078. Trang [0847-0858] - @da.nguyen (DONE)

26/11/15
078. Trang [0847-0858] - @da.nguyen (DONE)
  • :rose:
    Giặc lại xuống Gia Viễn, đánh quấy Gián Khẩu. Quản đạo Thanh Bình là Mai Gia Cương đem quân đạo đánh nhau với giặc. Quân đến hang tối, giặc dựa ở trên cao bắn xuống, chết hơn 10 người. Cương không thể tiến được, bèn đóng chỗ hiểm để giữ. Đốc trấn Thanh Hoa là Tôn Thất Chương nghe tin báo, tức thì phát binh cứu viện mà đem việc tâu lên. Vua bèn sai Hiệp tổng trấn Bắc Thành là Lê Chất đi tuần xét đất ấy. Chất đến, quân giặc tan vỡ. Chất đóng quân ở Mai Viên (tên đất) chiêu tập bọn thổ tù tuyên bảo uy đức của triều đình. Lại sai các quân đặt đồn lũy giữ nơi yếu hại, 5 ngày rồi về. Mai Gia Cương vì làm hỏng quân cơ bị bãi chức. Lấy quản phủ đạo Thiên Quan là Đào Văn Thành làm Quản đạo Thanh Bình.

    Tháng 8, định lệ thưởng cho thuyền chở biển, lấy lần chở nhiều ít làm mức. (Chở 7 lần thưởng thêm 3 tháng lương, từ 6 lần đến 3 lần đều thưởng 2 tháng lương, 2 lần thưởng 1 tháng 15 ngày lương, 1 lần thưởng 1 tháng).

    Thả các biền binh Thanh Nghệ, Bắc Thành và Thanh Bình đã ứng triệu trở về hàng ngũ, thưởng thêm tiền gạo theo thứ bực khác nhau.

    Hơn 80 người đảng giặc ở Kinh Bắc ra thú. Quan Bắc Thành tâu lên. Sai tha tội cho.

    Cho cai huyện, ký huyện, cai tổng, phó tổng ở bốn dinh trực lệ và các trấn Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên đều được tha phú dịch.

    Đặt nhà trạm, mỗi trạm cấp cho 300 quan tiền, đặt một đội trưởng và một phó đội trưởng, trật ngang với đội trưởng và thứ đội trưởng công xa công khố; phu trạm mỗi năm cấp gạo 600 phương.

    Vệ úy vệ Ban trực tiền là Võ Công Thìn lấy riêng tiền của quân hơn 600 quan. Việc phát giác, bị giết; Phó vệ úy là Nguyễn Đình Lân vì không hay giác ra bị giáng cai đội.

    Tháng 9, sai bọn Trần Chấn và Nguyễn Hiệu sang Quảng Đông mua hàng hóa.

    Tha lệ cống năm nay cho nước Chân Lạp. Chiếu rằng: “Kính trời thờ nước lớn là phận sự của nước nhỏ. Yêu nước nhỏ thương kẻ bồ côi là thể thống của triều đình. Nay nước ngươi anh em lìa nhau, phải nương đậu ở ngoài, nên tha cho lệ cống năm nay, đợi sau về nước sẽ tuân lệ mà làm”.

    Cho tiền gạo các bề tôi tòng vong của triều Lê cũ. Trước kia các tôi nhà Lê từ nước Thanh về, đã trao quan chức cho 76 người. Đến nay lại sai thành thần làm sổ tâu lên, cấp thêm cho 69 người, tiền 1.825 quan, gạo 1.825 phương.

    Đắp thành đất Phú Yên.

    Xiêm La sai bầy tôi là Khổn A Nỗ Lạc Phu Thông mang thư lại nói: Trước đây anh em Nặc Chăn không hòa với nhau, sửa binh khí để đánh nhau, có hại đến ơn cốt nhục mà phụ nghĩa vỗ nuôi của hai nước lớn. Vua Xiêm nhân sai trọng thần thân tín đến khuyên hòa nhau. Không ngờ Nặc Chăn sinh lòng ngờ sợ, đem gia quyến đi. Quân Xiêm niêm phong kho tàng, sửa sang thành lũy để đợi về, không dám có ý gì khác. Nay Nặc Chăn chạy sang Gia Định để nhờ uy thiêng, xử trí mọi việc thực chỉ nhờ triều đình xếp đặt, vua Xiêm không dám không theo mệnh.

    Vua sai viết thư trả lời, hẹn sai sứ cùng đưa Nặc Chăn về nước và đưa thư của Xiêm để bảo cho Nặc Chăn. Dụ rằng: “Đem vương về nước, không phải là ý của vua Xiêm. Sở dĩ yêu cầu nước Xiêm phải hội là trẫm lấy khổ tâm mà điều độ vì vương, muốn cho vương cùng nước Xiêm không mất hòa khí, khỏi để lo sau. Nếu người Xiêm thất tín, gây nên hấn khích, thì trái ở họ rồi, trẫm có cách tính toán. Vương chớ nên nghĩ lầm”.

