079. Trang [0858-0869] - @da.nguyen (done)

6/12/15
079. Trang [0858-0869] - @da.nguyen (done)
  • :rose:
    Còn những bạc thuế, lệ phải đèo thêm tiền xem bạc, mỗi đĩnh bạc 10 lạng thì tiền xem 10 đồng, đĩnh 1 lạng thì tiền xem 1 đồng. Duy có tiền nộp thay các hạng thuế, hoặc nộp thay bằng bạc thì không phải nộp đèo tiền xem bạc, cũng cho lấy tiền công mà cấp như số để làm bổng của thợ bạc).

    2. Cấm tiêu hủy bạc. (Quan quân dân thứ làm đồ đạc, không được đem bạc đĩnh mới chế mà tiêu hủy, làm trái thì cứ 1 đĩnh đánh 20 roi, thêm mỗi đĩnh thì thêm dần một bực, tội đến 100 trượng là cùng. Thợ bạc mà trái điều cấm và bớt xén lấy lợi để cho đĩnh bạc nhỏ mỏng thì bị tội).

    3. Cấm bán hụt giá. (Dân gian cho vay và mắc nợ cùng mua bán ở ngoài chợ, phàm đem bạc đổi tiền, đều theo giá quan, đĩnh 10 lạng đổi tiền 28 quan, đĩnh 1 lạng đổi 2 quan 8 tiền, không được giảm bớt giá bạc mà đòi cả tiền. Làm trái thì người địa bảo(1. Địa bảo: Chức dịch sở tại. 1) bắt trị, việc đến quan thì lấy luật vi chế luận tội).

    Quảng Ngãi gạo đắt; sai trấn thần phát thóc kho cho vay.

    Tha thuế thiếu cho các địa phương. Phàm tiền thóc và sản vật thiếu từ năm Gia Long thứ 7 trở về trước thì tha hết; duy có lấy trộm của công và người giám thủ tự lấy trộm thì không cho viện lệ miễn.

    Số hộ khẩu ở Gia Định hằng năm tăng thêm. Thành thần dâng số đinh lên, số mới thêm được 26.500 người.

    Vua bảo bầy tôi rằng: “Dân là gốc của nước, gốc vững thì nước mới yên. Thế cho nên các vương giả đều lấy chăn nuôi dân chúng làm việc đầu tiên. Nay nước nhà yên lặng, chẳng thiếu gì của, dân mới tụ họp, việc vỗ yên chính là cần kíp. Vậy bàn cách chu cấp”. Bèn xuống chiếu phàm dân mới tục [biên vào sổ], từ tháng 10 năm Nhâm dần đến tháng 12 năm nay, thuế thân và thuế sản vật đều miễn.

    Hạ lệnh cho các trấn thủ dọc biển các địa phương đo những nơi cửa biển sở tại, sâu nông rộng hẹp thế nào, hằng năm cứ đến mùa xuân mùa đông thì dâng đồ bản lên. Bộ Công sẽ đưa đồ bản cho các đội thuyền vận tải của Thủy quân để cho biết đường thủy khó dễ thế nào.

    Đặt ty Thư tả ở Bắc Thành. (Câu kê, cai hợp đều 1 người, thủ hợp 2 người, ty lại 47 người). Bắc Thành trước có ty Bí thư, đã bỏ đi. Thành thần thấy ty lại ở sáu phòng ít người viết tốt, xin đặt lại, lấy những tay viết giỏi để sung bổ. Vua y cho. Đặt tên là Thư tả ty.

    Thổ phỉ ở Tuyên Quang là Lý Trương Hoàng giả xưng là con cháu nhà Lý, làm tờ hịch giả, chiêu dụ người thổ là bọn Hà Mỹ, Hà Cá, mưu đánh úp trấn thành. Bọn Mỹ, Cá mật báo cho thuộc hiệu bảo Tụ Long là Ma Doãn Điền và thủ bảo bảo Phước Nghi là Ma Doãn Trinh đem quân ập bắt giết đi. Việc tâu lên. Cho Doãn Điền làm Tuyên úy thiêm sự, Doãn Trinh và Mỹ, Cá làm Chánh phó thuộc hiệu.

    Lấy Phó đô thống chế Tả dinh quân Thần sách là Trịnh Ngọc Trí làm Phó đô thống chế Hậu dinh.

    Định ngạch nộp thay thuế diêm tiêu cho các trấn Bắc Thành. (Ở năm trấn nội mỗi người nộp thay 6 quan, ở sáu trấn ngoại mỗi người nộp thay
    3 quan).

