080. Trang [0869-0880] - @Ca Dao - Team S03 (Đã xong)

13/11/15
080. Trang [0869-0880] - @Ca Dao - Team S03 (Đã xong)
  • Kinh Thi nói: “Duy có đức mẹ, sánh cùng đức cha, như trời rộng không cùng”. Xin sau lễ Đàm, kính rước thần chủ phối thờ ở Nễ cung(3)”. Sớ tâu lên, vua bảo được.

    (3) Nễ cung: Miếu của cha vua, tức Hiếu khang hoàng đế

    Vua lại hỏi bộ Lễ rằng: “Sau khi tiến thờ ở miếu rồi, như gặp ngày kỵ thì tế như thế nào?”. Bộ thần tâu rằng: “Lễ ở Thái miếu, gặp ngày kỵ các vua và các hoàng hậu, đều theo chiêu mục rước thần chủ ra đặt ở tế sở tả hữu để làm lễ. Duy ngày kỵ Thái tổ và hoàng hậu thì vẫn làm lễ ở miếu, để tỏ rõ Thái tổ là độc tôn. Nay Hiếu khang hoàng đế đã có miếu thờ riêng, miếu đã có miếu riêng thì tôn cùng phải tôn riêng. Trộm nghĩ Hiếu khang hoàng hậu sau khi đã rước lên thờ ở miếu thì lễ cùng được tôn như vậy. Vậy khi tế ngày kỵ, xin cứ tế ở miếu”. Vua cho là phải.

    Trấn thủ Thanh Hoa là Trần Công Lại tâu xin mộ dân ngoại tịch lập làm hai đội Võ dực nhất và nhị. Vua y cho. Hạ lệnh phàm là người quê ở châu Bố Chính nội thuộc Quảng Bình trở vào nam thì cấp cho lương tháng.

    Lấy Thuộc nội cai đội là Nguyễn Văn Cận làm Phó vệ úy vệ Long võ quân Thần sách.

    Tha tội chết cho Đặng Thần Thường và Nguyễn Gia Cát. Vua xét danh sách thu thẩm(4), nghĩ thương bọn Đặng Trần Thường có công tha cho. Xóa tên trong quan tịch, cho ở Kinh.

    (4) Thu thẩm: Kỳ xét những trọng án vào mùa thu.

    Lấy Ký lục quản Nội đồ gia là Trần Công Đàn làm Tả tham tri Binh bộ, hiệp cùng Nguyễn Văn Thụy bảo hộ Chân Lạp. Đàn bệ từ. Vua dụ rằng: “Chân Lạp là nước phên giậu của ta, nay nước ấy mới yên, nhân dân chưa tụ tập, cho nên sai bọn ngươi sang bảo hộ. Bọn ngươi nên thể tất đức ý của triều đình, đừng tham tiền của, đừng dùng kẻ gian, đừng bóc lột dân Man, đừng quấy rối biên cương. Ngươi đi đi, chớ trái mệnh ta”.

    Lấy Cựu khâm sai trưởng cơ phó dinh dinh Hậu thủy là Nguyễn Thụy lãnh trấn thủ Định Tường.

    Lấy Cai cơ Nguyễn Văn Khoa Quản thủ đạo Đông Khẩu, Nguyễn Văn Châu Quản thủ đạo Hưng Phước, Phạm Văn Uông Quản thủ đạo Trấn Giang, Trương Phúc Quyền Quản thủ ba đạo Tân Châu, Chiến Sai, Hùng Ngự.

    Tha 1.000 quan tiền thiếu thuế cho Phú Xuân.

    Quảng Ngãi và Bình Định lụt, lúa mạ ngập mất. Sai trấn thần lấy thóc kho ra phát chẩn. Lại cấp cho thóc giống để dân gieo mạ.

    Lấy Ký lục Quảng Bình là Hoàng Văn Diễn quản Nội đồ gia, Thiêm sự Hình bộ là Hồ Công Thuận làm Ký lục Quảng Bình.

    Lấy Thiêm sự Hộ bộ là Nguyễn Khoa Minh làm Ký lục Quảng Đức.

    Mùa đông, tháng 10, ngày mồng 1, tế đông hưởng.

