081. Trang [0880-0891] - @truyentranh (Soát xong)

30/10/15
081. Trang [0880-0891] - @truyentranh (Soát xong)
  • Đồ đạc đỏ tía cùng âm nhạc hát xướng, quan tam phẩm trở lên cấm 1 năm, quan lục phẩm trở lên cấm 9 tháng, cửu phẩm trở lên cấm 5 tháng, quân dân cấm 3 tháng. Đến như việc giá thú thì từ quan tam phẩm trở lên cấm 3 tháng, lục phẩm trở lên cấm 2 tháng, cửu phẩm trở lên cấm 1 tháng, quân dân cấm 13 ngày. Ở Kinh ngày mồng một và ngày rằm thôi chầu 1 năm. Ở ngoài các thành dinh trấn thì vẫn y lệ chầu lạy).

    Ngày Canh tuất, lễ thành phục. Vua mặc áo vén gấu đến lạy hai lạy. Sai hoàng tử dâng cơm tế điện. Trước kia hoàng tử thứ tư mới lên 3 tuổi, vua cho hoàng hậu nuôi làm con mình. Hoàng hậu đòi làm giấy khoán (theo thế tục, phàm nuôi con người làm con mình thì phải có khế khoán quá phòng). Vua sai Lê Văn Duyệt viết giấy đưa cho. Hậu giao cho cung tỳ là Nguyễn Thị Lê cất giữ. Từ đấy hoàng tử thứ tư thường vào chầu ở đại nội, làm con của hoàng hậu, thường gọi là mẹ. Đến khi hoàng cả là Cảnh, hoàng hai là Hy, hoàng ba là Tuấn nối nhau mất, hoàng tư lấy thứ bậc là lớn nhất, duy đời trước phái trưởng phần nhiều khó nuôi cho nên không muốn gọi là trưởng. Đến nay làm lễ tang hoàng hậu, bầy tôi có người bàn lấy hoàng tôn Đán (con hoàng tử Cảnh, tức là Mỹ Đường) làm chủ tự. Vua dụ rằng: “Hoàng tư từng làm con của hoàng hậu, đã có giấy tờ, nên sai làm chủ tự, việc lớn của nhà nước không nên câu nệ theo lễ đích tôn thừa trọng như nhà thường”. Nguyễn Văn Thành cho thế thì văn tế khó gọi. Vua bảo rằng: “Con theo mệnh cha tế mẹ là việc danh chính ngôn thuận, có gì mà không nên”. Bấy giờ việc bàn mới định. Nguyễn Văn Thành tỏ ý không bằng lòng.

    Phó tướng quân Chấn võ là Trần Văn Tín chết.

    Lấy Cai cơ thủy quân là Nguyễn Văn Sử làm Phó quản cơ Hữu thủy.

    Ngày Đinh mùi, tế Trời Đất ở đàn Nam giao.

    Đúc tiền đồng 6 phân hiệu “Gia Long thông bảo”. Sai cục Bảo tuyền Bắc Thành phỏng theo phép đúc tiền của nước Thanh mà làm. (Chi đồng đỏ 500 cân, kẽm 415 cân, chì 65 cân, thiếc 20 cân).

    Thành thần Gia Định tâu nói: “Nay ở thành đã chia tào định cục, việc có chuyên trách, chẳng ví như ngày trước chỉ một người làm. Xin định lấy mỗi tháng sáu ngày (mồng 3, mồng 8, 13, 18, 23, 28), quan lại các tào trong thành đều họp bàn ở công đường. Phàm mọi việc từ tụng văn án ở thành hạt đều đến ngày đó họp bàn xử định. Dân trong hạt có việc kêu kiện thì cũng đầu đơn ở ngày ấy. Làm lệ thường lâu dài”. Vua y cho.

    Sai Chưởng cơ Phan Văn Quỳnh đem 500 biền binh thuộc Ngũ quân sửa đắp đài Trấn Hải, Đô thống chế Tống Phước Lương lấy 500 người dân Quảng Nam sửa đắp đài Điện Hải.

    Đổi định số viên chức ở 2 ty Chiêm hậu và Lương y thuộc các thành dinh trấn. Ty Chiêm hậu ở Gia Định và Bắc Thành đều 44 người, Ty Lương y đạo Thanh Bình và 6 ngoại trấn Bắc Thành đều 5 người.

    Tháng 2 nhuận lấy Hữu tham tri Hình bộ là Nguyễn Xuân Thục làm Hữu tham tri Binh bộ.

    Quảng Đức có dịch. Sai dinh thần lập sở dưỡng tế ở Thế Lại (tên xã) cho người ốm ở, nhà nước cấp cho tiền gạo thuốc thang. Người chết thì cho tiền và vải để chôn (tiền 1 quan, vải 10 thước).