    Ngày Quý mùi, làm lễ tiểu tường ở cung Trường Thọ. Vua mặc áo tang làm lễ.

    Định lệ biền binh ứng trực ở Hoàng thành và Kinh thành. (Bốn mặt ngoài Hoàng thành lấy biền binh Thị trung và Thị nội ứng trực, mỗi mặt 50 người, một người quản vệ kiêm lãnh. Bốn mặt ngoài Kinh thành lấy biền binh các dinh quân ứng trực, nam 100 người, đông 98 người, tây 90 người, bắc 84 người, 4 người quản vệ chia nhau lãnh. Mỗi ngày một lần thay đổi. Như có hỏa hoạn hoặc điều bất trắc xảy ra ở mặt nào, thì quan binh ở mặt ấy tức thì đến cứu, còn ba mặt kia thì giới nghiêm để đợi. Đến như biền binh ở trại các phía tả hữu và hậu, ban ngày thấy treo cờ ở trên cột cờ, ban đêm thấy treo đèn lồng, thì cũng đều chỉnh bị cờ trống súng ống khí giới ở trước trại để chờ sẵn).

    Cấp 5 mẫu ruộng thờ cho họ Phùng ở Yên Du, sai cai đội Phùng Thế Xứng coi giữ việc thờ cúng.

    Đô thống chế quân Thần sách lãnh trấn thủ Quảng Ngãi là Phan Tiến Hoàng tâu nói rằng ba vệ quân tiêu thuộc là Túc uy, Minh uy, Kiện uy trốn mất già nửa, xin mộ dân ngoại tịch sung bổ vào. Vua y cho.

    Trấn thủ Cao Bằng là Nguyễn Văn Đạo chết. Lấy Cựu trấn thủ Tuyên Quang là Đặng Phước Trung làm Trấn thủ Cao Bằng.

    Sai Phó đô thống chế Hữu dinh quân Thần sách là Nguyễn Văn Trí và Chưởng dinh Võ Doãn Văn quản suất binh thuyền thay Trần Văn Năng đóng giữ các đạo Tân Châu, Châu Đốc.

    Lấy Cai châu châu Chiêu Tấn trấn Hưng Hóa là Đèo Quốc Ngọc làm Phòng ngự sứ.

    15 sách thuộc Man trấn Bình Thuận phần nhiều thiếu thuế, thuộc lại ở trấn đòi gấp, dân Man giết bọn lại chết 5 người. Việc tâu lên. Vua nói: “Ngày thường thiếu sự vỗ yên, đó là lỗi ở hữu ty. Dân Man hoảng hốt trách thế nào được!”.

    Giặc trốn ở Bắc Thành là Đặng Trần Siêu trốn ở Mỹ Lương. Thổ tù là Sầm Ngọc Long sai người nhập bọn, nhân tụ họp thổ tù là Đinh Công Lương, Bạch Công Bảo, Đinh Công Thành, Đinh Thế Hộc, Bạch Công Lũy, đều đem dân thổ úp bắt. Bắt được Siêu và đồ đảng rất nhiều. Thành thần tâu lên. Sai giết đi. Cho Ngọc Long làm Tuyên úy sứ, ban cho mũ áo, thưởng tiền 200 quan, cho Lương làm Phòng ngự sứ, thưởng tiền 200 quan, Bảo, Thành, Hộc làm Tuyên úy đồng tri, Lũy làm Phòng ngự đồng tri, thưởng tiền đều 100 quan, cho thổ dân là bọn Võ Văn Thái, Bạch Công Tiến 7 người làm đội trưởng. Còn dư thưởng chung 900 quan.

    Mùa đông, tháng 10, đặt bảo Chi Nê ở Thanh Bình, Lê Chất tự Bắc Thành vào chầu, tâu nói: “Miền thượng du Thanh Bình, rừng rậm liền nhau, thường có thổ phỉ lẩn lút ở đó. Thần trải xem địa thế duy có Chi Nê (tên xã thuộc huyện Yên Hóa) hiểm yếu, có thể đặt đồn được”. Vua y lời tâu. Sai đạo thần tới đó lập bảo. Sai Phòng ngự sứ là Quách Công Chuyên và Quách Công Huỳnh quản hơn 370 người đinh tráng huyện Lạc Thổ đóng giữ ở đó.

    Trời lâu không mưa. Vua lấy làm lo, sai hoãn thu thuế thiếu ở các địa phương một năm và ra lệnh cho các nha hỏi hình soát tù bị giam, xét rõ nỗi oan uổng cho họ.

