năm trước nhà vua mua súng đạn của trưởng tàu là áp Bột Miệt Lăng giá bạc hãy còn thiếu, xin trả cho. Quản tàu vụ là Nguyễn Đức Xuyên đem việc tâu lên. Vua nói: “Người Di Địch chỉ biết có lợi, khó nói nhân nghĩa được. Giá hàng mua năm trước còn ở sổ kia. Gần đây Kê Lê Mân đến xin thêm giá, ta cũng không thèm so đọ, đã cho đủ số rồi. Nay lại tham lam không chán, sở dục biết làm sao cho no được?”. Bèn sai Đức Xuyên làm thư nghiêm trách, và sao cả sổ mua hàng cho xem. ốc Luân được thư xấu hổ và sợ, đi mất.

    Nguyễn Văn Thành dâng thư phong kín nói bốn điều: 1) Xin sớm dựng thái tử và phong tước hiệu cho các hoàng tử để yên lòng người. 2) Xin tiến lãm luật thư, khắc bản in mà ban hành để rõ pháp luật. 3) Xin kén thêm nho thần đệ sung Sử cục. 4) Xin chế phục nước Phiên để chốn biên cương được yên. Vua khen và nhận.

    CHÍNH BIÊN

    ĐỆ NHẤT KỶ - QUYỂN XLV
    THỰC LỤC VỀ THẾ TỔ CAO HOÀNG ĐẾ

    Nhâm thân, Gia Long năm thứ 11 [1812], mùa thu, tháng 7, lấy Trịnh Hoài Đức làm Thượng thư Lễ bộ, kiêm quản lý công việc Khâm thiên giám.

    Sách luật xong. Vua sai Nguyễn Văn Thành và Võ Trinh sửa định các điều luật lệ, phàm 398 điều. (Về hình danh và phàm lệ 45 điều, luật lại 27 điều, luật hộ 66 điều, luật lễ 26 điều, luật binh 58 điều, luật hình 166 điều, luật công 10 điều). Sách gồm 22 quyển. Vua thân tự xét định và làm bài tựa rằng: “Trẫm nghĩ thánh nhân trị nước, hình phạt và đức hóa chưa từng lệch bỏ bên nào. Vì lòng dân có dục vọng, việc đời không bến bờ, nếu không có hình pháp để ngăn ngừa, không thể khiến người theo giáo hóa mà biết đạo đức được, cho nên nói hình pháp là khí cụ giúp cho chính trị, có phải là nói suông đâu! Luật lệnh là lệ để đoán định hình phạt. Người xưa bàn việc mà chế trị, không dùng chém giết, có phải là việc chém giết không thể không dùng được đâu! Chỉ là dân thuần việc ít, còn có thể qua loa được. Nhưng phong hội đã xuống, việc ngụy ngày thêm, hình phạt không đủ để thắng kẻ gian, khoa điều không đủ để dùng vào việc, cho nên luật lệ điều lệnh, dần có tăng lên. Có phải là bởi xưa nay khác nhau mà luật không thể thiếu được đâu! Các triều nước ta tới nay đều có lệnh điển. Từ thuở Tây Sơn nổi loạn, giềng mối đắm chìm, pháp luật tan nát, xảo trá thêm nhiều, tóm lại thì có việc bỏ sót, suy ra thì có chỗ lý chưa rõ ràng. Kẻ ngu thì không biết mà rảo lánh; kẻ ngoan thì dễ dàng mà khinh nhờn. Mà dưới sự tra hỏi, thì ra vào phụ họa, không có căn cứ ở đâu; oan uổng không có chỗ kêu, lòng người nhân há chẳng bất nhẫn lắm sao? Trẫm nhờ uy thiêng của liệt thánh, dẹp yên giặc loạn, thống nhất cõi bờ, ngang dọc sửa sang, hằng lấy giáo hóa làm việc trước, mà việc hình ngục lại càng chú ý hơn. Mở xét sách hình luật các đời, nước ta từ Lý Trần Lê dấy lên, mỗi đời có một chế độ, mà đầy đủ nhất là ở đời Hồng Đức. Trung Quốc thì các nhà Hán Đường Tống Minh dấy lên, sách luật lệnh mỗi đời đều có sửa đổi mà đầy đủ nhất là ở nhà Đại Thanh. Vậy sai đình thần chuẩn theo điển lệnh của các triều, tham chước điều luật của đời Hồng Đức và của nhà Thanh, lấy bỏ cân nhắc, cốt sao cho đúng, mà vựng tập thành biên. Trẫm thân tự sửa chữa, ban hành cho thiên hạ khiến người ta biết được phép lớn cấm ngừa, rõ như mặt trời mặt trăng không thể ẩn giấu. Điều cấm răn dạy nghiêm như sấm sét không thể xâm phạm. Kẻ lại giữ việc quan được vâng làm phép sáng, người dân ngu dốt dễ tránh sự sai lầm, do đó dời đến điều lành, lánh xa trừng phạt, thoát hình ngục mà theo giáo hóa, không phạm đến quan, chẳng hại lẽ chính. Ngõ hầu thi hành hình pháp được long trọng, chẳng phải là nhờ ở đấy sao?”.