    Sai Tham tri Hình bộ lãnh hiệp trấn Thanh Hoa là Nguyễn Hoài Quỳnh sung Đề điệu trường thi Thăng Long, Hiệp trấn Lạng Sơn Lê Duy Đản sung Giám thí, Tham tri Hộ bộ là Nguyễn Đình Đức sung Đề điệu trường thi Sơn Nam thượng, Thị trung học sĩ là Phạm Thích sung Giám thí. Lấy đỗ hương cống 44 người. Trường Thăng Long: Nguyễn Đình Cấp, Ngô Trọng Tân, Đỗ Tuấn Đại, Nguyễn Siêu, Nguyễn Văn Ân, Nguyễn Mậu Chiêu, Nghiêm Thế Nghĩa, Nguyễn Văn Lệ, Lê Đạo Quảng, Nguyễn Danh Bích, Ngô Hữu Bát, Lê Trần Thanh, Nguyễn Chí, Võ Đình Duệ, Nguyễn Chí Quảng, Lê Quốc Tá, cộng 16 người. Trường Sơn Nam thượng: Nguyễn Đình Võ, Nguyễn Đăng Sĩ, Hoàng Khắc Sĩ, Nguyễn Duy, Nguyễn Huy Diễm, Đặng Cử, Đỗ Tuấn Tú, Nguyễn Viết Điều, Phạm Thế Mỹ, Võ Tự, Nguyễn Huy Chuẩn, Trương Cam Triêm, Dương Thế Thịnh, Đoàn Xuân Sảng, Võ Đình Bách, Võ Huy Nhất, Trần Thế Nho, Nguyễn Trân, Nguyễn Quốc Dao, Ngô Hiển Doãn, Lê Vi Quang, Nguyễn Sĩ Bảng, Bùi Tuấn Tuyển, Nguyễn Đình Chu, Nguyễn Võ Ngọc, Nguyễn Trọng Chu, Nguyễn Xuân Tháp, Đặng Dung Bảo, cộng 28 người.

    Nước Chân Lạp sai bọn Tham Đích Triệu Bồn Nha và Ốc Nha Thu My dâng biểu đến tạ. Nhân xin ban cho triều phục. Vua giao cho triều đình bàn. Đều nói triều phục của Phiên vương nên coi như ở trên nhất phẩm. Bèn sai Nội đồ gia chế áo mãng bào hồng và mũ đai để cho. Lại cho Phan Hữu Trí làm Cai đội, theo Phiên vương để phiên dịch tiếng Phiên.

    Hạ lệnh cho Gia Định xem đo đất Chân Lạp, đặt ba đường trạm: một từ sông Cam Bà đến Xỉ Khê đạo Quang Hóa, hai từ Trang Tân đến Thạch Yển, ba từ thành Lô Yêm đến Chế Lăng. Lấy dân Phiên sửa đắp, cứ 4.000 trượng đặt 1 nhà trạm, mỗi trạm 50 người phu trạm để thông báo việc ngoài biên. (Trang Tân, Thạch Yển, Chế Lăng đều là tên đất).

    Đặt khóa lệ cho chủ phủ Nội Ngoại đồ gia. Các kho 18 người thì chủ thủ, câu kê, cai hợp đều 2 người, lấy người ở ty Lệnh sử các nha sung bổ, ba năm đổi một lần, người nào không xâm phạm của kho thì được ghi lên lục dụng.

    Lại thu thuế nguồn ở Quảng Ngãi. Trấn thần cho rằng bọn ác man đã êm, xin bỏ lệ cấm thông thương mà thu lấy thuế. Vua y cho.

    Lấy Dương Công Chính làm Cai đội đội Thông ngôn, Trần Văn Hóa, Bùi Văn Viết làm đội trưởng.

    Định số nhân viên cho ty Lệnh sử sáu bộ: Câu kê, cai hợp đều 3 người, thủ hợp đều 4 người, do bộ thần chọn cử sung bổ.

    Hiệp tổng trấn Gia Định là Ngô Nhân Tĩnh chết. Nhân Tĩnh trước sang Chân Lạp, có người nói Tĩnh nhận riêng của nước Phiên. Văn Duyệt đem việc tâu, Vua nói: “Việc không có chứng cớ, hãy để đó”. Nhân Tĩnh nghĩ không yên lòng, thường tự than rằng: “Vẽ rắn thêm chân, ai khiến ta mang cái oan không bày tỏ được”. Đến nay ốm chết. Trịnh Hoài Đức tâu xin truy tặng. Vua không cho.

    Lấy Trấn thủ Sơn Nam thượng là Nguyễn Xuân làm Chánh quản thập cơ Chấn định ở Trung quân, Chưởng cơ Chánh thống Hậu đồn Trung quân là Lê Công Lý lãnh Trấn thủ Sơn Nam thượng.

    Lấy Đốc học Hoài Đức là Trần Toản làm Đông các học sĩ, Hàn lâm viện là Ngô Huy Viên, Nguyễn Hữu Nghị, Nguyễn Thận Ngôn, Tri phủ Quốc Oai là Nguyễn Huy Trinh làm Thiêm sự Hình bộ, Cai hợp quân Chấn võ là Nguyễn Văn Hưng làm Thiêm sự Lại bộ.

    Lấy Võ Hành, Nguyễn Chuẩn, Nguyễn Thảng sung Hàn lâm viện.

    Lấy Khâm sai cai cơ Nguyễn Văn Thông làm Quản cơ cơ Tả chấn Trung quân.

    Đúc súng quá sơn, kén 30 người thợ rèn bổ vào đội Thạch cơ.