    Xuống chiếu cầu lời nói thẳng. Chiếu rằng: “Trẫm nghĩ đức của vua không gì to bằng kính trời. Đạo làm tôi trước hết phải nộp lời nói thẳng. Đế vương đời xưa, nhân sự biến mà cầu người nói, mới hay trị được nước hòa được dân, là vì theo đạo ấy. Nay âm dương trái thời, nóng lạnh lỗi tiết, từ mùa thu qua mùa đông, vẫn theo khí hậu mùa hạ, cầu cho được trung hòa để muôn vật sinh sản thì trẫm còn thiếu lắm. Phải rất kính cẩn khi tức giận, khi thay đổi, ngõ hầu mới đền đáp được. Phàm việc quan hệ đến chính sự mà tiện cho dân, trẫm không tiếc sức làm. Nhưng ý trời chưa hồi, thần nắng chưa lui, hoặc vì chính giáo còn có nhiều tỳ vết, ơn trạch còn chưa được khơi, lợi chưa dấy hết, hại chưa trừ hết. Đến nỗi như thế, hỏi cớ ở đâu? Trẫm một mình, thông minh có hạn, trở xét lại mình, không biết vì đâu? Văn võ thần liêu các ngươi, hoặc tòng chính ở trong, hoặc tuyên hóa ở ngoài, ai cũng là chân tay tai mắt của trẫm, trí lự tới đâu há chẳng có điều nghe thấy! Những phương pháp phòng ngừa tai biến, lấy gì mà bảo trẫm? Nên đều bày tỏ sự thực, tâu cho trẫm nghe. Trẫm sẽ tự chọn lựa, có điều gì giúp được chính trị thì trẫm thi hành, mà điều gì không lấy được thì cũng để đó. Gắng đem hết mưu trí của các ngươi để đáp lòng trẫm”.

    Ngày Đinh mùi chiếu xuống, ngày Canh tuất được mưa to. Rồi thì các quan trong ngoài, nhiều người dâng thư kín nói việc. Vua sai đình thần xét bàn, chọn điều gì lấy được thì dùng.

    Định lệ khóa thanh tra cho các thành dinh trấn.

    Vua thấy số tiền thóc xuất nhập có quan hệ đến thuế khóa. Năm tháng chứa lâu, cứu xét rất khó. Bèn hạ lệnh cho bộ Hộ chước định điều lệ, cứ lấy ba năm làm một khóa, sai quan tra xét. (Bốn dinh trực lệ, Quảng Ngãi, Thanh Hoa, Nghệ An, Thanh Bình thì lấy các năm thìn, tuất, sửu, mùi làm khóa, năm Giáp tuất làm khóa đầu; bốn trấn Gia Định, Bình Thuận, Bình Hòa, Phú Yên, Bình Định, lấy các năm dần, thân, tỵ, hợi làm khóa, lấy năm nay làm khóa đầu; Bắc Thành và các trấn lấy các năm tý, ngọ, mão, dậu làm khóa, năm Quý dậu làm khóa đầu).

    Định điều lệ về cửa quan và bến đò cho Bắc Thành và Thanh Nghệ. (Sơn Tây: cửa quan 2 chính, 2 xép, bến đò 1 chính, 1 xép; Sơn Nam thượng: cửa quan 2 chính, 2 xép, bến đò 1 chính, 3 xép; Sơn Nam hạ: cửa quan 1 chính, 2 xép; Kinh Bắc: cửa quan 1 chính, 5 xép; Hải Dương: cửa quan 1 chính, 4 xép, đò dọc 5; Tuyên Quang: cửa quan 2 chính, 1 xép, cửa ải 4; Hưng Hóa: cửa quan 2 chính, 2 xép; Thái Nguyên: cửa quan 5 chính, 1 xép, chợ 5, đồn 1; Lạng Sơn: cửa quan 1 chính 12 xép; Cao Bằng: cửa quan 14 chính, 3 xép; Yên Quảng: cửa quan 2 chính, 3 xép, sở 9; Thanh Hoa: cửa quan 9: Nghệ An: cửa quan 7).

    Dụ rằng: “Việc đánh thuế cửa quan và bến đò lấy hàng hóa làm chuẩn định. Nay thuế thì có ngạch nhất định, mà hàng hóa thì không có mức thường, người lấy thuế được lợi ở số dôi thừa, thường hay đánh thêm thu lạm, làm khổ cho khách buôn. Huống chi Bắc Thành trong ngoài có 11 trấn cùng 2 trấn Thanh Nghệ, sản vật không giống nhau, há lại đánh thuế một mức được sao? Vậy sai bộ Hộ liệt kê vật giá ở các cửa quan bến đò, so sánh cho đúng, chép làm quy tắc nhất định, đình thần bàn định điều lệ ban hành:

    1. Định giá hàng hóa (Lấy 5 năm làm một hạn, ngoài hạn giá có lên xuống thì do bộ cải định).