    Hạ lệnh các quan viên văn võ ở Kinh và ở ngoài, từ chánh tứ phẩm trở xuống đến hạng vị nhập lưu, số lễ bằng bạc trong 3 năm Nhâm thân, Quý dậu, Giáp tuất được giảm 4 phần 10, cai đội phó đội chưa coi quân và đội trưởng thì cho miễn hết.

    Lấy dân Quảng Đức sửa đắp đường quan từ Kinh thành đến cửa Eo.

    Thị trung học sĩ Phạm Thích vì ốm xin giải chức. Vua y cho.

    Sai Hiệp tổng trấn thành Gia Định là Ngô Nhân Tĩnh và tả Tham tri Hộ bộ là Lê Viết Nghĩa kiểm tra lệ thuế tiền thóc sản vật ở các trấn đạo thuộc thành.

    Triệu Nguyễn Văn Nhân về, lấy Lê Văn Duyệt làm Tổng trấn thành Gia Định, Trương Tấn Bửu làm Phó tổng trấn, khiến hơn 3.000 người thuộc quân Thần sách ở Thanh Nghệ cùng Ngũ quân và Tượng quân ở Bắc Thành theo đi thú ở Gia Định.

    Duyệt bệ từ. Vua dụ về việc kinh lý việc thành.

    Trước kia dân Gia Định nhiều người du đãng, hoặc có kẻ khác thân ở cửa quyền, ghi tên vào sổ quân, mà thường thường lẻn về hương thôn, họp nhau trộm cướp. Duyệt đến, đặt rõ điều cấm, khiến dân sở tại bí mật đem tên bọn trộm cướp báo quan, lập tức bắt trị. Lại khiến bọn cướp ngày một ít đi, dân cư yên ổn. Duyệt lại cùng Trương Tấn Bửu và Ngô Nhân Tĩnh dâng sớ nói: “Trước kia biên phòng có việc, lấy thêm hương binh, đó là việc tạm thời chứ không phải là chế độ vĩnh viễn. Nhưng mà lòng dân ngờ sợ, cùng nhau dối trá giấu giếm, chứa thành thói quen, tệ ấy không thể không sửa. Phàm dưới gầm trời trên mặt đất, ở đâu không phải là dân vua? Thiên

    “Chu quan”(1) chép hằng năm phải ghi số dân, thiên “Nội chính”(2) chép phải khu biệt nơi dân ở, không sách nào là không lấy dân chính làm trọng. Xin ra lệnh cho sở tại, phàm dân đinh đến tuổi phải chép vào sổ ngay; có ai xin sung vào số quân các vệ cơ đội thuyền, thì người phụ trách cứu xét mà đăng chép để phòng việc đi lậu, ngăn sự giả mạo”. Vua cho lời tâu là phải.

    1. Trong sách Chu lễ

    2. Sách của Quản Trọng

    Trương Tấn Bửu tâu nói mộ được dân ngoại tịch hơn 170 người, xin biên làm các đội Trung nghĩa của Trung quân, lệ theo để sai khiến. Vua y cho.

    Lấy Quản cơ cơ Tiền kiên là Lê Trọng Giảng làm Vệ úy vệ Tả bảo nhất.

    Tha thuế ruộng đất cho ba phường Hữu Cai, Chính An, Thuận Trạch thuộc Quảng Bình. Ba phường này đều là người Thanh Hoa, xưa đi theo Thái tổ vào trấn phương Nam, đóng thú ở Quảng Bình, được cấp ruộng thế nghiệp hơn 50 mẫu miễn tô. Giặc Tây Sơn mới bắt gồm thu cả. Đến nay người ở ba phường là bọn cai đội Trần Văn Tảo, đội trưởng Nguyễn Văn Tiến đem việc ấy nói ra. Lại cho tha thuế như cũ.

    Bình Hòa giá gạo đắt vọt lên. Cuối tháng trấn thần mới đem việc tâu lên. Vua tiếc là tâu chậm, sai bộ Lễ thông sức cho các địa phương từ nay hễ giá gạo vọt đắt thì phải chạy sớ tâu ngay.

    Trấn thủ Kinh Bắc là Nguyễn Đình Tuyển vì cha mẹ già xin giải chức. Vua y cho. Sai Phó tướng Tiền quân là Hoàng Văn Điểm quyền lãnh việc trấn Kinh Bắc.

    Giặc trốn ở Bắc Thành là bọn Lê Đoàn, Lê Dếnh, Trịnh Vân, Vũ Đình Lục, Đặng Trần Siêu tụ đảng ở ven núi Sơn Âm cướp bóc các huyện Tống Sơn, Phụng Hóa. Quản phủ Thiên Quan là Đào Văn Thành đón đánh, bắt được đồ đảng 14 người.