    Người Bình Định bắt được ấn đồng cổ, mặt khắc chữ “Phù Ly huyện ấn”(1), lưng khắc chữ “Hồng Đức thập tam niên tạo”(2). Trấn thần đem dâng. Vua sai cất vào kho.

    (1) Phù Ly huyện ấn: ấn huyện Phù Ly.

    (2) Hồng Đức thập tam niên tạo: Đúc năm Hồng Đức thứ 13.

    Dân xiêu dạt ở Thanh Hoa phần nhiều đã trở về. Trấn thần xin đòi lính trốn. Vua nói: “Dân mới yên họp, đời sống chưa được như cũ, sao đã vội điểm làm lính”. Không cho.

    Tháng 11, ngày ất sửu, tế Đàm(1) ở cung Trường Thọ. Vua thân đến làm lễ.

    (1) Tế Đàm: Tế hết tang.

    Ngày Ất hợi, rước thần chủ lên phụ vào miếu Hoàng khảo.

    Giảm bớt cơ Cường tượng ở Tượng quân, đem lính cơ ấy sung vào cơ Dũng tượng để đóng thú ở Nghệ An.

    Lấy Quản cơ cơ Cường tượng là Nguyễn Văn Toán làm Vệ úy vệ Thị tượng tam. Phó quản cơ Hoàng Văn Uy làm Quản cơ cơ Dũng tượng, Cai đội Trần Hữu Điển làm Quản cơ cơ Tả hùng tượng.

    Định lệ cấp lính cơ lệ theo các quản quân ở Bắc Thành: Chánh quản thập cơ 10 người, Phó quản thập cơ 6 người, Quản cơ 4 người, Phó quản cơ 2 người, cai đội 1 người. Ai bắt lính làm việc riêng và thả riêng cho lính về nghỉ thì trị theo quân pháp.

    Người học trò ở Bắc Thành (thiếu họ tên) dâng thư nói rằng hai xứ Ninh Biên và Trấn Ninh đất đai rất rộng, cùng với Chân Lạp và Xiêm La tiếp giáp, xin sai quan đại thần đóng giữ vỗ yên, dần dần xem tình thế nếu kẻ kia gây hấn thì nên ước cùng Diến Điện giáp đánh, đó là dùng Man Di để đánh Man Di vậy.

    Vua dụ rằng: “Nước ta với nước Xiêm La có nghĩa láng giềng đã lâu, Chân Lạp thì là nước phiên thần của ta, chưa làm việc gì thất lễ, há nên gây hấn ngoài biên?. Còn Diến Điện thì tục hung tợn, không thể thông hiếu được. Ngươi là thư sinh có học thuật, nên do đường khoa mục để tiến thân, đừng nói càn vào việc biên giới mà mắc vào tội lệ”. Rồi yên ủi cho về.

    Cho Khâm sai cai cơ là Tôn Thất Huyên làm Lưu thủ sung chánh sứ, Cai đội Nguyễn Văn Đường và Mạc Công Du sung Giáp Ất phó sứ, đem việc hết quốc tang báo cho nước Xiêm. (Tặng Phật vương 2 cân quế, 50 tấm lụa vàng, 40 tấm sa, 200 tấm lụa trắng, đường phổi, đường phèn đều 500 cân, 2.000 cân đường cát, 16 tảng đá xanh, cho vua thứ hai 1 cân quế, 25 tấm lụa vàng, 25 tấm sa, 100 tấm lụa trắng, đường phổi, đường phèn đều 300 cân, 1.000 cân đường cát). Sai Gia Định cấp cho Công Du 100 quan tiền.

    Miễn giao dịch cho hộ Thái hương ở Bình Định. (Hộ Thái hương thuộc huyện Tuy Viễn, mỗi năm nộp kỳ nam mỗi người 3 lạng, dao dịch đều miễn, năm Gia Long thứ 5, bắt đầu kén dân các hộ ấy bổ làm lính vệ Hùng cự, dân còn lại phải chịu dao dịch, đến nay đã miễn tạp dao cho dân ấy mà bắt mỗi năm mỗi người nộp 1 lạng rưỡi kỳ nam, không có kỳ nam thì nộp thay bằng trầm hương mỗi người tám lạng).

    Hiệp trấn Kinh Bắc là Nguyễn Duy Hòa vì có mẹ già xin về thăm. Vua y cho. Sai Thiêm sự Hình bộ là Trương Công Vỹ quyền lãnh Hiệp trấn Kinh Bắc.