    2. Đánh thuế buôn có sai bậc. (Các sở cửa quan và bến đò các trấn Bắc Thành, có sở chính có sở xép, đánh thuế chỉ lấy một sở, sở chính đã đánh thuế thì sở xép cho miễn. Giá hàng ở sáu trấn ngoại không giống so với năm trấn nội, chỉ những hàng người buôn đem theo mà không có trong bảng giá của bộ gửi cho thì mới theo giá hàng ở năm trấn nội mà đánh thuế. Ở Thanh Hoa bảy cửa quan Hà Trường, Đa Lộc, Ngã Ngung, Nga Sơn, Thanh Đớn, Mỹ Cảnh, Văn Phái, phàm người buôn đem hàng một cửa đã đánh thuế thì sáu cửa khác đều miễn. Duy ở hai cửa Biện Sơn và Tam Lư thì đánh thuế không câu nệ giá hàng hóa, chỉ căn cứ vào thước tấc trường hoành của thuyền buôn bè buôn mà đánh thuế, không theo lệ thu thuế 1 phần 40. Ở Nghệ An thì ba cửa quan Khả Lưu, Lương Trường, Bùi Xá, phàm người buôn đầu đem hàng hóa ở cửa quan sở tại trước đã đánh thuế theo 1 phần 40, thì các cửa khác phải chiết thu 1 phần 80, không được thu cả; bốn cửa Võ Liệt, Tam Thoa, Hà Hoàng, Khu Độc thì lại có lệ riêng; bè buôn thì lấy hạng lớn, hạng trung, hạng nhỏ, thuyền buôn thì lấy chở nặng chở nhẹ làm khác nhau).

    3. Cấm thu lạm. (Ty lại thu thuế thu bội lên và giữ lại làm khó dễ thì quan sở tại bắt hỏi).

    4. Cấm giấu thuế. (Khách buôn báo số hàng không đúng thì lấy luật giấu thuế mà trị tội).

    Lấy sang năm là năm Quý dậu bắt đầu thi hành”.

    Ngày Canh thân, yết lăng Thụy Thánh.

    Nặc Nguyên từ La Bích lại chạy sang Xiêm, người Xiêm nộp về Gia Định. Thành thần đem việc tâu lên. Vua bèn triệu cai đội Hà Tiên là Mạc Công Du về Kinh, hỏi về việc ngoài biên, rồi bảo về, hạ lệnh ủy người đi Xiêm thăm dò hư thực, cho một cặp áo và 30 quan tiền.

    Hạ lệnh cho trấn thủ Bình Hòa là Nguyễn Đắc đem quân về trấn.

    Bắc Thành bắt được giặc trốn là Trịnh Vân ở Lục Ngạn. Sai giải về Kinh để giết. Người học trò là Nguyễn Bài vì có công báo quan bắt được giặc được bổ Tri huyện, lại ban mũ áo, thưởng tiền 300 quan.

    Bắt đầu đúc bạc đĩnh 1 lạng. Vua bảo bộ Hộ rằng: “Chế định tiền bạc là để giàu nguồn của và cho dân đủ dùng. Trước kia nhà nước đúc bạc trung bình, đĩnh 10 lạng ngang tiền 18 quan, gần đây đều đã thông dụng; nhưng đem bạc đổi tiền, hay đem tiền đổi bạc, thì đều dùng đĩnh 10 lạng làm hạn, nên khi số xuất nhập lẻ loi thì dùng không tiện. Vậy sai đúc thêm bạc đĩnh để ban hành”. (Dùng bạc đủ tuổi hạng 1 lạng, sáu mặt đều có in dấu và chữ, mặt trên vân tròn, mặt dưới vân vuông, một mặt in bốn chữ “Gia Long niên tạo”(1. Tạo năm Gia Long Bạc ròng 1 lạng - Hiệu trung bình - Giá tiền 2 quan 8 tiền.), một mặt in bốn chữ “Tinh ngân nhất lạng” (1), một mặt in ba chữ “Trung bình hiệu” (1), một mặt in sáu chữ “Trị tiền nhị quán bát mạch” (1). Người nào đúc riêng thì lấy luật đúc riêng tiền để trị tội. Nhà nước chi phát, nhân dân đem nộp, người buôn bán đổi chác, thì cứ giá đĩnh bạc trung bình 10 lạng đương tiền 28 quan, đĩnh bạc 1 lạng mới chế đương tiền 2 quan 8 tiền. Tiêu dùng lẻ loi không đầy đĩnh thì lấy tiền bù cho đủ. Bằng không có bạc mà xin nộp tiền cũng là lệ phải nộp bạc mà xin lấy tiền nộp thay cả hay nửa phần cũng được. Phàm người đem bạc đủ tuổi đúc làm 10 đĩnh mỗi đĩnh 1 lạng đổi cho nhà nước lấy thứ bạc đĩnh có dấu và chữ rồi, thì nộp tiền công thợ và tiền xem dấu chữ là 2 tiền cho nhà nước. Quan lại giám thu và thợ xem nhận, nếu dám đè nén và làm khó dễ thì trị tội như luật).