    Tháng 2, bắt đầu đặt tri huyện các huyện Gia Định mỗi huyện 2 người. Kén các tri huyện thâm niên ở bốn dinh trực lệ và hai trấn Quảng Ngãi, Bình Định để sung bổ. (Huyện lỵ Tân Long ở chợ Lật Giang, huyện lỵ Phước Long ở Cần Đột [Cần Giuộc], huyện lỵ Thuận An ở Tài Phụ [Giòng Tài], huyện lỵ Bình Dương ở đạo Quang Uy, huyện lỵ Phước Chính ở Sa Thị [Chợ Cát], huyện lỵ Bình An ở Băng Vọt, huyện lỵ Long Thành ở Đồng Môn, huyện lỵ Phúc An ở đạo Hưng Phúc, huyện lỵ Vĩnh Bình ở Mân Thít, huyện lỵ Tân An ở Ba Việt, huyện lỵ Vĩnh An ở đạo Đông Khẩu, huyện lỵ Kiến Đăng ở chợ Thi Giang, huyện lỵ Kiến Hưng ở giòng Kiến Định, huyện lỵ Kiến Hòa ở chợ Lương Quán).

    Sau thấy huyện Vĩnh An đất rộng, lại chia đặt huyện Vĩnh Định. (Hai huyện Vĩnh An, Vĩnh Định, trước là đất một tổng Bình An, năm Gia Long thứ 7 thăng tổng lên làm huyện. Vì thế đất rộng rãi, bèn chia miền Hậu Giang từ sông con Sâm Lung về phía tây cho thuộc tổng Vĩnh Trinh huyện Vĩnh An, từ Sâm Lung về phía đông đến Cần Thơ cho thuộc tổng An Trung, Cần Thơ về phía đông đến cửa biển Ba Xắc cho thuộc tổng Bình Chính huyện Vĩnh Bình. Đến nay lại đổi lấy miền Hậu Giang phía đông từ biển Ba Xắc, phía tây đến nửa sông Châu Đốc về phía nam cùng các thôn xóm ở bãi giữa sông, biệt làm một huyện, gọi là huyện Vĩnh Định, cũng đặt hai tri huyện, huyện lỵ ở đạo Trấn Giang. Những địa giới tuy rộng mà nhân dân còn thưa, cho nên chưa chia tổng, gồm 37 thôn ấp).

    Định số người lại dịch ở các huyện từ Quảng Bình vào Nam. Mỗi huyện 1 đề lại, 2 thông lại, 6 chính sai, 50 lệ dịch. Lại thì được miễn phú dịch, lệ dịch (từ Quảng Bình đến Bình Thuận thì mộ dân ngoại tịch, Gia Định thì lấy dân sở tại) thì miễn 5 phần 10 thuế thân.

    Đắp thành đất trấn Vĩnh Thanh.

    Dời dựng trấn lỵ Thái Nguyên đến Đồng Mỗ (tên xã, thuộc huyện Động Hỷ). Trấn lỵ trước ở Bình Kỳ (tên xã thuộc huyện Thiên Phước) trấn Kinh Bắc, địa thế xa cách, bèn sai dời đến Đồng Mỗ, để tiện việc cai trị. Lại lấy Bình Kỳ, làm phủ lỵ Bắc Hà, kiêm lý huyện Thiên Phước (trước kiêm lý huyện Hiệp Hòa).

    Trong Kinh kỳ mưa đá.

    Lấy chức Cống sĩ viện bổ Tri huyện các huyện. Võ Xuân Thự, người Quảng Trị, mới nghị được bổ huyện Kiến Đăng, vì có mẹ già xin bổ nơi gần, vua thương tình, bèn dời cho về Đăng Xương.

    Hạ lệnh cho xã dân ở Thanh Nghệ và Bắc Thành, hằng năm cứ tháng 12 cấp tiền may quần áo cho lính giản. Theo lệ cũ xã dân phải may quần áo để cấp. Đến nay hạ lệnh cấp tiền 3 quan, do binh lính tự may lấy, người quản suất không được đòi bắt làm lụy cho dân.

    Đắp đài Điện Hải và bảo An Hải ở Quảng Nam (đài bên tả cửa biển Đà Nẵng, bảo ở bên hữu). Sai Nguyễn Văn Thành đi coi công việc. Công việc xong, để lại 500 quân đóng giữ.

    Ngày Quý sửu, tế Trời Đất ở đàn Nam giao.

    Định lại phép trưng thu tạp phú. Vua bảo bầy tôi rằng: “Việc phú thuế của nhà nước tất phải có phép thường. Nay thuế điền thì có thêm tiền thập vật, thuế dung thuế điệu thì có thêm tiền đầu quan để chi phí ngoài, còn các tạp phú khác thì chưa có định ngạch, những thuộc lại phần nhiều sách nhiễu ngoại lệ, dụng ý thêm bớt, không kể xiết tệ”. Bèn sai bộ Hộ bàn định để ban hành (cứ 1 quan thì nộp 6 đồng tiền, xem 1 lạng bạc thì 1 đồng tiền xem). Nếu dám đòi hỏi ngoài ngạch thì theo luật trị tội.