    Định điều lệ án thủ Trấn Hải đài. 1) Quan quân đóng giữ mỗi tháng đổi 1 lần, khâm phái 1 viên quản vệ Thị trung Thị nội hoặc Thần sách vâng lãnh hợp phù lệnh tiễn làm quan án thủ đài, quản suất biền binh đương thứ đến đóng giữ. Viên án thủ trước xét nghiệm rõ ràng mới giao thay việc, rồi đem số biền binh phái trước cùng phù tiễn cấp trước về Kinh phục mệnh. 2) Đổi phái biền binh hằng năm cứ từ ngày 1 tháng 4 đến cuối tháng 7, mỗi tháng 250 người quân Thị trung, Thị nội, Thần sách, 50 người các đội Trung hầu, Chấn uy, 10 người các đội Nội hầu, Tiểu sai, cộng 310 người; từ mồng 1 tháng 8 đến cuối tháng 3 năm sau, mỗi tháng 80 người quân Thị trung, Thị nội, Thần sách, 20 người các đội Trung hầu, Chấn uy, 5 người các đội Nội hầu, Tiểu sai, cộng 105 người. 3) Quân Thị nội có đem long bài đến truyền báo thì cần phải xét nhận kỹ lưỡng. 4) Ở mặt quách ngoài của đài, quân dân không được đi lại, làm trái, ở ngoài cửa đài thì đánh 30 roi, đến cửa đài thì đánh 50 roi. Nếu khi ngoài khơi có báo động, không có lệnh truyền báo mà đi chạy ở ngoài quách thì đánh 100 trượng; thiện tiện đến cửa đài thì trị tội theo quân pháp. 5) Súng đạn ở trong đài thường phải kiểm soát luôn. 6) Cột cờ thì hằng năm cứ đến ngày rằm tháng 7 rút thấp xuống 1 tầng, đến sau ngày đông chí tháng 11 lại dựng lên như trước. Dây treo cờ có mục nát thì bắt dân làm dây khác. 7) Ở trong ngoài đài hoặc có nứt nở, nhẹ thì sai quân sửa chữa, nặng thì tâu lên. 8) Tấn thủ Thuận An có tin báo về việc ngoài biển [về người Tây dương], hoặc thấy hiệu lửa ở đài hỏa hiệu Quy Sơn cửa biển Tư Dung, tức thì một mặt sắp quân phòng bị, một mặt phái người chạy tâu. 9) Đầu bến đò Thai Dương phải sức bắt thuyền dân sở tại ứng trực cho tiện quan quân đi lại. 10) Long bài và hợp phù đều làm bằng ngà, long bài thân dài 1 tấc một phân, đuôi 9 phân 9 ly, mặt 8 phân 8 ly, dây một phân, một mặt chạm rồng, một mặt khắc ba chữ “Trấn Hải đài”; hợp phù thì dài 1 tấc 6 phân, mặt 4 phân, dài 2 phân 2 ly, một mặt chạm rồng một mặt khắc 2 chữ “Hợp phù”; chữ đều tô sơn đỏ.

    Phó quản thập cơ Hùng Dũng của Hữu quân ở Bắc Thành là Nguyễn Văn Khánh lấy lạm tiền của quân 300 quan. Việc phát. Hạ lệnh chém. Chưởng cơ chánh quản thập cơ là Nguyễn Văn Hưng vì tư vị bị giáng làm Cai cơ. Xuống chiếu dụ thành thần rằng: “Quân là nanh vuốt của nước, tướng là đầu mục của quân, ngày thường ví biết yêu nhau thì lúc có việc phải giúp nhau, chẳng phải là chỉ yêu người, thực là yêu mình vậy. Nguyễn Văn Khánh, vướng phải lưới phép, nòi ác không thể để sống, pháp luật không thể dung gian. Vậy bảo cho bọn quan quân các ngươi coi đấy mà răn mình. Từ đấy ở thành phàm gặp việc gì cần dùng vật liệu thì cho lấy tiền kho để chi. Quản suất dám nhân việc công để thu bổ thì lấy quân luật trị tội, cấp trên cũng bị liên quan”.

    Quản Trung hầu Tiểu sai quân Thị nội là Võ Viết Bảo, mộ được 66 người ngoại tịch ở Quảng Nam, xin lập làm đội Trung thắng, theo dinh thần thao luyện nghề bắn súng. Vua y cho.

    Tháng 12, ngày Mậu thân, yết lăng.

    Ngày Kỷ dậu, tế Chạp.

    Đô thống chế Thị trung là Nguyễn Văn Khiêm ốm. Sai Trương Phúc Đặng quyền lãnh 10 vệ Thị trung. Dụ rằng: “Quy chế cấm binh ở thì triều nghi, đi thì pháp giá, việc có chuyên trách thì mới chỉnh tề. Người nên kính vâng sức răn binh sĩ, coi giữ kinh thành, sao cho chu tất để xứng với việc ủy nhiệm. Đợi khi Văn Khiêm khỏi, sẽ cung chức như cũ”.