    Định giá vàng cho Bắc Thành. (1 lạng vàng ngang 16 lạng bạc; vàng của dân đổi lấy vàng nhà nước thì nộp tiền ấn tích 1 quan).

    Lấy Lê Đình Tước làm Đốc học Bình Định. Đình Tước có học thức và hạnh kiểm, không chịu làm quan với giặc, Lê Chính Lộ tiến lên.

    Hiệp trấn Hải Dương là Nguyễn Trí Hòa ốm phải nghỉ việc. Lấy Hiệp trấn Cao Bằng là Nguyễn Văn Lễ làm Hiệp trấn Hải Dương.

    Lấy Tham hiệp Cao Bằng là Bùi Văn Bình làm Hiệp trấn, Tri phủ Kinh Môn là Đào Xuân Thự làm Tham hiệp.

    Định lệ đê trạm. (Việc đại khẩn thì đi gấp đường, việc khẩn vừa thì đi cả ngày đêm, việc thường thì ngày đi đêm nghỉ).

    Tháng 11, lấy Đốc học Nghệ An là Bùi Dương Lịch làm Phó đốc học Quốc Tử giám. Hàn lâm viện chế cáo là Nguyễn Đăng Cơ làm Đốc học Quảng Nam, Trợ giáo Sơn Nam hạ là Nguyễn Khắc Tráng làm Đốc học Nghệ An, Trợ giáo Hải Dương là Trần Danh Phác làm Đốc học Thanh Hoa.

    Thanh Hoa và Thanh Bình động đất.

    Sửa chùa Kim Chương, cho 1 vạn quan tiền để làm. (Chùa ở phía nam tỉnh lỵ Phiên An. Đời Thế tông Hiếu võ hoàng đế, năm thứ 18, Ất hợi, nhà sư ở Quy Nhơn là Đạt Bản hòa thượng tu trì ở đấy. Ban cho biển ngạch Kim Chương tự).

    Định lệ chi cấp lương bổng ở Kinh và ở ngoài. Trước nay lương bổng của quan quân đều cấp cho từng tháng. Đến nay định lệ rằng quan viên dự có lương bổng, từ nhất phẩm đến tam phẩm, mỗi năm cấp hai kỳ, tứ phẩm đến nhất phẩm, mỗi năm cấp bốn kỳ, bát cửu phẩm cho đến quân lính có lương, mỗi tháng một kỳ. Đều theo số mà chi lãnh. Sai bộ Hộ nghị định điều lệ, bắt đầu từ sang năm là năm Quý dậu thi hành. (Nhất nhị tam phẩm, mỗi năm vào tháng giêng và tháng 7 mỗi kỳ lãnh lương 6 tháng; tứ ngũ lục thất phẩm, mỗi năm vào bốn tháng đầu mùa, mỗi kỳ lãnh lương tháng; đều từ ngày mồng 1 đầu tháng đến ngày 20 làm hạn; bát cửu phẩm và quân lính ăn lương tháng, hằng tháng chi lãnh từ mồng 1 đến mồng 10 làm hạn. Lệ bổng không kể tháng thiếu tháng nhuận, lệ lương tháng thiếu trừ đi một ngày tháng nhuận cũng cấp. Tiền bổng của quan viên thì châm chước cấp bạc đĩnh, nhất phẩm thì 2 phần tiền 8 phần bạc, nhị phẩm thì 3 phần tiền 7 phần bạc, tam phẩm thì 4 phần tiền 6 phần bạc, từ tứ phẩm trở xuống tiền bạc đều một nửa. Ví như nhất phẩm bổng tháng 200 quan, 6 tháng một lần lãnh gồm 1.200 quan, thực phát cho 2 phần tiền 239 quan 6 tiền, chiết cấp 8 phần bạc là 343 lạng, trong đó đĩnh 10 lạng là 17 đĩnh, đĩnh một lạng 173 đĩnh. Ngoài ra theo đó mà suy. Người được thăng thụ được gia thêm bổng mà ở vào ngày 20 về trước của tháng chi lương thì chi theo bổng mới từ ngày mồng 1 tháng ấy, còn từ ngày 21 trở đi thì phải đợi kỳ sau mới được lãnh. Bị phạt bổng trong kỳ chi bổng thì khấu trừ ngay. Nếu kỳ ấy lãnh rồi thì đợi kỳ sau. Bị giáng cách hay bệnh chết thì miễn đòi lại. Quan văn không làm việc, quan võ không coi quân mà chờ đợi ở Kinh và theo việc sai phái ở các thành dinh trấn thì cấp cho nửa bổng chính. Người có công trạng được ân cấp toàn bổng thì không ở lệ này. Quan tam phẩm trở lên hưu trí, hoặc cấp cả bổng, hoặc cấp nửa, tới kỳ thì xin chỉ; quan tứ phẩm trở xuống thì đều đình, như có ban cấp là tự đặc ân. Binh và thợ sai phái và khi trưng triệu đi về, phải cấp cho lương ăn đi đường hàng ngày, ở Kinh thì do bộ Hộ, ở ngoài thì do quan địa phương khám rõ mà cấp thay).