    Thượng thư Hộ bộ Lê Quang Định chết; tặng Tham chính. Sai Nhà đồ cấp gỗ quan tài; cho 3 cây gấm Tống, 500 quan tiền, cấp cho 3 người mộ phu.

    Giáng Thượng thư Hình bộ Phạm Như Đăng làm Tham tri Hình bộ. Như Đăng trước ở Bắc Thành xử án quá nặng, thành thần Nguyễn Hoàng Đức hạch án ấy nên bị giáng.

    Dựng hành cung và dinh thự kho tàng ở Bình Định. Sai trấn thần lấy 2.000 dân ứng dịch, cấp cho tiền gạo hàng tháng.

    Chở 60.000 quan tiền ở kho Bắc Thành về Kinh.

    Lấy Cai bạ Quảng Bình là Nguyễn Du làm Cần chánh điện học sĩ, sung Chánh sứ sang cống nước Thanh (hai lễ cống Tân mùi Quý dậu), Thiêm sự Lại bộ là Trần Vân Đại và Nguyễn Văn Phong sung Giáp ất phó sứ.

    Lấy Tri huyện Lê Văn Đồ và Hoàng Kim Xán làm Thiêm sự Lễ bộ.

    Tha thuế thiếu cho dân xiêu dạt ở hai châu Lang Chánh và Trình Cụ trấn Thanh Hoa.

    Trần Chấn và Nguyễn Hiệu tự Quảng Đông về dâng sách Mã Cao và lịch Tây Dương. Vua sai Nguyễn Văn Thắng dịch ra để tiến.

    Thượng thư Lại bộ là Trần Văn Trạc chết; tặng Tham chính; cấp cho 3 người mộ phu.

    Tháng 3, sai Tham tri Binh bộ là Võ Đức Thông sung đề điệu trường thi Thanh Hoa, Thị trung học sĩ là Lý Gia Du sung giám thí, Tham tri Lễ bộ là Lê Chính Lộ sung đề điệu trường thi Nghệ An, Thị trung học sĩ là Phạm Thích sung Giám thí. Lấy đỗ hương cống 21 người. (Trường Thanh Hoa: Lê Huy Côn, Lâm Văn Bính, Cao Nguyên Luận, Hoàng Đức Nhân, Nguyễn Giáp, Lê Duy Cao, Lê Hữu Đức, Nguyễn Nhân, Võ Đích, cộng 9 người. Trường Nghệ An: Lưu Công Đạo, Võ Khắc Kiêm, Võ Duy Tân, Phạm Đình Trọng, Hồ Phức Tương, Hoàng Văn Vận, Nguyễn Thế Cát, Ngụy Khắc Thận, Lê Nguyên Chung, Bùi Danh Cung, Vũ Huy Quýnh, Nguyễn Duy Phiên, cộng 12 người).

    Nước Xiêm La sai bọn Phi Nhã Ma Kha A Mặc dâng phẩm vật địa phương, và xin cùng đưa Nặc Chăn về nước.

    Vua thấy thư người Xiêm gởi đến, lời lẽ thuận, bèn cho triệu sứ đến Kinh. Xuống chiếu cho thành thần Gia Định chỉnh bị binh thuyền để chờ, đem việc báo trước cho quan Phiên và dân Phiên biết. Hơn một tháng sứ Xiêm trở về Gia Định, tặng cho rất hậu (tặng Phật vương 40 lạng vàng, 500 lạng bạc, cho vua thứ hai 20 lạng vàng, 300 lạng bạc).

    Đổi cửa Eo làm cửa Thuận An. Xây đài Trấn Hải, sai Nguyễn Đức Xuyên trông coi công việc. Vua thấy là nơi trọng yếu của hải cương(1. Hải cương: Bờ cõi phía biển.1), bèn xây đài ở bên cạnh. Lại thấy bờ biển ở trước đài nước biển ngày vỗ xói vào, gần tới chân đài, bèn sai đóng cọc xây kè để chống sóng biển. Thưởng cho binh lính làm việc hơn 10.000 quan tiền. Dân phu phụ giữ được miễn thuế thân, hằng năm cấp cho gạo lương 200 phương. (Chỗ này nguyên tên là Noãn hải khẩu(2. Vốn là (Yêu hải khẩu, Yêu tức là Eo) mà lộn thành. 2), tục gọi là Eo, ý nói là nơi nông hẹp khó đi. Ở Kinh sư chỉ có cửa này và cửa Tư Dung là hai. Từ khi cửa Tư Dung ngày cạn thì sự hải vận đều ra cửa này, rất xung yếu, mà đường lạch quanh co, bên cạnh có bãi cát ngầm rất trở ngại cho đường biển. Đến khi vâng đặt tên này thì từ đấy buồm gió thuận lợi, muôn thuở nhờ ơn).

    Tham hiệp Kinh Bắc là Hoàng Xuân Tú ốm phải nghỉ việc, lấy Tri phủ Tiên Hưng là Lê Bình Khuê làm Tham hiệp Kinh Bắc.

    Lấy Tri phủ Hà Hoa là Trần Lợi Trinh làm Thiêm sự Lại bộ, Tri phủ Đoan Hùng là Nguyễn Văn Khiêm làm Thiêm sự Binh bộ, Tri huyện Nam Xang là Cao Huy Diệu sung Hàn lâm viện.

    Tha giảm thuế ruộng năm nay. Chiếu rằng:

    “Đức của vua chẳng gì lớn bằng yêu dân; chính trị tốt trước nên ở nhẹ thuế. Từ xưa các đế vương lên ngôi trị nước, chưa ai từng không lấy việc vỗ yên dân chúng làm cần. Nay mưa nắng bất thường, thóc lúa chưa được mười phần được mùa, trẫm nghĩ đến đời sống của dân, ơn trạch muốn cho xuống khắp. Vậy tha giảm cho thuế tô năm nay, bốn dinh trực lệ giảm 5 phần 10, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Bình Hòa giảm 4 phần 10, Bình Thuận, Gia Định, Nghệ An giảm 3 phần 10, Thanh Hoa, Thanh Bình, Bắc Thành giảm 2 phần 10”.

    Làm duyệt tuyển từ Quảng Bình trở vào Nam đến Gia Định. Sai bọn Trần Đăng Long, Nguyễn Đức Huyên, Nguyễn Văn Soạn, Lê Bá Phẩm, Nguyễn Cửu An, Trần Văn Tuấn, Phan Văn Thúy, Nguyễn Văn Hựu, cộng 24 người chia nhau đi các nơi. (Quảng Đức, Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Nam và Quảng Ngãi làm tháng 5, Bình Hòa tháng 6, Bình Định, Phú Yên tháng 7, Bình Thuận, Phiên An, Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Thanh tháng 10. Kỳ hạn, số người từ 25.000 trở lên hạn 20 ngày, 10.000 người trở lên hạn 15 ngày, không đầy 10.000 người hạn 10 ngày, đều lấy ngày mở trường
    bắt đầu).

    Định lại thuế buôn đường bộ ở Bắc Thành. Phàm những lái buôn người Thanh, đi qua đường Lạng Sơn về, cùng các thuyền công tư chở người lái buôn, thì sở tại đánh thuế hàng hóa. (Cứ giá hàng hóa 100 quan thì nộp 2 quan 5 tiền thuế, ở thành thì do phủ Hoài Đức cho giấy thông quan, đến Lạng Sơn thì trấn đổi cấp giấy khác).

    Dân Man bảy sách Cam Lộ vào cống. Lấy bọn thổ tù là Phụ Bô, Quan Chiêu, Phụ Đồn làm sai trưởng ba Man Thượng Kế, Phá Băng, Làng Thìn. (Tục Man là thế tập, nhân đó cho làm).

    Nghệ An động đất.

    Mùa hạ tháng 4, ngày mồng 1, tế hạ hưởng. Vua đến Thái miếu làm lễ. (Từ mùa thu năm Tân mùi, vua có tang, lễ miếu hưởng đều sai hoàng tử hoàng thân tế thay. Đến nay vua mới thân đến làm lễ).

    Vua ra cửa biển Thuận An xem đài Trấn Hải.

    Dựng đền thần (năm Minh Mệnh thứ 3, đổi làm miếu Nam Hải Long Vương) và đền Thai Dương phu nhân ở cửa biển Thuận An.