    Định lệ thuộc binh ở các phủ đệ. Vua nghe con em nhà giàu ở các dinh trấn có nhiều người xin vào thuộc binh ở phủ để tránh dao dịch, kén lính thiếu người, xã dân phải đem những cùng đinh sung cấp, nhân bảo các quan hầu rằng: “Nhà nước kén binh đã có quy chế nhất định. Nếu để người giầu được miễn, người nghèo chịu riêng, đâu phải là thể thống làm chính trị”. Bèn sắc định rằng hoàng tử hoàng tôn đã ra ở phủ riêng thì cho thuộc binh 200 người, chưa ra ở phủ riêng thì thuộc binh 150 người, công chúa thì thuộc binh 50 người, thừa ra bắt trả về sổ dân.

    Cai bạ Bình Hòa là Ngô Lương Uyển chết; lấy Điển quân Trung quân là Trương Công Trinh làm Cai bạ Bình Hòa.

    Tả tham tri Binh bộ là Nguyễn Quang Diệu vì già yếu xin nghỉ việc. Vua y cho.

    Lấy Thượng thư Lễ bộ là Trịnh Hoài Đức làm Thượng thư Lại bộ, Tham tri Lại bộ là Phạm Đăng Hưng làm Thượng thư Lễ bộ, Tham tri Hình bộ là Nguyễn Đăng Hựu làm Thượng thư Binh bộ, Tham tri Hình bộ là Phạm Như Đăng lại làm Thượng thư Hình bộ, Ký lục Phiên An là Phạm Quang Triệt làm Tả tham tri Lại bộ, Tham tri Lễ bộ là Lê Chính Lộ và Cai bạ Quảng Nam là Trần Văn Tuân đều làm Hữu tham tri, Ký lục quản Đồ gia là Hoàng Văn Diễn làm Tả tham tri Hộ bộ, Hiệp trấn Sơn Nam hạ là Nguyễn Công Tiệp làm Hữu tham tri, Ký lục Định Tường là Trần Quang Tĩnh làm Tả tham tri Lễ bộ, Hiệp trấn Hà Tiên là Bùi Đức Mân làm Hữu tham tri, Cai bạ Bình Định là Nguyễn Tăng Địch làm Hữu tham tri Binh bộ, Ký lục Quảng Ngãi là Võ Văn Doãn làm Tả tham tri Hình bộ, Thị trung học sĩ là Võ Trinh và Cai bạ Vĩnh Thanh là Nguyễn Xuân Thục đều làm Hữu tham tri, Cai bạ Đồ gia là Phan Tiến Cẩn và Cai bạ Quảng Trị là Đoàn Viết Nguyên đều làm Hữu tham tri Công bộ; Tiến Cẩn vẫn quản Đồ gia.

    Lấy Hàn lâm viện Nguyễn Cư Tuấn làm Cai bạ Quảng Trị, Võ Văn Trí làm Cai bạ Quảng Nam, Tham hiệp Sơn Tây là Võ Xuân Cẩn làm Cai bạ Bình Định, Tham hiệp Sơn Nam thượng là Nguyễn Văn Khánh làm Cai bạ Vĩnh Thanh, Điển quân Trung quân là Lê Chấn làm Ký lục Phiên An, cựu Hiệp trấn Sơn Tây là Nguyễn Thừa Thân làm Ký lục Định Trường, giáp phó đốc học Gia Định là Võ Xuân Biền làm Ký lục Quảng Nam, Tham hiệp Yên Quảng là Lê Văn Nguyễn làm Hiệp trấn Hà Tiên, Tham hiệp Thanh Hoa là Đinh Văn Nhã làm Hiệp trấn Sơn Nam hạ, Tham luận quân Thần sách là Trần Đình Anh làm Tham hiệp Thanh Hoa, Hàn lâm thị thư là Trần Văn Phân làm Tham hiệp Sơn Tây, Tri phủ Lạng Giang là Trần Chí Thành làm Tham hiệp Sơn Nam thượng, Tri phủ Tam Đới là Trần Phúc Hiển làm Tham hiệp Yên Quảng.

    Lấy Tham quân quân Thần sách là Hoàng Như Lâm làm Cai bạ Phiên An, ất phó đốc học Gia Định là Hoàng Công Xuân làm Cai bạ Biên Hòa, Hàn lâm chế cáo là Trần Quang Mân làm giáp phó đốc học Gia Định, Hàn lâm viện là Nguyễn Đức Đàm làm ất phó đốc học.

    Cai bạ Bình Thuận là Nguyễn Đình Do chết, lấy Điển quân Trung quân là Phạm Hưng Nhượng làm Cai bạ Bình Thuận.

    Vua cùng bầy tôi bàn định lệ bổng cho các quan văn võ, bảo bọn Trịnh Hoài Đức và Nguyễn Hữu Thận rằng: “Trẫm là người giữ của cho thiên hạ, không dám xa phí, nên trên từ mình trẫm, trong đến cung vi, dưới đến hoàng tử, hoàng thân, chi dùng đều có tiết độ, không việc gì là không có phép nhất định. Duy lệ cấp bổng cho trăm quan chưa định, nhiều ít không đều, thực chưa đúng nghĩa ban tước chế lộc của người xưa. Vậy các khanh nên thể theo ý ta, châm chước theo Đại Thanh tấn thân lục mà làm”.