    Lấy Khâm sai Hữu quan là Nguyễn Hữu Viễn làm Chánh quản cơ cơ Hậu dũng kiêm hành phó quản thập cơ Hùng dũng. Biên 65 người lính Tiểu sai và Thị trà quân Thị nội quê ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, lập làm đội Tả thắng cho lệ theo Quảng Nam sai khiến, lại sai dinh thần mộ 50 người dân ngoại tịch lập làm đội Hữu thắng.

    Chuẩn định từ nay quan chức có ai bị tội tham tang thì người quan tiến cử bị tội giảm bực.

    Hạ lệnh từ nay phàm binh ở các dinh quân trong ngoài và thợ các cục mà ứng triệu về Kinh hoặc luân phiên thay nhau cùng là được sai khiến việc công, thì hai bộ Binh Công phát cho yêu bài(1. Yêu bài: Bài đeo ở thắt lưng). Lại hạ lệnh từ Quảng Đức vào Nam đến Gia Định, ra Bắc đến Bắc Thành, đều đặt sở dưỡng tế, như binh và thợ đi đường bị ốm, xét có yêu bài, thì thu dưỡng ngay ở đó để chữa trị. Ai chết thì cấp tiền và vải để chôn (tiền 2 quan, vải 1 tấm).

    Phú Yên gạo đắt; sai trấn thần phát thóc kho cho vay.

    Lấy Hương cống đời Lê là Phạm Duy Tự làm Trợ giáo Hải Dương, Dương Đức Tuy làm Trợ giáo Sơn Nam thượng, Võ Huy Cáp làm Trợ giáo Sơn Nam hạ, Phạm Thự làm trợ giáo Kinh Bắc.

    Cho bọn thổ ty ở Hưng Hóa là Bạc Cầm Kế, Lương Kim Tam 11 người làm Cai châu, Phó châu, và bọn thổ ty ở Lạng Sơn là Nguyễn Đình Cẩm, Hà Quốc Vưu 14 người làm Chánh phó thuộc hiệu.

    Tháng 12, ngày mồng 1, đổi lịch vạn toàn làm lịch hiệp kỷ.

    Ngày Nhâm dần, vua ngự điện Cần Chánh nghe triều chính. Trước vua ở nhà tang, hằng ra tiện điện vời hỏi các quan. Đến nay mới ngự chính điện.

    Ngày Nhâm tý yết lăng Cơ thánh và lăng Thụy thánh.

    Lấy Cai cơ Trung quân là Trần Văn Điều làm Phó vệ úy vệ Trung bảo nhị, Phạm Công Thư làm Phó quản cơ cơ Trung định, Cai đội Nguyễn Văn Quyên làm Phó quản cơ cơ Tả chấn.

    Dân hai phường (sau đổi làm ấp) Kế Đăng và Đường Thiên dinh Quảng Đức kiện nhau tranh địa giới. Dinh thần không quyết định được. Giao án cho Hộ bộ xét lại. Sai Thiêm sự Hộ bộ là Phạm Văn Toán đi xem. Toán cố ý thiên vị Đường Thiên, Kế Đăng không phục, bèn đánh nhau với Đường Thiên. Toán về, tâu vu cho Kế Đăng không tuân pháp luật. Vua cả giận nói: “Ruộng đất đã thành án rồi, sao dám làm thế? Bọn này khỏe kiện lắm, không giết thì để làm gì?”. Muốn bắt hết dân để trị. Bọn Nguyễn Văn Thành, Phạm Như Đăng và Lê Quang Định tới trước tâu rằng: “Tiểu dân không biết gì, ở trong hẳn có bọn xúi giục, xin giao xuống pháp ty xét kỹ lại, bắt tội kẻ xúi giục”. Vua nguôi lòng, tức thì sai bộ Hình xét lại, Kế Đăng quả đúng lý. Toán vì tội tấu vu bị xử tử giam hậu. Dinh lại là bọn Nguyễn Văn Hộ, Nguyễn Văn Thị cũng vì thông đồng thiên vị bị xử tội đồ.

    Cho vua nước Chân Lạp là Nặc Chăn 1.000 quan tiền, 300 lạng bạc.