    Người Man ở 3 động Lạc Hoàn sai sứ đến cống.

    Tham hiệp Cao Bằng là Đào Xuân Thứ ốm phải nghỉ việc; lấy Tri bạ quân Thần sách là Trần Văn Thái làm Tham hiệp Cao Bằng.

    Các quan thành dinh trấn nghe tin về tang Đại hành hoàng hậu, dâng sớ xin vào viếng. Cho Thượng thư Hộ bộ ở Bắc Thành là Nguyễn Đình Đức và cai bạ, ký lục, hiệp trấn, tham hiệp mỗi dinh trấn một người về Kinh dâng hương. Tổng trấn Gia Định là Lê Văn Duyệt lại dâng sớ xin. Vua dụ rằng: “Ngươi đối với nhà nước, nghĩa như vua tôi, ơn như cha con. Nghĩ biên khổn là nơi trọng yếu là vì mùa màng thua kém, ngươi lên lưu lại thành mà sắp đặt, để cho trong yêu dân thứ, ngoài chặn biên man, đó tức là lấy hiếu làm trung vậy”.

    Quốc vương Chân Lạp là Nặc Chăn cũng xin chịu tang, thành thần đem việc tâu lên. Vua khiến để tâm tang 13 ngày thôi. Nặc Chăn bèn sai sứ đến dâng hương.

    Định lệ thuế bách công. Mỗi năm mỗi người nộp 1 quan 5 tiền, vải trắng 2 tấm. Người nào ứng dịch ở Kinh thì miễn.

    Miễn dao dịch cho 11 người dân xã An Thành trấn Bình Hòa, sai hằng năm đi lấy kỳ nam về nộp, nếu không có thì nộp thay trầm hương mỗi người 8 lạng.

    Sai Gia Định biến các đội thuộc binh ở đồn Uy viễn (270 người) làm 5 đội của chi Viễn sai.

    Tháng 3, lấy Hàn lâm viện Lê Đồng Lý làm Thiêm sự Lễ bộ.

    Từ Thanh Nghệ trở ra Bắc có dịch lớn. Sai quan các trấn lập đàn tế nhương.

    Lấy Tri phủ Quốc Oai là Phạm Tiến Lương làm Thiêm sự Binh bộ, Tri phủ Bắc Hà là Nguyễn Kim Phương làm Thiêm sự Hình bộ, sung 2 tào Binh Hình ở Bắc Thành.

    Sai Vệ úy Thị trung là Tôn Thất Huy, Chưởng cơ Thủy quân là Nguyễn Văn Hạnh quản 40 thuyền để chở sản vật ở Bắc Thành. Vua dụ Huy rằng: “Công việc vượt biển, Hạnh vốn thông thạo, ngươi nên tùy việc cùng bàn với nhau, chớ nên trái nhau kẻ buồm người sào mà lầm lỡ chẳng nhỏ”. Đến khi về, vua khen nhanh, thưởng cho biền binh 2.500 quan tiền.

    Tha giảm tô thuế năm nay cho các địa phương. Chiếu rằng: “Vương đạo chỉ ở làm ơn huệ thiện chính trước phải giữ gìn dân. Nay mưa nắng trái thời, dưới sự soi xét, rất thương đời sống của dân, vậy xem tai hại nhiều ít mà lượng giảm thuế ruộng thuế thân. Gia Định, Quảng Ngãi thì giảm 5 phần 10, Quảng Trị, Quảng Bình, Bình Định thì giảm 3 phần 10, huyện Bồng Sơn thì giảm 5 phần 10, Quảng Nam, Bình Hòa, Bình Thuận, Thuận Thành, Nghệ An, Thanh Hoa, Thanh Bình, Bắc Thành thì giảm 3 phần 10”. Lại thấy Gia Định gạo đắt (gạo một phương giá 7 tiền 15 đồng), sai thành thần lưu số thóc chở năm nay lại thành để đủ cấp phát.

    Cho các trấn Bắc Thành nộp thay thuế thiếu năm ngoái bằng tiền (một hộc thóc nộp 6 tiền). Phủ Lạng Giang trấn Kinh Bắc và 5 huyện Hạ Hòa, Thanh Ba, Hoa Khê, Lập Thạch, Tam Dương trấn Sơn Tây, thóc tô năm nay đều cho nộp thay bằng tiền (1 hộc thóc nộp 7 tiền).

    Ngày Kỷ hợi dựng điện Hoàng Nhân. (Ở phía Bắc bên ngoài tường Thái miếu. Năm Minh Mệnh thứ 10, đổi tên làm điện Phụng Tiên; năm thứ 18 dời dựng ở phía bắc ngoài tường Thế miếu). Sai Vệ úy Trương Phúc Đặng trông coi công việc. Làm hai tháng điện xong. Thưởng cho đốc biện, giám tu và binh thợ hơn 4.000 quan tiền.