    Vua lại dụ bầy tôi rằng: “Khi nhà nước mới khôi phục, quân phí rất rộng, quốc dụng chưa thừa, cho nên lương bổng hàng năm của trăm quan đều phải dè dặt, Trẫm nghĩ chút lương thưng đấu, giúp nuôi gia đình là nhờ ở đó, không nỡ lại bớt đi, nên các bề tôi có phạm lỗi thì chỉ đánh roi thôi. Đó chỉ là thể theo lòng bề tôi mà không phải lễ đãi bề tôi. Xưa kia Tống Thái Tổ chẳng đánh đập ở nơi điện bệ, chẳng mắng mỏ đến bực công khanh, Lễ bộ Nguyễn Thái Nguyên thường đem điều ấy nói với trẫm, trẫm rất để ý. Nay nếu phân biệt cấp bực cho người ăn nhiều người ăn ít, phàm có tội công thì theo luật mà phạt, ngõ hầu tình lấy lễ mà trọng, pháp lấy ân mà dựng, chẳng cũng tốt lắm sao”. Bầy tôi cúi đầu tạ.

    Lấy bọn Cống sĩ viện Hoàng Văn Quyền 10 người sung chức trực giảng cho hoàng tử.

    Tiết Thiên thu, cho các quan ăn yến ở tả hữu vu điện Cần Chánh.

    Thổ phỉ ở Hải Dương 300 người họp ngầm ở Bình Dã (tên xã) huyện Đường An. Phủ lại là Nguyễn Đức Triệu báo quan vây bắt, chém được 20 đầu giặc. Cho Đức Triệu làm Cai hợp, thưởng cho 100 quan tiền.

    Thổ phỉ ở Hưng Hóa ngụy xưng niên hiệu Cần Chánh, nổi trộm ở châu Thủy Vĩ. Cai châu Chiêu Tấn là Đèo Quốc Kiêm đem dân thổ đánh bắt được giết đi. Cho Quốc Kiêm làm chiêu thảo thiêm sự, thưởng cho 300 quan tiền.

    Bắt đầu đặt bốn tào Hộ Binh Hình Công ở thành Gia Định. Lấy Tả tham tri Công bộ là Nguyễn Khắc Thiệu lãnh Công tào kiêm lý Hộ tào, Hữu tham tri Hình bộ là Lê Bá Phẩm lãnh Hình tào kiêm lý Binh tào, Hàn lâm thị thư là Nguyễn Công Định làm Thiêm sự Hộ bộ, Hàn lâm viện Lê Hy làm thiêm sự Binh bộ, sung làm công việc hai tào Hộ Binh.

    Hạ lệnh cho thành Gia Định mỗi tháng hai lần phái người về Kinh tâu việc. Chép làm lệ thường.

    Lấy Tham tri Hộ bộ là Nguyễn Đình Đức làm Thượng thư Hộ bộ, vẫn lãnh việc Hộ tào Bắc Thành.

    Trấn thủ Yên Quảng là Võ Văn Kê về đinh ưu; Lấy Quản cơ cơ Trung thắng Hậu quân là Lê Văn Tiến làm Trấn thủ Yên Quảng.

    Hiệp trấn Lạng Sơn là Lê Duy Đản chết; lấy Hiệp trấn Tuyên Quang là Ngô Vị làm hiệp trấn Lạng Sơn.

    Cho Nguyễn Tường Vân làm Hữu tham tri Hộ bộ, vẫn lãnh Hiệp trấn Nghệ An.

    Lấy Cai đội Ngô Văn Ngụy làm thủ ngự cửa biển Cù Huân.

    Gọi 9.500 biền binh ở Thanh Nghệ, Bắc Thành và Thanh Bình về Kinh. (Thanh Hoa 1.200 người, Nghệ An 2.800 người, Bắc Thành 5.300 người, Thanh Bình 200 người).

    CHÍNH BIÊN
    ĐỆ NHẤT KỶ - QUYỂN XLVIII
    THỰC LỤC VỀ THẾ TỔ CAO HOÀNG ĐẾ

    Giáp tuất, Gia Long năm thứ 13 [1814] (Thanh - Gia Khánh năm thứ 19), mùa xuân, tháng giêng, ngày Canh ngọ tế xuân hưởng.