    Người Gia Định là Võ Đình Minh điều trần về việc chính trị. Vua thấy người có văn học, bổ vào Cống sĩ viện.

    Cấp cho Quảng Nam, Bình Định, Bình Hòa mỗi nơi 10 chiếc thuyền công, Quảng Ngãi, Phú Yên đều 5 chiếc, Bình Thuận 3 chiếc.

    Thưởng cho các thợ ứng dịch ở Kinh hơn 94.000 quan tiền.

    Định cách thưởng người bắt trộm cướp. Phàm quân dân, ai bắt được đầu đảng bọn cướp thì thưởng tiền 100 quan, bắt được tòng đảng thì thưởng tiền 50 quan, kẻ trộm thì thưởng tiền 30 quan; ai báo bắt được cướp thì thưởng 50 quan, báo bắt được trộm thì thưởng 20 quan.

    Hạ lệnh cho các thành dinh trấn thu thuế buôn, mỗi năm đến tháng 10 thì dâng sổ.

    Định điều lệ đòi thuế.+++++++++++++++

    Vua cho rằng đòi thu có phép thì dân dễ nộp, mà thuế nhà nước thường đủ. Bèn sai đình thần định làm điều khoản để ban hành. (Phàm trưng thu tiền thóc không được dùng sổ chính cung năm nay để bù trả số còn thiếu trước. Những tiền thóc hoãn thu thì chia làm 3 năm mà nộp kèm; lương tiền và sản vật thiếu từ năm Nhâm thân về trước thì chia làm 5 năm mà nộp kèm. Hằng năm đến vụ thuế thì cai huyện, ký huyện, cai thuộc, ký thuộc, cai tổng, phó tổng phải kinh trưng [nhận thu], tri phủ, tri huyện, cai trưng, cai trường thì thôi trưng [đòi thu], quan dinh trấn thì đốc thôi [đốc đòi]. Lý dịch cùng những người phân trưng ai xâm phạm xén bớt thì quan dinh trấn theo luật trị tội. Đòi thuế thì lấy 3 năm làm một khóa. Kinh trưng, thôi trung và đốc thôi đều lấy 10 phân làm một suất, ai thiếu không
    đến một phân thì kinh trưng đánh 60 trượng, thôi trưng đánh 50 roi, có lương thì phạt lương 3 tháng; thiếu đến 2 phân thì kinh trưng đánh 80 trượng, thôi trưng đánh 70 trượng, có lương phạt lương 1 năm, đốc thôi phạt lương 6 tháng, đều bắt thu cho đủ; thiếu đến 3 phân trở lên thì kinh trưng phải bãi dịch, thôi trưng, đốc thôi đều phải đình bổng và giáng lưu, trong 2 năm thu đủ thì được khai phục, không đủ thì bị giáng thực).

    Lấy Phó quản cơ cơ Tiền hùng Tượng quân là Đào Văn Cúc, Phó quản cơ cơ Hữu hùng là Nguyễn Văn Tạo làm Quản cơ, Cai đội Nguyễn Văn Bản làm Quản cơ cơ Tả hùng.

    Miễn thuế bạc cho năm sở quan thị ở Cao Bằng. (Cửa Nậm Nàng thuế bạc 140 lạng, cửa Nhị Thủy [Nước Hai] 360 lạng, cửa Thông Nông 130 lạng, cửa Kha Xuyên 100 lạng, chợ Huề Giang 230 lạng. Quan Bắc Thành thấy không có người lãnh trưng tâu xin miễn).

    Gọi 9.500 biền binh ở Thanh Nghệ, Bắc Thành và Thanh Bình về Kinh. (Thanh Hoa 1200 người, Nghệ An 2.800 người, Bắc Thành 5.300 người, Thanh Bình 200 người).

    Nguyễn Văn Thành dâng thư kín nói về 5 điều:

    1. Việc làm gộp sổ địa bạ hay gây tranh kiện, dân gian chịu phiền tệ không xiết, xin sửa định điều lệ cho tắt mối tranh nhau.

    2. Sáu bộ và các dinh trấn làm việc hoặc có kẻ siêng kẻ lười, xin cho cuối năm được kiểm xét để phân biệt hay dở.

    3. Việc hình ngục cốt được xong xuôi và bớt ít, xin cứ cuối năm thì sai người tra khám, khiến không có án đọng lại.

    4. Kẻ tù tội phải nên thương xót, xin hạ lệnh cho án nha môn xét hình, từ nay phàm tù phạm bị kết án thì chưa rõ ngày tháng bắt đến xét, như án xử tội đồ thì tính kể ngày tháng ấy lâu chóng thế nào mà khấu trừ đi.

    5. Dùng quan cốt ở được người, xin chọn những hàn lâm cống sĩ cùng tri phủ tri huyện làm việc lâu năm mà không có lỗi mà chia bổ làm liêu thuộc ở sáu bộ để sung các chức.

    Vua khen và thâu nộp.

    CHÍNH BIÊN

    Đệ nhất kỷ - Quyển XLVI - Thực lục về Thế tổ cao hoàng đế

    Quý dậu, Gia Long năm thứ 12 [1813] (Thanh - Gia Khánh năm thứ 18), mùa xuân, tháng giêng, Kỷ tỵ ngày mồng 1, có nhật thực.

    Bắt đầu đúc tiền kẽm nặng 7 phân hiệu “Gia Long thông bảo”. ở Bắc Thành có người Thanh là Trần Hiển Chu và Chu Vĩnh Cát xin tự mua kẽm đúc tiền, lấy tiền kẽm 130 quan đổi lấy 100 quan tiền đồng ở kho. Thành thần đem việc tâu lên. Vua y lời xin. Sai đặt cục Bảo tuyền ở cửa Tây Long ngoài thành. (Năm Thiệu Trị thứ 1, đổi làm cục Thông bảo). Lấy Cai cơ Trương Văn Minh làm Bảo tuyền cục đại sứ, Hiệp tổng trấn Lê Chất kiêm lãnh giám đốc. Theo kiểu mẫu bộ Hộ đưa ra để đúc (tiền 1 quan, nặng 2 cân 10 lạng cân bình thiên, người dân có vốn riêng và lãnh vốn công đều đem đến lò đúc để đúc. Khi thành tiền rồi, cứ 125 quan tiền kẽm đổi được
    100 quan tiền đồng. Tiền mỗi quan phải đúng cân lạng, nếu thiếu từ 15 đồng trở xuống thì cho nộp phụ, 16 đồng trở lên thì hủy đi không dùng. Pha lẫn chì thì có tội. Nhà nước đúc bằng kẽm Thái Nguyên, mỗi 100 cân hao 12 cân 8 lạng, thành tiền 33 quan 3 tiền 20 đồng, tiền vật liệu 6 tiền
    13 đồng, tiền công thợ 2 quan 7 tiền 41 đồng, đại ước thành tiền, mỗi
    100 đồng thì tiền công 8 đồng 2 phân 4 ly hào 5 hốt).

    Lấy Phó vệ úy vệ Trung võ quân Thần sách là Trương Phước Cẩn làm Vệ úy, Cai cơ Nguyễn Văn Hạnh làm Phó vệ úy, Phó vệ úy vệ Diệu võ là Phan Văn Lợi làm Vệ úy, Cai cơ Nguyễn Văn Tòng làm Phó vệ úy, Phó vệ úy vệ Cường uy là Trương Văn Trâm làm Vệ úy vệ Tráng võ, Cai đội Nguyễn Văn Biện làm Phó vệ úy, Phó vệ úy vệ Ban trực tả là Nguyễn Văn Nghị làm Vệ úy vệ Phấn võ, Cai cơ Nguyễn Đức Liên làm Phó vệ úy, Phó vệ úy vệ Tuyển phong hậu là Phạm Văn Thạch, Phó vệ úy vệ Kiên uy là Trần Văn Chung đều làm Vệ úy, Phó vệ úy vệ Ban trực hậu là Nguyễn Văn Loan làm Vệ úy vệ Hổ uy, Cai cơ Nguyễn Văn Thăng làm Phó vệ úy vệ Ban trực tiền, Đoàn Văn Nghĩa là Phó vệ úy vệ Ban trực hậu, Nguyễn Văn Cửu làm Phó vệ úy vệ Định võ, Nguyễn Văn Lợi làm Phó vệ úy vệ Túc võ.

    Định điều lệ đúc bạc đĩnh mới.

    1. Đặt thợ bạc. (Các thành dinh trấn cùng các đạo Long Xuyên, Kiên Giang, Thanh Bình, phàm có thu nộp bạc đĩnh, thì ủy cho cai quan ty quan thợ bạc hoặc hai người thủ hợp theo đúng phép xem và cân, để phòng giả dối. Nếu trong đó dinh trấn đạo nào chưa có thợ bạc thì chọn lấy hai người am hiểu sắc bạc, lập làm ty quan thợ bạc một người, thủ hợp thợ bạc một người, tâu cấp cho bằng son. Nhân dân đem nộp bạc đĩnh phải xét xem rõ ràng mới được đăng vào kho. Nếu xem xét không đúng, thu phải bạc giả cùng là lấy bạc không đủ tuổi, lẫn lộn kẽm thiếc mà đúc bạc đĩnh giả để ngầm đổi bạc kho, cùng là chịu dân mua chuộc đem bạc giả ấy tráo lộn vào nhà nước để kiếm lợi to, việc phát ra thì chiếu số bắt bồi và phân biệt trị tội.