    Ngày Quý sửu, dựng Thọ lăng ở Thụ Sơn xã Định Môn. Trước đây, Đại hành hoàng hậu băng, vua cùng đại thần bàn muốn phỏng theo lễ hợp lăng (1. Hợp lăng: Táng 2 ông bà vào một lăng, cũng gọi là song táng) của người xưa, sai Tống Phước Lương và Phạm Như Đăng lãnh chức Sơn lăng sứ, khiến cùng Lê Duy Thanh đi xem các núi. Bảy lần bói, chỉ có núi Thụ Sơn là tốt. Vua đến xem đất ấy vượng khí chung đúc, các núi quanh chầu bầy tôi đều cho là đất tốt vạn niên. Vua sai hoàng tử thứ tư bói. Bói được quẻ Dự. Nguyễn Hữu Thận xem quẻ rồi nói: “Tốt lắm”. Bèn lấy quân dân để làm lăng, mặt trước rộng 150 trượng, 3 mặt tả hữu hậu đều rộng 100 trượng. Bốn mặt thành chính đều dài hơn 10 trượng. Chỗ chính huyệt đặt 2 cái quách đá. Cửa trước xây bực đá. Mấy tháng làm xong, gọi tên là lăng Thiên Thụ, phong cho núi là núi Thiên Thụ. (Bên tả là Thanh Sơn, bên hữu là Bạch Sơn, trước mặt là Thủy Sơn, núi thứ nhất là Tiểu Thiên Thụ, núi thứ nhì, thứ ba, thứ tư là núi Trung Thiên Thụ, núi thứ năm là Đại Thiên Thụ, thứ sáu là Diên Sơn, thứ bảy là Bính Sơn, thứ tám là An Sơn, thứ chín là Hưng Sơn, thứ mười là Hòa Sơn, thứ mười một là Xuân Sơn, thứ mười hai là Hoa Sơn, thứ mười ba là Cẩm Sơn, thứ mười bốn là Bình Sơn, thứ mười lăm là Bảo Sơn, thứ mười sáu là Hùng Sơn, thứ mười bảy là Chinh Trung Sơn, thứ mười tám là Trang Sơn, thứ mười chín là Hương Sơn, thứ hai mươi là Nhân Sơn, thứ hăm mốt là Cận Nhân Sơn, thứ hăm hai là Tiểu Tượng Sơn, thứ hăm ba là Cận Tượng Sơn, thứ hăm bốn là Quý Sơn, thứ hăm lăm là Mậu Sơn, thứ hăm sáu là Thuận Sơn, thứ hăm bảy là Mỹ Sơn, thứ hăm tám là Đoài Sơn, thứ hăm chín là Trần Sơn, thứ ba mươi là Kim Sơn, thứ băm mốt là Trinh Sơn, thứ băm hai là Bích Sơn, thứ băm ba là Cận Bích Sơn, thứ băm tư là Tam Bút Sơn; lại có Đại Tượng Sơn, Ất Sơn, Thạch Bàn Sơn, Ngọc Đường Sơn, Thịnh Sơn, Kim Sơn, Lẫm Sơn, Thành Sơn).

    Bên hữu lăng dựng tẩm điện gọi là điện Minh Thành. (Điện này không sơn đỏ, gỗ mộc làm giản dị giống như có thể ngày mai làm xong cho nên đặt tên như thế, cũng theo ý như miếu Cố Thành của nhà Hán). Những người ứng dịch được hậu cấp tiền gạo, số thưởng thêm kể hàng nghìn. Có mở vào ruộng đất phần mộ của dân thì đều trả tiền hậu. (Ruộng nhất đẳng 1 mẫu cấp 200 quan, nhị đẳng 150 quan, tam đẳng 100 quan, mồ mả mỗi nấm cấp 3 quan).

    Chuẩn định từ nay những lái buôn ở Hải Nam, Triều Châu có bài thuyền ở cửa quan Việt Hải (thuộc tỉnh Quảng Đông nước Thanh) cùng ấn và chữ ký của viên quan cửa quan Giang Môn thì theo lệ thuế thuyền Quảng Đông mà đánh.

    Triệu các đội Chấn uy ở Gia Định về Kinh, sai 88 người lính ở các đội Tân súng và Nhưng súng ở Bình Thuận và Bình Hòa đổi đi thú Gia Định.

    Lấy Cai đội Trung quân là Võ Văn Chi làm Phó vệ úy vệ Trung bảo nhất.

    Dời phủ lỵ phủ Khoái Châu ở Sơn Nam thượng đến huyện Đông Yên (trước ở huyện Kim Động).

    Đổi vệ Tín uy Tả dinh quân Thần sách làm vệ Nghiêm uy.

    Giặc trốn ở Bắc Thành là Lê Đoàn họp đảng hai trăm người cướp Lạt Sơn (tên xã, thuộc huyện Kim Bảng), đốt phá hơn trăm nhà. Trưởng hiệu đồn Bút Sơn là Nguyễn Đăng Bích đem quân và dân đánh nhau với giặc, bắt được đồ đảng hơn 40 tên. Việc tâu lên. Thưởng cho Đăng Bích 100 quan tiền, biền binh 200 quan tiền, dân làng Lạt Sơn 1.000 quan; người chết và người bị thương thì cấp tiền tuất cho gia đình.

    Hạ lệnh cho Quảng Nam chia hơn 300 biền binh các đội Thắng chấn làm bốn ban (một ban ứng trực, ba ban nghỉ) đóng giữ đài Điện Hải.

    Đổi kho Tân Thành ở Bình Định làm kho Định Thành.

    Mùa hạ, tháng 4, mồng1, tế hạ hưởng (giảm 2 tiết tấu nhã nhạc và cho phúc tộ. Trong hạn tang 1 năm thì đều thế. Ngày mồng 1 mà gặp lễ miếu hưởng và lễ ban sắc thì ngày tế điện lớn ở điện Khôn Nguyên lùi lại ngày sau).

    Ngày Quý dậu, sửa hai lăng Vĩnh Diễn và Vĩnh Diên. Sai Tham tri Lễ bộ là Trần Quang Tĩnh và Lưu thủ Quảng Nam là Nguyễn Cửu Khoáng trông coi công việc.

    Vét sông An Cựu. (tức là sông Lợi Nông ngày nay, ở bờ phía nam sông Lương dọc đến xã Thần Phù giáp phá Hà Trung).

    Vua đến Thanh Tuyền (tên xã, tức làng Thanh Thủy ngày nay), trải xem hình thế, vời các phụ lão đến dụ bảo về công việc vét sông. Phụ lão thưa rằng: “Đời xưa có ngòi lạch để phòng nắng lụt mà chứa lại hay tháo đi. Nay khai sông này, thực lợi cho nông dân lắm”. Bèn sai dinh thần Quảng Đức xem đo đường sông mà khai vét. Lại ở xã Thần Phù xây 1 cái cống có cánh cửa để ngăn nước mặn, bắt 1vạn 3 nghìn người quân và dân làm, chi tiền là 130.400 quan, gạo cũng ngang thế. Do đấy nước sông lưu thông, dân đều tiện lợi.

    Dựng kho trấn Phú Yên. Trấn thủ Nguyễn Văn Huyên, Ký lục Võ Doãn Thiếp, Cai bạ Mai Đức Giai, vì tội làm hao phí của công, bị miễn chức; lấy Quản cơ cơ Hòa thắng trấn Bình Hòa là Nguyễn Văn Quế, Thiêm sự Công bộ là Nguyễn Bá Uông, Thiêm sự Lại bộ là Trần Văn Đại thay.

    Ký lục Biên Hòa là Hoàng Công Xuân về đinh ưu; lấy Thiêm sự Binh bộ là Nguyễn Đình Trắc làm Ký lục Biên Hòa.

    Kén lính ở Gia Định. Thành thần cho là trọng địa ở cõi Nam, tâu xin kén lính để mạnh mẽ biên phòng. Vua giao xuống triều đình. Chuẩn cho theo sổ tuyển năm Quý dậu lấy dân đinh các hạng tráng, quân, dân các trấn Phiên An, Biên Hòa, Vĩnh Thanh, Định Tường 49.700 người. (Phiên An 12.534 người, Biên Hòa 5.201 người, Vĩnh Thanh 21.054 người, Định Tường 10.911 người), hai đạo Long Xuyên và Kiên Giang 2.277 người (Long Xuyên 1.425 người, Kiên Giang 852 người), cứ 8 đinh lấy 1 (phàm lẻ 6,7 đinh trở xuống là thừa; những xã chỉ có 6,7 đinh trở xuống là không đủ, đều miễn kén; anh em ba người trở lên đã có 1, 2 người có quan chức, hay sung quân ngũ, còn người nào ở lại hạng dân cũng miễn, duy người sung làm thuộc binh ở các nha thì không theo lệ này). Phiên An đặt làm 3 cơ Phiên bình trung tiền hậu và năm đội Phiên võ nhất nhị tam tứ ngũ. Biên Hòa đặt làm cơ Biên hùng và 4 đội Biên dũng nhất nhị tam tứ; Vĩnh Thanh đặt làm 5 cơ Vĩnh bảo trung tiền tả hữu hậu và cơ Vĩnh thành; Định Tường đặt làm 3 cơ cơ Định uy trung tiền hậu, 1 đội Định tín; Long Xuyên đặt làm 3 đội Long quang nhất nhị tam; Kiên Giang đặt làm 2 đội Kiên nghị nhất nhị. Binh các trấn lệ theo thành và trấn, thành có 7 cơ, Phiên An, Biên Hòa mỗi trấn 1 cơ, Định Tường, Vĩnh Thanh mỗi trấn 2 cơ, chia làm 5 ban, một ban ở ngũ, bốn ban nghỉ. Lại trích 200 người đi thú Hà Tiên, 6 tháng đổi 1 lần. Binh ở hai đạo Long Xuyên và Kiên Giang chia làm ba ban, lệ theo bản đạo. Còn hạng dân biệt nạp và đồn điền là 9.876 người thì 3 đinh lấy 1, đặt làm 5 cơ Gia thuận trung tiền tả hữu hậu và cơ Gia dũng, hằng năm cứ tháng 3 tháng 11 thì đến thành thao diễn 1 tháng, rồi cho về.

    Chiếu dụ rằng: “Gia Định là đất trung hưng. Trước kia đất 1 thành quân 1 lữ mà lấy lại được cơ nghiệp cũ. Sau khi đại định, vui cho dân ta nghỉ vai. Nhưng lại nghĩ nước nhà dẫu yên, không nên quên việc đánh dẹp. Huống chi ở gần biên giới phải biết phòng bị trước mới khỏi lo sau. Nay chuẩn theo đình nghị, kén lấy binh lính biên thành cơ đội, là vì bọn ngươi sinh trưởng ở đấy, quen thuộc đất nước, khi không việc thì chia phen mà rèn tập, lúc có việc thì ra sức mà chống đánh, dùng binh ở đất ấy để giữ đất ấy, không ví như những binh kén ở nơi khác thường phải gọi đi thú ở xa. Dân chúng các ngươi nên thể lòng trẫm, dân yên làm ăn, binh vui phục dịch, không nên ngờ sợ”.

    Tháng 5, tiết Đoan dương, miễn chầu mừng cho các quan.

    Định phẩm trật cho quan hộ lăng. Việc hộ lăng, trước đặt chức cai đội, trật tòng ngũ phẩm, đội trưởng, trật tòng lục phẩm. Đến nay mới đặt chức giám sơn lăng chánh phó sứ, chánh sứ trật tòng tam phẩm, phó sứ trật tòng tứ phẩm, đội trưởng trật chánh ngũ phẩm, theo chánh phó sứ theo dõi các tôn lăng. Sai Tôn Thất Thăng chọn bổ. Bèn lấy Tôn Thất Đạo làm Chánh sứ, Tôn Thất Thuận làm Phó sứ, Tôn Thất Ngũ, Tôn Thất Quảng làm Cai đội, Tôn Thất Thịnh, Tôn Thất Trinh, Tôn Thất Chử, Tôn Thất Thái, Tôn Thất Lộc, Tôn Thất Tự, Tôn Thất Trang, Tôn Thất Tại, Tôn Thất Chiến làm đội trưởng mà chia giữ. Lính giữ lăng 103 người chia làm 2 ban, dân 384 người chia làm ba ban.

    Lấy Trịnh Thanh làm giám thủ việc thờ cúng họ Trịnh.

    Hạ lệnh cho các thành dinh trấn lập nhà khám và nhà ngục ở phía Bắc trong thành. (nhà khám ba gian hai chái, nhà ngục năm gian hai chái).

    Bộ Hình tâu nói: “Việc giam xét các tù nặng, tuy chưa xử án, mà không có người nuôi nấng, xin cũng cấp lương cho ăn, còn tù đồ có niên hạn thì không kể tháng nhuận tháng thiếu, đều cứ mãn hạn tha ra”. Vua y lời tâu, sai ghi làm lệ.

    Bọn quan bảo hộ Chân Lạp là Nguyễn Văn Thụy và Trần Công Đàn làm việc phần nhiều chuyên quyền độc đoán, Phiên vương bị chèn ép, lòng người ngờ sợ. Việc đến tai vua, Vua với bầy tôi bàn, Nguyễn Văn Thành tâu rằng: “Nước Chân Lạp là thuộc quốc của ta, đời đời cống hiến. Nay vì nước ấy suy nhược, triều đình sai quan bảo hộ, thực là việc nghĩa cử. Song đặt chức bảo hộ là cốt giữ cho nước ấy được còn, chứ không phải để giám trị nước ấy. Vậy nên hạ lệnh cho bọn Thụy chớ nên can dự vào chính sự nước ấy, để cho Phiên vương được tự làm việc, thì lòng dân sẽ yên”. Vua cho là phải. Chiếu cho bọn Thụy rằng phàm là việc nước Chân Lạp thì để cho vua quan nước ấy phân xử không được can thiệp. Duy có việc sớ chương và công văn thì mới được xem kỹ và châm chước rồi sau đệ đi, để cho hợp với sự thể.

    Lấy cựu Hiệp trấn Thái Nguyên là Nguyễn Văn Công làm Hiệp trấn Tuyên Quang.

    Ngày Kỷ sửu, sửa miếu Triệu Tổ; sai Vệ úy Thị trung là Nguyễn Thành trông coi công việc nước. Thưởng cho biền binh 400 quan tiền.

    Lấy Vệ úy vệ Hữu nhất Thị trung là Tôn Thất Bính làm Phó đô thống chế Hữu quân dinh Trần sách.

    Bỏ thuế biệt nạp gỗ lim cho hai xã Lãng Điền và Tri Lễ trấn Nghệ An, kén dân làm lính, bổ vào vệ Võ thành.

    Lấy Cai bạ Quảng Nam là Võ Văn Trí làm Cai bạ Quảng Đức, Thiêm sự Lại bộ là Nguyễn Văn Phong làm Cai bạ Quảng Nam.

    Hạ lệnh cho Bắc Thành hằng năm cấp tiền gạo cho họ Lê. Trước kia đã ân cấp tự dân hơn 1.000 người, tự điền 1.000 mẫu, khiến tự thu lấy 3.000 quan tiền và 6.000 phương gạo. Đến nay bọn Lê Duy Khải cho rằng thu ở dân không tiện, xin hạ lệnh cho dân y số nộp vào quan, rồi quan cấp cho. Vua y theo lời xin.

    Tháng 6, ngày Canh thân mồng 1, có nhật thực.

    Cấm nhân dân không được trồng trọt ở thánh địa các lăng. Thế rồi dân Định Môn có kẻ phạm cấm. Vua muốn chém xã trưởng là Bùi Văn Tín để làm gương. Hoàng tử thứ tư xin. Vua bèn tha.

    Đô thống chế Thị trung là Nguyễn Văn Khiêm chết, tăng Thiếu bảo quận công, thụy là Trung Cẩn, cho 4 cây gấm Tống, 1.000 quan tiền. Sai quan dụ tế.

    Chưởng cơ là Đào Văn Cửu làm sớ đề cử hai người ở ty Lệnh sử làm Hàn lâm thị thư. Vua nói: “Cửu là quan võ mà cử làm quan văn thì biết học vấn của người ta thế nào?”. Sai hai bộ Lại Lễ hạch xem.

    Hạ lệnh cho Bắc Thành phát 1 vạn lạng bạc, ủy cho bọn người Thanh là Tạ Bằng Chu và Chu Tứ Ký sang Quảng Đông tìm mua hàng hóa.

    Lấy Cai cơ là Hồ Văn Thất làm Phó quản đồn Uy viễn.

    Thị thư viện dâng bản Hoàng triều tôn đồ lên vua xem.

    Vua bảo Lễ bộ thần rằng: “Tổ tiên ta công đức chứa chồng, có hơn nghìn năm, nhưng thế đại xa cách, sự tích thiếu sót. Từ khi Triệu Tổ ta mở nền truyền đến các thánh, những đức nghiệp to lớn chép trong các sách, rõ ràng có thể khảo được. Nay soạn tôn đồ, nên lấy đức Triệu Tổ Tĩnh hoàng đế làm đầu”.

    Chưởng dinh hưu trí Hồ Văn Lân chết. Thành thần Gia Định tâu lên. Vua nghĩ Lân là bực huân lão trọng thần, gia tặng Thiếu bảo quận công, thụy là Trung Thuận, cho 1.000 quan tiền, sai quan dụ tế.

    Bỏ thuế hoa chi(1) (1. Hoa chi: Thuế sòng bạc.) ở Long Xuyên, Kiên Giang và Trà Vinh. Vua cho rằng tiểu dân sinh ra trộm cắp đều là do đánh bạc, bèn hạ lệnh bỏ ngạch thuế ấy. Ai còn dám mở sòng chứa bạc thì bắt tội.

    Lấy Vệ úy ngoại ngạch Hữu quân là Phạm Đình Bảo làm Quản cơ cơ Trung hùng, Cai cơ tả quân là Nguyễn Văn Tính làm Vệ úy vệ Tả bảo nhất, Vũ Viết Đề làm Phó vệ úy.

    Định thức hoành đồ(2) (2. Hoành đồ thức: Thể thức ghi đồ theo hàng ngang tức là diagramme.) ghi phong vũ hàng ngày. Sai các thành dinh trấn theo các ngày nắng ngày mưa mà đăng ký từng khoản, mỗi tháng một lần tâu lên.

    Xiêm La sai Sá Sâm Phủ Di Lạc đem phẩm vật đến hiến. Thư nói rằng triều đình hậu đãi Chân Lạp, Xiêm vương cũng cám ơn. Nhưng Nặc Chặn vốn là phên giậu của nước Xiêm, nếu Chăn không chầu nước Xiêm thì nước Xiêm không trả Nặc Nguyên về.

    Nguyễn Văn Thành cho rằng ý trong thư rất bất hòa. Hỏi gạn sứ giả, thì sứ giả trả lời lúng túng. Lê Văn Duyệt ở Gia Định cũng lấy việc biên giới làm lo, ý muốn đánh trước, bèn gửi thư kín cho Nguyễn Đức Xuyên, Đức Xuyên đem việc tâu lên.

    Vua dụ Nguyễn Văn Thành và Nguyễn Đức Xuyên rằng: “Giọng nói của Xiêm man không nên để ý. Ta cùng Phật vương trước có tình giao hảo, kết nghĩa với cha mẹ mà đánh con thì các nước láng giềng sẽ bảo ta ra sao? Vả lại việc can qua mới yên, dân đương vui được nghỉ ngơi, trẫm không muốn lại làm mệt tướng sĩ ở dưới giáo mác. Được một nước Chân Lạp mà để lo cho đời sau thì trẫm không làm. Hãy đem ý trẫm dụ cho Duyệt biết”. Hơn một tháng, hậu đãi sứ giả mà cho về (Tặng Phật vương 40 lạng vàng, 500 lạng bạc, cho vua thứ hai 20 lạng vàng, 100 lạng bạc).

    Tham hiệp Thái Nguyên là Lê Tiến Phước chết; lấy Tham luận Tượng quân là Dương Công Trang làm Tham hiệp Thái Nguyên.

    CHÍNH BIÊN

    ĐỆ NHẤT KỶ - QUYỂN XLIX - THỰC LỤC VỀ THẾ TỔ CAO HOÀNG ĐẾ

    Giáp tuất, Gia Long năm thứ 13 [1814], mùa hạ, tháng 7, ngày mồng 1, tế thu hưởng.

    Ngày Mậu tuất, dâng sách đặt thụy cho Đại hành hoàng hậu Tống thị là Giản Cung Tề Hiếu Dực Chính Thuận Nguyên hoàng hậu.

    Sách rằng: “Việc trong nhờ nội tướng, kinh Thi chép thiên Chính thủy ở đầu; Đại hành nhận đại danh phép Lễ trọng trang hoàng lúc chót.

    Nhớ người đức tốt, nên đặt tên hay. Đại hành Hoàng hậu Tống thị, là con nhà dòng, học đời dạy nghĩa. Duyên trời kết hợp, cùng trẫm tu tề. Trong khi mây sấm tối tăm, gặp gió bụi hết lòng chống đỡ; giữa buổi biển trời khó nhọc, đã vì ta ra sức lo toan. Đất khách lạnh lùng, lòng vui hầu mẹ; ngày đêm không ngại, cố sức giúp ta. Thù miếu xã nặng nề, nghĩ quyết cùng ta báo phục; tình lê dân đau khổ, nghĩ phải cùng ta cưu mang. Nên khi trẫm khôi phục đất đai, quét thanh bờ cõi; hậu hay đem điều hiếu phụng sự tổ tiên. Một vẻ khiêm cung, tiếp đãi người dưới. Đối phi tần giữ niềm nhân hậu, đối con cái đều lòng mến yêu. Ra ơn đến cả võ văn, để ý đến nơi làng xóm. Tang chế Thái hậu, thương xót đến điều. Sau trước một niềm, trong ngoài đều cảm. Tuổi thọ chưa đầy sáu chục; xe tiến phút đã giục đi. Nhớ người giúp việc tốt lành nên tặng di chương rực rỡ. Vậy nay thỉnh mệnh Tôn Miếu, đặc biệt sai quan Khâm sai chưởng Hữu quân kiêm giám Thần sách quân Khiêm quận công Phạm Văn Nhân làm Chánh sứ, Thượng thư Lễ bộ Hưng nhượng hầu Phạm Đăng Hưng làm Phó, dâng sách đặt tên thụy là Giản Cung Tề Hiếu Dực Chính Thuận Nguyên hoàng hậu. Mong cho vui nhận tên hay để thơm muôn thủa. Than ôi! Khen việc làm cốt để nêu công, lễ cần nên thế; sống vẻ vang chết đành thương xót, xin hậu chứng cho”.

    Ngày Kỷ hợi bố cáo trong ngoài.

    Chiếu rằng: “Gây mối chính đầu, phép lớn trời đất; theo đòi lo trọn, lễ lớn nước nhà. Đại hành hoàng hậu Tống thị, vốn quen lời dạy nghĩa, sớm kết duyên với ta. Chung nỗi gian nan, giúp bề nội trị; tới nay đã đến 37 năm rồi. Chợt về cõi tiên, lòng ta thương nhớ. Vậy chuẩn cho đình thần bàn lễ, có sách đặt thụy hiệu, ngày mồng 9 tháng 7 thỉnh mệnh ở Tôn Miếu, ngày mồng 10 đặc biệt sai thân huân đại thần bưng sách vàng dâng thụy là Giản Cung Tề Hiếu Dực Chính Thuận Nguyên hoàng hậu. Than ôi! nết tốt rỡ ràng như ngọc uyển ngọc diễm, nghĩa phải nên làm; huy hiệu vang lừng khắp cõi xa cõi gần, đời càng rõ rệt. Tuyên bảo xa gần, khiến đều nghe biết”.

    Xa giá tới điện Hoàng Nhân. Có người Hương Trà là Nguyễn Công Diên dâng thư nói việc. Vua sai dừng xe nhận lấy. Đình thần đều cho đó là bọn người quê mùa không hiểu việc đời, lời nói phần nhiều là viển vông. Vua nói: “Câu nói kẻ điên cuồng thánh nhân cũng cần lựa chọn. Nếu xét có điều gì hay thì dùng, điều nào không dùng được thì để đó, cho rộng đường ngôn luận”.

    Trấn thủ Kinh Bắc là Nguyễn Đình Tuyển bị phát giác về tội nhũng lạm bị bãi chức. Lấy Khâm sai chưởng cơ chánh quản thập cơ Tuy Thắng của Hậu quân là Ngô Văn Ngữ lãnh Trấn thủ Kinh Bắc.

    Vua thấy gần đây quan phủ huyện về cư tang, quan địa phương thường tâu lên đợi chỉ, bảo bộ Lại rằng : “Đem lòng hiếu để thờ vua, cho nên muốn cầu tôi trung phải tìm ở nhà con hiếu. Nay quan phủ huyện về cư tang phải đợi chuẩn chỉ rồi mới về sửa việc tang, chờ lâu hàng tháng, làm phiền lòng cho người con hiếu. Vậy hạ lệnh từ nay tri phủ, tri huyện gặp tang cha mẹ thì thượng ty sở tại chọn người khác quyền thay mà cho về ngay, rồi sau sẽ tâu”.

    Triệu Hiệp trấn Thanh Hoa là Nguyễn Hoài Quỳnh về Kinh. Lấy Tham tri Hình bộ là Nguyễn Xuân Thục lãnh Hiệp trấn Thanh Hoa.

    Lấy Cai cơ quân Chấn võ là Đặng Văn Toán làm Quản đạo Long Xuyên, cựu Ký lục Quảng Bình là Nguyễn Văn Nhiên làm Tri bạ.

    Thanh Hoa gió bão.

    Lưu thủ Quảng Nam là Nguyễn Cửu Khoáng về đinh ưu; lấy Vệ úy vệ Tiền nhất Thịnh trung là Trần Đăng Long lãnh Lưu thủ Quảng Nam.

    Dựng thêm kho ở các trấn Bắc Thành; sai bộ Công trù nghĩ kiểu mẫu đưa về các trấn, mua gỗ tốt để làm.

    Hạ lệnh cho dinh vệ cơ đội các quan phàm bệnh binh xin nghỉ đến ba lần, thì hạ lệnh ngay cho xã dân đổi lấy người khác sung ngũ.

    Vua nghe Thanh Nghệ và Bắc Thành kén lính, dân sở tại cấp thêm nhiều lương điền cùng tiền tương muối và hẹn riêng niên hạn tại ngũ, dụ rằng: “Phụ dưỡng quân lính ngoài lệ đều cấm, vốn là muốn bớt tổn phí cho dân. Nay tình dân thỏa thuận với nhau, không phải là yêu sách, vậy tạm theo sở nguyện. Duy ước riêng thay đổi lẫn nhau và sách nhiễu nhiều khoản thì cấm như lệ”.

    Triệu những hương cống đỗ nhị trường ở Quảng Đức và Gia Định bổ vào Cống sĩ viện. Dụ rằng: “Bọn ngươi sơ học mới tiến, nếu vội sai làm việc quan ngay thì không rỗi mà học được. Nay trao cho chức nhàn để cho ngày càng học thêm”.