    Chế thêm lỗ bộ đại giá. (Kiệu ngự một cái, xe ngọc lộ 5 cái, lồng đèn đỏ 6 cái, phất trần 8 cái, lò hương, hộp hương mỗi thứ 8 cái, tán cán cong 1 cái, tán vàng 34 cái, tán vuông 8 cái, lọng vàng 20 cái, quạt vả thêu rồng vàng 24 cái, quạt vuông thêu phượng 6 cái, cờ vũ bảo chàng 20 cái, cờ tín phan 4 cái, cờ giáng dẫn phan 4 cái, cờ báo vĩ phan 4 cái, cờ cáo chỉ phan 4 cái, cờ truyền giáo phan 4 cái, gậy đầu rồng có ngù lông 8 cái, búa con có ngù lông 8 cái, qua có ngù lông 8 cái, cờ hoàng my 8 cái, cờ thêu rồng vàng phượng vàng mỗi thứ 2 cái, cờ mặt trời mặt trăng mỗi thứ 1 cái, cờ Bắc đẩu 1 cái, cờ nhị thập bát tú mỗi thứ 1 cái, cờ gió, mây, mưa, sấm mỗi thứ 1 cái, cờ Thanh long, Bạch hổ, Chu tước, Huyền vũ mỗi thứ 1 cái, cờ ngũ hành mỗi thứ 1 cái, cờ xuất cảnh, nhập tất mỗi thứ 1 cái, cờ túc tĩnh 2 cái, cờ cửa 8 cái, cờ đi theo chiêng trống mỗi thứ 1 cái, cờ ngũ sắc thêu rồng 24 cái, cờ ngọc tiết 10 cái, cờ mao tiết 30 cái, việt [búa] vàng 16 cái, phủ [rìu] vàng 16 cái, trảo 16 cái, cốt đóa 16 cái, kim ngô trượng 16 cái, ngự trượng 16 cái, giáo đuôi báo 28 cái, voi đóng bành 11 con, ngựa thắng cương 8 con).

    Định cách thưởng thi bắn cho các quan. (Phàm người bắn 3 phát trúng cả, thưởng một cái áo kép vải, một quần trừu nam và 20 quan tiền; 2 phát trúng đích và 1 phát vào khuyên tròn thưởng 1 cái áo kép vải, một quần sại nam và 15 quan tiền; 1 phát trúng đích 2 phát trúng vòng tròn, thưởng 1 cái áo kép vải 1 quần sại và 10 quan tiền; 3 phát trúng vòng tròn, thưởng 1 áo kép vải, một quần sại và 5 quan tiền; 2 phát trúng vòng tròn, thưởng 1 áo kép vải, một quần sại; 1 phát trúng vòng tròn, thưởng 1 áo kép vải, một quần vải).

    Thổ phỉ ở Tuyên Quang ngụy xưng niên hiệu Thuận Chính, chiêu tập những quân trốn tránh để cướp bóc dân địa phương. Trấn thần phát binh đi bắt được hết đồ đảng. Việc tâu lên. Vua cho rằng dân ngoài biên không biết, bị giặc lừa dụ, hạ lệnh giết kẻ đầu sỏ còn bao nhiêu thì tha hết.

    Bộ Lễ tâu rằng: “Tiết Vạn thọ có lệ các thành dinh trấn phải tiến đèn rồng bằng sáp ong, xin cho nộp thay bằng bạc để do Nội đồ gia chế tạo mà tiến”. Vua cho là phải.

    Huyện Bồng Sơn ở Bình Định lụt to, dân đói. Sai phát thóc kho cho vay.

    Sai Thị thư viện soạn bộ Ngự phê thông giám của Càn Long nhà Thanh tiến xem.

    Hạ lệnh cho Gia Định dồn 5 đội Gia Nghi để sung bổ vào 5 thuyền binh, cho năm trấn Phiên An, Biên Hòa, Vĩnh Thanh, Định Tường, Hà Tiên mộ dân ngoại tịch lập mỗi trấn một thuyền Bính, mỗi thuyền 50 người, Phiên An là thuyền An bính, Biên Hòa là thuyền Hòa bính, Vĩnh Thanh là thuyền Thanh bính, Định Tường là thuyền Tường bính, Hà Tiên là thuyền Hùng bính.

    Lấy Cai cơ Vọng Các là Võ Công Tính làm Quản thủ đạo Cần Giờ. Công Tính là người Biên Hòa, vì mẹ già xin bổ ở ngoài cho gần để tiện thăm nuôi. Bèn bổ cho chức ấy.

    Thanh Hoa giặc nổi, cướp bóc các hạt Vĩnh Lộc, Yên Định. Trấn thủ Trần Công Lại đem quân đi bắt. Giặc chạy đến miền thượng đạo. Lại mật sai thống lĩnh Hà Công Thái chặn đánh, bắt được bọn giặc hơn 30 người. Việc tâu lên. Vua khen công. Sai Thiêm sự Hình bộ là Nguyễn Hữu Nghi đem vàng lụa thưởng cho. Rồi triệu Công Thái vào chầu, cho 300 quan tiền.

    Lấy Hữu tham tri Hình bộ là Võ Danh Trung làm Hữu tham tri Lại bộ.