    Chiếu cho Tổng trấn thành Gia Định là Lê Văn Duyệt và Hiệp tổng trấn là Ngô Nhân Tĩnh đại phát thủy binh hơn 13.000 người đưa quốc vương Chân Lạp là Nặc Chăn về nước. Sai Phó tổng trấn Trương Tấn Bửu tạm làm việc thành. Ngày Canh tý, quân ta phát từ Gia Định. Sứ Xiêm là bọn Phi Nhã Ma Kha A Mặc đem sứ bộ Xiêm đi theo. Ngày Tân hợi, quân ta đến Long Úc. Tướng Xiêm là bọn Phi Nhã Phì Sai Bô Liên Tra, Phi Nhã Phì Phạt Cô Sĩ đến cửa quân lạy tờ chiếu. Ngày Ất mão, Nặc Chăn vào thành La Bích. Sai bề tôi là Cao La Hâm lấy 500 quân hộ vệ. Bọn Văn Duyệt định rõ hiệu lệnh, cấm cướp bóc, tỏ uy tín, thương dân Di, người Xiêm nghe tiếng, rụt rè sợ hãi. Dân Phiên nhờ đó được yên. Trước đây Nặc Chăn sang ở nước ta, người Xiêm lấy làm giận, cùng nhau bàn mưu rằng: “Nước Xiêm là một nước lớn, đã không sai khiến được người mà lại bị người sai khiến, thì còn ra nước gì nữa”. Bèn bàn muốn lấy đất Bắc Tầm Bôn phong cho Nặc Nguyên. Nhưng lại sợ triều đình ta hỏi tội, không dám xin. Khi nghe tin Nặc Chăn sắp về nước, cho rằng quân ta đi xa, chắc không có nhiều, bề ngoài tuy sai sứ đến hội đưa Nặc Chăn về, tỏ ra hòa hảo, mà trong thì sửa soạn đánh nhau, ngầm muốn nhân lúc sơ hở đánh úp để cho hả giận. Đến bấy giờ quân Văn Duyệt kéo đến, thanh thế lừng lẫy, người Xiêm bèn thôi mưu mô, sai sứ đem sản vật cho Nặc Chăn và ủy lạo tướng sĩ ta. Nhưng quân Xiêm đóng ở Long Úc lâu không rút về, hẹn đưa Nặc Nguyên về nước lại không đưa. Bọn Văn Duyệt đem đủ tình trạng tâu lên, và nói: “Xiêm La muốn được Chân Lạp thì phải dùng Nặc Nguyên làm món hàng quý, mà ta muốn che chở đất Gia Định tất phải dùng Nặc Chăn làm phiên thần. Ta đưa Nặc Chăn về nước, người Xiêm bất lợi nhiều lắm, chưa chắc họ đã không mưu tính khác, mà phiên vương chưa chắc đã khỏi lo về sau. Nay quân ta đóng lâu thì già quân mà phí của, về hết thì phiên vương đơn nhược mà không có phòng bị. Vả thành La Bích chật hẹp, không đủ để giữ. Xin đắp thành Nam Vang cho phiên vương ở, đắp thành Lô Yêm để chứa lương thực. Khi thành đắp xong sẽ để một số quân lại bảo hộ nước ấy, còn đại binh thì rút về Gia Định, chờ xem động tĩnh. Như thế thì lẽ thuận nghịch có khác, tình hình lao dật không giống nhau, muốn đánh thì đánh, muốn hòa thì hòa, phần thắng vẫn thuộc về ta”. Vua rất lấy làm phải, bèn chiếu cho Lê Văn Duyệt đem thủy quân đóng giữ sông Xà Năng và đem bộ quân đóng đồn các nơi trọng yếu, mà kíp gửi quốc thư trách nước Xiêm rằng: “Xiêm vương vốn muốn Chăn và Nguyên giải mối thù oán cho trọn tình nghĩa anh em, nay Chăn đã về nước mà Xiêm chưa giải binh là tại cớ gì? Phàm cứu tai nạn, thương láng giềng, gây đức mà giúp người cùng ý muốn, đó là đạo đời xưa. Nếu làm ở trước mà để oán sau, thì việc cất quân ấy chẳng là trái lắm sao? Huống chi Nặc Nguyên phản anh giữ nước, tội không kể xiết. Bản quốc cùng với Xiêm vương sở dĩ làm ngơ để đó, là nghĩ nó còn trẻ, muốn cho đổi lỗi mà thôi. Nay Nặc Chăn đã biết ơn Xiêm vương khoan tha thì Nặc Nguyên há chẳng nghĩ đến ơn bản quốc dung thứ sao mà còn cứ chấp mê một đường như thế? Thử nghĩ xem, kẻ giặc đã bị thiên hạ đều muốn giết thì còn trốn vào nước nào được?”. Người Xiêm nhận được thư cả sợ, tức thì sai tướng lui quân đến Bắc Tầm Bôn mà sai Nặc Nguyên viết thư nói tình anh em để tạ Nặc Chăn. Nhưng cuối cùng Nguyên chưa chịu về nước.

    Vua lại thấy nước Phiên mới yên, kho tàng trống rỗng, cho Nặc Chăn 3.500 lạng bạc, 5.000 quan tiền và 10.000 hộc thóc. Nặc Chăn cùng với người trong nước dâng biểu tạ ơn. Quân ta đắp thành Nam Vang và thành Lô Yêm, xây đài An Biên (ở đất Quỷ Chàng Oa), trên đài dựng nhà Nhu Viễn để làm nơi Phiên vương bái vọng.

    Sửa đền thờ Khai quốc công thần Nguyễn Hữu Kính. (Đền ở Nam Vang; trước kia Nguyễn Hữu Kính đi kinh lược Chân Lạp đóng quân ở đấy; sau khi chết, dân Chân Lạp làm đền thờ ngay đấy, gọi là đền Lễ công).

    Tha thuế thân năm nay cho hương binh ở bốn trấn Gia Định theo việc quân ở La Bích. (Dân đồn điền cũng được tha thóc sưu).

    Chế hai thứ cân là cân bình thiên và cân trung bình. Phàm các hóa hạng đồng thiếc kẽm sắt thì dùng cân bình thiên, vàng, bạc thì dùng cân trung bình.

    Tháng 5, ngày Ất hợi, yết lăng Thụy thánh.

    Ngày Mậu dần xa giá đi tuần Quảng Nam. Sai bọn Phạm Văn Nhân, Nguyễn Văn Nhân, Nguyễn Văn Khiêm, Trịnh Hoài Đức ở lại giữ kinh thành; phàm những chương sớ của địa phương từ Quảng Trị ra Bắc đến Kinh thì phải chuyển đệ đến hành tại.

    Ngày Tân tỵ đến Đà Nẵng, xem đài Điện Hải.

    Ngày Ất dậu, sai quan yết lăng Vĩnh Diễn và lăng Vĩnh Diên.

    Phát các quân vét sông Hà Thân, thưởng cho 3.000 quan tiền.

    Ngày Tân mão, xa giá trở về.

    Dựng đài hỏa hiệu ở núi Chu Mãi và núi Quy Sơn.

    Khởi phục Nguyễn Văn Như làm Án thủ cửa biển Đà Nẵng, sai đốc các quân đóng 35 chiếc thuyền sam bản. Cho quân và thợ 1.900 quan tiền.

    Lấy Thiêm sự Công bộ là Trần Ngọc Quản làm Cai bạ Quảng Đức, Thiêm sự Hình bộ là Nguyễn Văn Quang làm Cai bạ Quảng Bình, Thiêm sự Lại bộ là Ngô Lương Uyển làm Cai bạ Bình Hòa, Thiêm sự Hộ bộ là Nguyễn Văn Diên làm Ký lục Biên Hòa. Diên đến nơi thì chết.

    Lấy Thiêm sự Công bộ là Lê Đắc Tần làm Ký lục Quảng Trị (Tần trước bị biếm, khởi phục làm Thiêm sự).

    Kho Hải Dương cháy, cháy mất hơn 2.000 hộc thóc. Quan Bắc Thành tâu xin bắt tội Trấn thủ Trần Công Hiến và bắt bồi thường. Vua nói: “Công Hiến không biết giữ lửa tội đáng phạt, phạt ba con trâu và tha bồi thường”. (Từ trước lệ bổng của quan viên chưa định, ai bị tội đáng phạt thì phạt 3 trâu hay 5 trâu, mỗi con trâu nộp thay 5 quan tiền).

    Đô thống chế lãnh đốc trấn Thanh Hoa là Tôn Thất Chương ốm, xin giải chức về Kinh điều trị. Vua y cho. Lấy Đô thống chế Trung dinh quân Thần sách là Trần Công Lại lãnh Trấn thủ Thanh Hoa.

    Lấy Chưởng cơ Nguyễn Văn Soạn làm Phó đô thống chế Trung dinh quân Thần sách đi thú Thanh Hoa.

    Sai Phó vệ úy vệ Hữu nhất Thị trung là Nguyễn Văn Nguyệt làm Án thủ Trấn Hải đài.

    Tháng 6, lấy Cai cơ Thủy quân là Nguyễn Văn Phong làm Quản cơ cơ Trung dực, Bùi Văn Tâm và Lê Văn Quang làm Chánh phó quản cơ cơ Tiền dực, Trần Hữu Thìn và Trương Văn Tại làm Chánh phó quản cơ cơ Tả dực, Hoàng Văn Ung và Vũ Văn Đoan làm Chánh phó quản cơ cơ Hữu dực, Võ Văn Hoán và Nguyễn Văn Thuận làm Chánh phó quản cơ cơ Hậu dực, Cai cơ Tả quân là Lê Trọng Ngũ làm Phó quản cơ cơ Trung kiên, Phan Long Vân làm Phó quản cơ cơ Tả kiên.

    Vua nghĩ tới những binh ở Thanh Nghệ và Bắc Thành đi thú ở Gia Định, đường sá xa xôi, hạ lệnh cho thành trấn thu lấy số tiền phụ dưỡng và tiền quần áo của các xã dân đem nộp kho, mà sai Gia Định phát tiền kho ra để cấp cho binh.

    Thổ phỉ ở Nghệ An cướp bóc các huyện Quỳnh Lưu, Đông Thành, Nam Đường, Thanh Chương, La Sơn, Hương Sơn; Quản phủ Đức Quang là Nguyễn Văn Tuấn đánh bị chết. Trấn thủ Hoàng Viết Toản đem quân đuổi bắt, giặc trốn sang Vạn Tượng. Viết Toản gửi thư khiến [Vạn Tượng] giữ nơi hiểm yếu để ngăn chặn, thế giặc càng nguy. Quan quân bắt được và chém chết rất nhiều. Việc tâu lên. Vua xuống chiếu rằng: “Bọn tiểu dân đói rét, đến nỗi lỡ chân, cũng như chim đến lúc cùng thì mổ, thú đến lúc cùng thì vồ. Nay không nên đuổi đánh tới cùng, chỉ nên phòng bị nghiêm nhặt, đừng để nó lan rộng ra mà làm khổ cho trăm họ thôi”. Nhân dụ cho Vạn Tượng bãi binh, và hậu thưởng cho. Truy tặng Văn Tuấn làm Cai cơ. Lấy Vệ úy vệ Tương võ là Phan Bá Phụng làm Quản phủ Đức Quang.

    Ngày Quý sửu, vua yết lăng Thụy thánh.

    Sửa điện Khôn Nguyên; thưởng cho biền binh 3.000 quan tiền.

    Truy cấp cho Chưởng cơ Vọng Các là Nguyễn Văn Bình 7 người mộ phu.

    Cho bọn quân lính theo đi Vọng Các làm đội trưởng, cấp bổng như lệ.

    Lấy Trợ giáo Hoài Đức là Trần Trọng Huyến làm Đốc học Sơn Nam hạ, hương cống đời Lê là Trần Khôi làm Trợ giáo Hoài Đức.

    Lấy cai đội Thủy quân là Nguyễn Văn Sách làm Phó quản cơ Kiên chu.

    Người Thanh đưa giải tên giặc trốn ở Tuyên Quang là Hoàng Văn Thái về Bắc Thành. Thái chết giữa đường, đồ đảng đều bị giết. Trước kia Thái họp đảng đánh cướp ở vùng Tụ Long và Thủy Vĩ. Bắc Thành đem quân tiễu bắt. Thái cùng đường phải trốn sang Vân Nam. Đồ đảng là người Thanh bọn Trương Thế Nguyên, Trương Lão Mục, Trương Lão Nhị đều bị quan quân bắt được. Vua sai thành thần trả bọn giặc bị bắt ấy cho nước Thanh và đòi bắt tên Thái đưa về trị tội. Đến nay Thái cùng đồ đảng bị quân nước Thanh bắt hết đưa về Nam quan, giao cho thành thần xét tội giết đi.

    Chính Biên

    Đệ nhất kỷ - Quyển XLVII - Thực lục về Thế tổ cao hoàng đế

    Quý dậu, Gia Long năm thứ 12 [1813], mùa thu, tháng 7, ngày mồng 1, tế thu hưởng.

    Bắt đầu mở khoa thi Hương từ Quảng Bình trở vào Nam. Sai Tham tri Hình bộ là Phạm Như Đăng sung Đề điệu trường Quảng Đức, Thị trung học sĩ là Võ Trinh sung Giám thí, Tham tri Lễ bộ là Lê Chính Lộ sung Đề điệu trường Gia Định, Cai bạ Bình Hòa là Ngô Lương Uyển sung Giám thí. Lấy đỗ hương cống 17 người.

    Trường Quảng Đức: Hoàng Văn Đản, Nguyễn Bá Thịnh, Hoàng Quốc Điều, Nguyễn Lý Hào, Phạm Đình Thuận, Nguyễn Văn Thuyên, Lê Văn Đức, Đặng Văn Hòa, Trần Văn Tú, cộng 9 người.

    Trường Gia Định: Nguyễn Bảo Bang, Nguyễn Chí Thành, Lưu Bảo Tam, Đoàn Trọng Quýnh, Trần Văn Hương, Lê Văn Thịnh, Nguyễn Tiến Bách, Phạm Vĩnh Thế, cộng 8 người.

    Sửa Mục Thanh các ở Thái miếu và hai nhà tả hữu vu thờ các vị tòng tự. Sai Đô thống chế Tống Phước Lương và Tham tri Nguyễn Đức Huyên trông coi công việc.

    Chế thêm đồ thờ ở Thái Miếu.

    Dồn ba đội Trung cần, năm đội Nội cần, hai đội Nội sai ở quân Thị nội làm vệ Trung cần Thị nội, chín đội Thị trà làm vệ Thị trà Thị nội, mười đội Tiểu sai làm vệ Trung tín Thị Nội.

    Lấy Phó vệ úy vệ Trung nhị Thị trung là Đỗ Quý làm Vệ úy vệ Trung cần, Thuộc nội cai đội là Bùi Văn Phượng làm Phó vệ úy, Phó vệ úy vệ Hậu nhất Thị trung là Phạm Văn Dật làm Vệ úy vệ Thị trà, Thuộc nội cai đội là Nguyễn Văn Trọng làm Phó vệ úy, Chánh đội trưởng Trần Kiêm Nhân làm Thuộc nội cai đội thự phó vệ úy vệ Trung tín.

    Lấy Phó vệ úy vệ Nội trực Thị nội là Mai Văn Thành làm Vệ úy, Thuộc nội cai đội là Nguyễn Văn Lượng làm Phó vệ úy.

    Dời phủ lỵ Anh Đô trấn Nghệ An đến Nam Đường (trước ở huyện Hưng Nguyên).

    Hiệp trấn Thái Nguyên là Lê Viết An, Hiệp trấn Tuyên Quang là Bùi Công Kim vì ốm xin nghỉ. Lấy Cựu cai bạ Phú Yên là Trần Đình Trung làm Hiệp trấn Thái Nguyên, Thiêm sự Lại bộ là Ngô Vị làm Hiệp trấn Tuyên Quang.

    Lấy cựu Tham hiệp Sơn Nam hạ là Trần Văn Lộc làm Hiệp trấn Hưng Hóa, Tham luận đạo Đông Khẩu là Lê Tiến Phúc làm Tham hiệp Thái Nguyên, Đông các học sĩ là Trần Hựu làm Tham hiệp Lạng Sơn.

    Hai thành Nam Vang và Lô Yêm đắp xong. Chiếu cho Lê Văn Duyệt rút quân về, lưu Nguyễn Văn Thụy lấy hơn 1.000 quân đóng giữ thành Nam Vang, bảo hộ nước Chân Lạp. Trước đây quân Xiêm đã rút lui, nhưng sợ ta tiến đánh, vẫn đóng quân lại ở Bắc Tầm Bôn. Vua muốn giải mối ngờ, bèn sai rút quân ta về. Quân Xiêm nghe tin cũng rút về.

    Triệu Bồn Nha Xa Kê nước Chân Lạp từ Xiêm trốn về, Nguyễn Văn Thụy đem việc tâu lên. Vua nói: “Xa Kê trước kia theo Nặc Nguyên làm phản, nay hoặc nhớ đất nước mà trốn về, hay vì kẻ khác mà về do thám cũng chưa biết chừng”. Bèn bảo Phiên vương khéo léo phủ ủy, rồi viết thư chiệu dụ Nặc Nguyên cho Xa Kê đem đi, để xem ý tứ ra sao.

    Tháng 8 lấy Lê Đồng Lý và Phan Huy Thực sung Hàn lâm viện, hai người có văn học, do Phạm Đăng Hưng tiến cử.

    Thả cho những biền binh ở Thanh Nghệ, Bắc Thành và Thanh Bình ứng triệu [vào kinh] trở về. Thưởng cho lương tiền theo thứ bậc. (Quan thì thưởng tiền gạo lương ba tháng, lính thì thưởng 5 quan tiền 5 phương gạo):

    Nước Chân Lạp dâng 88 thớt voi.

    Vua cho rằng nước ấy bắt đầu xây dựng lại, kho tàng thiếu hụt, sai thành thần Gia Định lấy bạc kho trả đúng giá. (Voi cao 6 thước trở lên là hạng nhất, trả 50 lạng bạc, cao 5 thước ba tấc là hạng nhì, trả 40 lạng bạc, cao 4 thước 4 tấc trở lên là hạng ba, trả 30 lạng).

    Khâm sai đô thống chế Hữu dinh quân Thần sách là Tôn Thất Chương chết, tặng Chưởng dinh, thụy là Võ Tiết, cho tiền 500 quan, gạo 300 phương, sai quan dụ tế.

    Sai bộ Hộ hội làm sổ tổng kê số tiền bạc ở kho tàng các trấn đạo từ Bình Hòa đến Bắc Thành. (Số tiền là 1.203.532 quan, số bạc là 180.222 lạng, số thóc là 6.847.687 phương).

    Tháng 9, ngày Đinh sửu, làm lễ đại tường ở cung Trường Thọ. Vua mặc đàm phục làm lễ (đổi luyện phục(1. Luyện phục: Mũ áo tiểu tường bằng lụa phiếu trắng.1), mặc đàm phục(2. Đàm phục: Mũ áo đại tường 2), đội mũ võ tú tài bằng sa thâm, áo tràng vạt bằng sa thâm, trong lót lụa trắng, xiêm trắng không viền, tất mầu lam, giày đen). Làm lễ xong, bộ Lễ dâng sớ nói: “Hiếu khang hoàng hậu đức sánh với đức, sinh ra thánh cung, cứu giúp nhân dân làm lợi Xã Tắc, nên điều trung hiếu không gì lớn hơn của bệ hạ, để công đức không bao giờ hết về đời sau, chẳng những có công với Hiếu khang hoàng đế, mà còn có công với tổ tiên, có công với trăm họ.