    Thổ phỉ Cao Bằng là Nông Văn Nho hợp đảng sang ăn cướp châu Quy Thuận nước Thanh. Quản châu là Bành Dụng Ký bắt được, tư giấy cho Bắc Thành hẹn đến cửa ải họp tra. Thành thần đem việc tâu lên. Vua thấy Hiệp trấn Hải Dương là Nguyễn Văn Lễ trước làm Hiệp trấn Cao Bằng đã hiểu rõ tình hình ngoài biên nên sai đi. Nho và đồ đảng đều bị giết.

    Lấy Thư ký Đặng Đình Cẩm làm Thiêm sự Hộ bộ sung Hộ tào Bắc Thành.

    Đắp thêm thành đất Thanh Bình. Thành Thanh Bình quy mô chật hẹp, quan thự, trại quân và kho tàng ở gần nhau quá, trấn thần Thanh Hoa xin đắp thành rộng thêm bên tả, bên hữu đều 15 trượng. Vua y theo. Lại sai đặt thêm 26 người lại dịch ở sáu phòng (ngạch cũ có 34 người).

    Hạ lệnh cho các phủ lỵ ở Bắc Thành đều chiếu theo số binh mà trữ hai tháng lương để chi dùng khi có việc.

    Vua lưu ý về nho học, từng bảo thị thần rằng: “Học hiệu là nơi chứa nhân tài, tất phải giáo dục có căn bản thì mới thành tài. Trẫm muốn bắt chước người xưa, đặt nhà học để nuôi học trò, ngõ hầu văn phong dấy lên, hiền tài đều nổi, để cho nhà nước dùng”.

    Sai trích tô thuế bốn huyện phủ Đoan Hùng trấn Sơn Tây nộp về Tuyên Quang, tô thuế huyện Thiên Phước trấn Kinh Bắc nộp về Thái Nguyên. Vì tiền thóc hai trấn ấy thu vào hàng năm không bao nhiêu, thường do Sơn Tây và Kinh Bắc chở cấp cho, đường sá nhọc mệt, nên sai những huyện ở gần nộp về cho tiện.

    Lấy Phó vệ úy vệ Hữu nhị Thị trung là Thái Ngọc Bạch làm Phó vệ úy vệ Tiền nhất, Thuộc nội cai đội là Lê Văn Quý làm Phó vệ úy vệ Trung nhất, Hoàng Văn Tại làm Phó vệ úy vệ Hữu nhất, Lê Văn Hiến làm Phó vệ úy vệ Hữu nhị.

    Thành thần Gia Định tâu nói: “Thuế sân chim ở đạo Kiên Giang trấn Hà Tiên đã bãi bỏ rồi, nay tiểu dân có nhiều người lấy trộm để bán cho thuyền buôn mà kiếm lợi. Vậy xin sai trấn thần ủy dân sở tại giữ lấy, hằng năm phải nộp lông và quạt như số (lông chim đen 50 bộ, quạt lông nhỏ 100 chiếc). Nếu dám mua bán riêng thì có tội”. Vua y cho.

    Cho Chánh phó vệ úy Thị nội phẩm trật cũng như Chánh phó vệ úy Thị trung.

    Tháng 2, ngày Ất mùi, hoàng hậu Tống thị băng, thọ 54 tuổi. Đặt quan tài ở điện Khôn Nguyên. Vua thương tiếc khôn nguôi, đội khăn đen mặc áo trắng, ngự ở nhà mật nghị, vời bầy tôi dụ rằng: “Vua để tang hoàng hậu một năm là lễ rất chính. Trẫm ở trong cung để tang một năm. Còn từ hoàng tử trở xuống thì bàn định theo thứ bực”. (Hoàng tử mặc áo vén gấu chống gậy, để tang 1 năm, ngoài 1 năm dùng tâm tang, mặc áo trắng, 15 tháng thì làm lễ Đàm; hoàng tôn mặc áo vén gấu, chống gậy để tang 1 năm, cha còn thì để tang 1 năm không có gậy; công chúa, trưởng công chúa, cung tần tả hữu, vợ lẽ của hoàng tử, hoàng tôn, và những người thân trong 5 bậc tang từ tang 9 tháng trở xuống, đều mặc áo vén gấu để tang 1 năm, bực đản vấn thì dùng khăn vải trắng và áo tràng vạt vải trắng mà lạy theo; các quan văn võ từ tam phẩm trở lên thì mặc áo vén gấu để tang 1 năm, quan tứ lục phẩm trở lên thì mặc áo tang 9 tháng, cửu phẩm trở lên thì mặc áo tang 5 tháng; con trưởng quan nhất phẩm tang 9 tháng; con trưởng quan nhị phẩm tang 5 tháng, con trưởng quan tam phẩm tang 3 tháng, vợ quan tam phẩm trở lên đều để tang như chồng.
    :rose: