082. Trang [0891-0902] + thaole92 soát xong

25/5/16
082. Trang [0891-0902] + thaole92 soát xong
  • Tặng thêm cho Đô chỉ huy sứ Tôn Thất Bảo làm Ý công, Thái phó quốc công Tôn Thất Hạo là Trang công, Thái sư quốc công Tôn Thất Đồng làm Uy công, thiếu phó quận công Tôn Thất Mân làm Thái phó Nghị công, Thái bảo quốc công Tôn Thất Điến làm Tương công, Thái phó quận công Tôn Thất Huy làm Quốc công, Hoàng tử Thiếu úy quận công Hy làm Hoài công.

    Dựng đền triển thân ở Vân Dương. (Đền một tòa chín gian. Vị thứ lấy mé tây làm trên. Ngôi thứ nhất thờ Tống Sơn quận công Ngọc Dao, thứ hai Thành công Tôn Thất Thương, thứ ba ý công Tôn Thất Bảo, thứ tư Tráng công Tôn Thất Hạo, thứ năm Uy công Tôn Thất Đồng, thứ sáu Nghị công Tôn Thất Man, thứ bảy Tương công Tôn Thất Điến, thứ tám Quốc công Tôn Thất Huy, thứ chín Hoàng tử Hoài công Hy). Sai cai đội Tôn Thất Phượng coi giữ; lấy 28 người dân Long Hồ sung từ phu, cấp cho tự điền ruộng 500 mẫu, hàng năm lấy số thu được để chi tiêu việc thờ cúng.

    Dân xã Quy Lai dinh Quảng Đức xin mở đập Mậu Tài (tên xã) để lấy nước vào ruộng vụ mùa. Dinh thần đem việc tâu lên. Vua nói: “Nước sông tưới ruộng há có phải lợi riêng cho 1 ấp đâu?”. Bèn y cho.

    Vua đến Văn Miếu, thấy lễ sinh nhiều người vắng mặt, sai đánh roi. Sắc từ nay các lễ sinh phải chia làm năm ban ứng trực (một ban ứng trực bốn ban nghỉ), ban nào bỏ khoáng thì đánh trượng và cách chức.

    Triệu Cai bạ Phiên An là Hoàng Như Lân về Kinh; lấy cựu Hiệp trấn Kinh Bắc là Phan Tiến Thiện làm Cai bạ Phiên An.

    Nước Xiêm La sai 300 binh và 50 cái thuyền đến đóng ở Bắc Tầm Bôn. Thành thần Gia Định nghe tin mật bảo Nguyễn Văn Thụy đem quân và voi đi tuần biên giới.

    Cai bạ Vĩnh Thanh là Nguyễn Văn Khánh chết; lấy Ký lục Bình Hòa là Kiều Công Tuấn làm Cai bạ Vĩnh Thanh, Tham hiệp Thanh Bình là Nguyễn Bảo làm Ký lục Bình Hòa, Tri phủ Nam Sách là Trần Văn Phú làm Tham hiệp Thanh Bình. Bảo vì tra xét án ruộng lậu bị dân kiện nên lại hạ lệnh triệt giữ ở Thanh Hoa để xét xử.

    Hạ lệnh cho các thành dinh trấn cuối năm biên số tiền bạc về các án xử sung công để tâu lên.

    Tháng 8, thả cho những biền binh ở Thanh Nghệ, Bắc Thành và Thanh Bình ứng triệu vào Kinh trở về hàng ngũ.

    Dựng thêm kho trấn Thanh Hoa.

    Lấy Quản cơ Nguyễn Văn Phong làm Vệ úy vệ Hùng cự nhị Tượng quân, Võ Công Hanh làm Quản cơ cơ Trung kích, Phó quản cơ Thái Đình Tư làm Quản cơ cơ Tiền kích, Cai đội Nguyễn Văn Phú làm Quản cơ cơ Bình tượng.

    Lấy Đông các học sĩ Lê Duy Thanh làm Thị trung trực học sĩ, kiêm Thái thường tự khanh, tham bồi việc Lễ bộ.

    Lưu thủ Quảng Bình là Lê Văn Luân chết; cho hai cây gấm Tống; lấy Khâm sai chưởng cơ Vệ úy vệ Tiền nhị Thị trung là Phan Văn Thúy lãnh Lưu thủ Quảng Bình.

    Cho Khâm sai cai cơ giám thành Phó sứ là Nguyễn Đức Sĩ làm Chưởng cơ lãnh giám thành sứ.

    Trấn thủ Thanh Hoa là Trần Công Lại trước ở Nghệ An mượn 900 quan tiền kho, đến đây việc bị phát giác, hữu ty xin chiểu luật “Giám thủ tự đạo”(1) để luận tội. Vua nói: “Pháp luật chung cho thiên hạ, không phải của riêng ai. Nhưng Công Lại phạm tội trước khi điều luật chưa định mà trước đã nộp đền rồi, cái lỗi đã qua, hỏi làm gì nữa. Duy từ nay có ai phạm tội thì xử theo luật mới”.

    1. Giám thủ tự đạo: Người coi kho tự mình lấy trộm.

    Chế đạn súng, hạ lệnh cho đội Thạch cơ lấy đá đen ở nguồn Sơn Bồ để làm.

    Lấy Nguyễn Thích sung Hàn lâm viện.

    Sai thành thần Gia Định vẽ địa đồ các đường tự thành Nam Vang đến các sứ Phủ Lật, Cần Vột và Xui Mài để dâng.

    Định thêm điều luật về ăn trộm. Vua cho rằng luật chép về điều ăn trộm tính tang kết tội chưa đủ răn bảo kẻ gian. Bèn sai đình thần định thêm. Phàm ăn trộm đã ba lần trở lên mà được của thì không kể có thích chữ hay chưa, không kể số tang nhiều hay ít, đều lấy tội “tích phỉ”(1) mà xử (ăn trộm ba lần đánh 60 trượng, đồ 1 năm; bốn lần đánh 70 trượng, đồ 1 năm rưỡi; 5 lần đánh 80 trượng, đồ 2 năm; 6 lần đánh 90 trượng đồ 2 năm rưỡi; 7 lần đánh 100 trượng đồ 3 năm; 8 lần đánh 100 trượng lưu 2.000 dặm. Thêm một lần thêm một bậc, tội chỉ đến đánh trượng 100, lưu 3000 dặm, đều thích chữ. Đến hai lần thích chữ rồi mà còn phạm nữa thì theo luật xử giảo giam hậu).

    (1) Tích phỉ: Ăn trộm nhiều lần.

    Thổ phỉ ở Thái Nguyên đánh cướp Võ Nhai. Trấn thủ Trần Văn Thìn đem quân đánh bắt, nhân đó dung túng cho bộ khúc cướp bóc tài sản của dân gian. Quan Bắc Thành đem việc tâu lên, Văn Thìn bị tội bãi chức bắt về dân.

    Tháng 9, bộ Lại dâng sớ cử sinh đồ là Nguyễn Văn Nguyên và Hoàng Văn Ngữ làm Hàn lâm. Vua nói: “Sinh đồ mà bổ Hàn lâm thì hương cống làm quan gì”. Không cho.

    Định lệ Tàu ty nộp lễ bạc (ở Kinh và ở thành Gia Định đặt cai phủ tàu, ký lục tàu, tài phó tàu mỗi chức một người, để thu thuế buôn. Cai phủ tàu lệ nộp bạc 2200 lạng, ký lục tàu 2000 lạng, Tài phó tàu 700 lạng).

    Truy tặng Thuộc nội cai cơ quản đội tiểu sai là Đỗ Văn Hựu và Phó tướng Tiền quân là Nguyễn Văn Thư làm Chưởng dinh, Thuộc nội cai cơ Nguyễn Văn Chính và Nguyễn Văn Ngữ làm Thuộc nội vệ úy. (Hữu, Thư, Chính, đều chết trận, Ngữ chết bệnh ở trong quân).

    Hạ lệnh từ nay các thuộc ty ở bộ viện và các Ty Tả thừa Hữu thừa và Chiêm hậu các thành dinh trấn có sắc thị thì ngày mồng 1 và ngày rằm đều mặc phẩm phục mà chầu lạy, làm trái lệnh thì đánh 100 trượng, cách chức đuổi về.

    Ký lục Bình Thuận là Phạm Văn Nhàn vay riêng tiền kho và ăn lễ biếu của dân, việc phát. Vua sai thành thần Gia Định bắt trị tội. Nhàn chết ở ngục.

    Chuẩn định rằng các trạm mục chánh thứ đội trưởng có khuyết thì quan địa phương chọn người cần cán cấp bằng thí sai cho làm việc, ba năm không lỗi gì thì tâu xin cho bổ thụ.

    Lấy Tuyên úy Thiêm sự Tuyên Quang là Ma Doãn Điền quản hiệu Hùng nhất, Thổ mục Ma Sĩ Nhuận làm Chánh thủ hiệu quản hiệu Hùng nhị, cùng lãnh xưởng đồng Tụ Long về việc thuế cửa quan và mỏ.

    Lấy Hàn lâm viện trực giảng là Hoàng Kim Hoán làm Thiêm sự Binh bộ, Tri huyện Bồng Sơn là Nguyễn Kim Truy làm Thiêm sự Công bộ.

    Quản Ngoại đồ gia là Cáp Văn Hiếu tuổi già về hưu trí; lấy Lưu thủ Tôn Thất Huyên thay.

    Thẩm án mùa thu. Tha tội tử cho Nguyễn Đức Hội, bắt về dân.

    Tháng 10, mùa thu, ngày mồng 1, tế đông hưởng. Vua dụ bộ Lễ rằng việc tang một năm ở trong cung nay hãy còn quàn. Ta nghĩ việc tế đàn Nam giao và tế hưởng ở Thái miếu là lễ trọng kính trời tôn tổ cùng các lễ cuối năm yết lăng tế Chạp, Nguyên đán chầu miếu, Vạn thọ cáo miếu là lễ lớn để báo gốc đền ơn thì trẫm phải thân hành làm lễ, lễ nên như thế. Còn các ngày triều hạ thì chưa nên nhất nhất theo cát được”. Bèn hạ lệnh bàn định việc ban lịch năm nay, và việc ban cờ Mao tiết để xuất quân sang năm, chỉ thiết triều ở điện Thái Hòa, sai quan ban hành, còn hai tiết Chính đán và Vạn thọ thì đều miễn chầu mừng.

    Vua cùng bầy tôi bàn về điển thờ bách thần. Sai Nguyễn Văn Nhân, Phạm Như Đăng, Lê Duy Thanh, Bùi Đức Mân, xem xét sắc thần, vị nào có công đức với dân thì phong.

    Chuẩn định rằng, từ nay lệ bổng của quan viên trong ngoài và việc nhà nước mua vật hàng cần chi bạc thì đều dùng bạc đĩnh 10 lạng, không đủ 10 lạng thì mới dùng bạc đĩnh 1 lạng mà cấp. Chép làm lệ.

    Dựng kho Chừ tích ở Gia Định. (Ở xứ Nghi Giang thôn Hòa Mỹ).

    Lấy cựu Hiệp trấn Thái Nguyên là Lê Viết An làm Ký lục Bình Hòa, Tham hiệp Nghệ An là Lưu Văn Vượng làm Ký lục Bình Thuận.

    Sai Quảng Nam mộ dân ngoại tịch sung bổ vào các đội Tráng nhất, Tráng nhị, Tráng tam thuộc cơ Cường súng.

    Tướng giặc Bắc Thành là ngụy Tham quân Khuê, Đốc chiến Vượng, Tham binh Hựu, Hậu chi Vưu, 9 người ra thú, thành thần cho rằng bọn Khuê ra thú ngoài hạn, phép không thể tha được, xin giết. Vua xuống chiếu trả lời rằng: “Kẻ tiểu dân lỡ bước trù trờ trông ngóng, tự lấy cái vạ là kẻ đi sau, phép tuy khó khoan, tình thì nên thứ. Huống chi bọn giặc trốn ở thành lẩn lút còn nhiều, lên rộng gia ơn để mở con đường đổi mới. Vậy nên tha tội cho bọn Khuê mà định lại hạn gia thú, từ tháng 10 năm nay đến mồng 1 tháng 3 năm sau. Những người tội phạm, không kể người đầu sỏ hay đi theo, biết ăn năn tội lỗi mà ra thú thì đều cho miễn tội”.

    Trước nay Bắc Thành nhiều giặc cướp, thành thần sai Vệ úy vệ Nghiêm uy quân thần sách là Lê Viết Quý đem quân đi tuần bắt, mấy lần bắt được bọn đầu sỏ và đồ đảng đem về nộp, việc tâu lên, vua xuống chiếu khen thưởng, cho 150 lạng bạc.

    Ban áo mát và lương tháng cho các Tri huyện từ Quảng Bình về Nam. (Lương tháng tiền 4 quan, gạo 3 phương, áo mát mỗi năm 10 quan tiền).

    Vua dụ bộ Hộ rằng: “Huyện lệnh có trách nhiệm về dân xã, bổng lộc không đủ thì làm sao mà bắt thanh liêm được. Nay Tri huyện ở các huyện từ Quảng Bình trở vào nam, chưa có lệ lương, bắt đầu từ sang năm phải bàn cấp cho họ”.

    Cai đội Nguyễn Văn Bảo tự xin làm Thủ ngự Thanh Hà. Vua nói: “Nhà nước dùng người, duy người có tài thì dùng, sao có thể cần mà được! Sắc từ nay chức thủ ngự có thiếu thì lấy những viên thừa ở các vệ tuổi từ 60 trở lên mà sung bổ”.

    Sai Chưởng cơ Tống Phước Ngoạn và Tham tri Trần Văn Tuân quản việc Trường đà.

    Đặt thêm phu trạm ở trạm sông ở Gia Định, các dinh Phiên An, Biên Hòa, Vĩnh Thanh, Định Tường mỗi dinh một trạm, phu trạm đều 300 người, đạo Kiên Giang thì một trạm, phu trạm 150 người, lấy dân mới đến tuổi ở sở tại và mộ dân ngoại tịch sung vào.

    Tháng 11, nước Xiêm sai bọn Sá Sĩ Na Phạt Đa đến dâng hương. Ngày tế điện lớn, bộ Lễ dẫn sứ đến cung Khôn Nguyên lạy viếng. Vua dụ bộ thần rằng: “Việc tang một năm theo lễ thì không báo tin buồn cho nước ngoài. Nay người Xiêm tự đến, tình lễ nồng nàn, ta nên hậu đãi sứ giả rồi cho về”. (Tặng Phật vương 40 lạng vàng, 500 lạng bạc, cho vua thứ hai 20 lạng vàng, 300 lạng bạc).

    Sai quân Thần sách ở Thanh Nghệ đi thú Bắc Thành. Theo lệ trước cứ mỗi năm đến tháng giêng thì binh đổi thú và binh ứng triệu về Kinh thì điều khiển cùng một lúc, đến nay đổi định lại binh đi thú Bắc Thành thì đi từ tháng 11.

    Định lệ tiền ấn tả cáo bằng cho những người về ngạch tản giai. (Quan tản giai và người vị nhập lưu mà được cấp cáo bằng, đều phải nộp tiền theo các thứ bậc khác nhau gọi là tiền ấn tả, các ty ở Kinh, các chức thư ký, cai án, tri bạ, cai hợp thủ hợp, cục ty ở dinh vệ các quân, nộp tiền mỗi người 3 quan; các ty, các thành dinh trấn, các chức Trường đà, nho học, huấn đạo, lễ sinh, đề lại, lương y, tướng thần, xã trưởng, đội trưởng và thứ đội trưởng các trạm đều mỗi người nộp tiền 5 quan, cai hợp, thủ hợp, nhiêu thân, cai trại, từ thừa, cai đội, công khố, công xa, đề lãnh, đội trưởng phiên thần thế tập, đều mỗi người nộp tiền 10 quan; cai phủ tàu, ký lục tàu, phó tàu, đều chiếu lễ bạc mỗi 100 quan tiền thì phải nộp 1 quan. Số tiền ấy cứ mỗi quan chia làm 30 phần. Đường quan và lệnh sử ty bộ Lại đều 6 phần, Thượng bảo và Thị thư đều 4 phần, biền binh Thị trung coi giữ ấn vàng thì 3 phần rưỡi, Trung hầu Tả hầu 1 phần rưỡi, Tiểu sai, Loạn nghi, Nội thủy, Tả vệ, Hữu vệ, Hoàng kiếm đều 1 phần).

    Chuẩn định từ nay tiền thuế buôn ở thuế quan bến đò các địa phương phải nộp thay bạc, nếu không đủ lạng mới được thu tiền.

    Bộ Hộ tâu nói: “Lệ thuế đầm nguồn ở Quảng Đức trước nay thuộc bộ Hộ trông coi, nay xin giao cho dinh thần biện lý, cũng như các dinh trấn khác”. Vua y lời tâu.

    Ấm thụ cho con cháu khai quốc công thần Nội tả tổng dinh Tống Hữu Thanh là Tống Hữu Trấn làm thứ đội trưởng, coi giữ việc thờ cúng.

    Tháng 12, ngày Canh thìn, sửa lăng Cơ thánh(1).

    (1) Cơ thánh lăng: Lăng Hưng tổ Hiếu khang hoàng đế, sinh ra Gia Long.

    Sai Cai cơ Trần Hữu Lộc quản nhà đồ Bắc Thành.

    Lấy cai cơ Vọng Các là Nguyễn Tiến Lượng làm Quản đạo đạo Kiên Giang.

    Nước Vạn Tượng sai sứ sang cống.

    Định lệ kẽm hao cùng tiền công thợ và vật liệu cho cục Bảo tuyền ở Bắc Thành. (Mới đúc thử kẽm ở Hải Dương, mỗi 100 cân hao 13 cân 6 lạng, thành tiền 33 quan 21 đồng, tiền công thợ và vật liệu là 3 quan 5 tiền 54 đồng 2 phân, kẽm Thái Nguyên mỗi 100 cân hao 12 cân 8 lạng, thành tiền là 33 quan 3 tiền 20 đồng, công thợ và vật liệu 3 quan 3 tiền 41 đồng 5 phân. Bèn lấy kẽm Thái Nguyên làm chuẩn. Rồi sau đúc tiền càng nhiều, kỹ thuật càng tinh mỗi 100 cân hao 8 cân 2 lạng, thành tiền 35 quan, định tiền công thợ và vật liệu 3 quan 1 tiền 30 lạng. Lại thấy gần đây hao đến 9 cân phát thêm cho 1 cân kẽm và cấp thêm tiền than 1 đồng 3 phân 5 li. Cục đặt 5 lò, mộ thợ làm chủ lò, phó lò, phụ lò, thợ công lớn, công nhỏ, thợ chế khuôn, mỗi ngày đúc kẽm 3.500 cân, mỗi tháng 105.000 cân).

    Vua dụ thành thần rằng: “Phép đúc tiền có quan hệ đến hóa tệ của nhà nước, để đủ dùng và tiện cho dân, không gì lớn bằng việc ấy. Từ khi mở việc đúc tiền tới nay, lệ trừ hao thêm bớt không nhất định, đã từng dồn tính định mức trung bình, lại thêm tiền nhân công vật liệu để cho thợ vui lòng làm việc. Gần đây nghe có thuộc lại không tốt, hoặc làm khó dễ bớt xén, mối tệ sinh nhiều, bọn khanh nên nghiêm cấm đi”.

    Ngày Nhâm thân, yết lăng.

    Ngày Ất hợi, tế Chạp.

    Hạ lệnh từ Quảng Đức về Bắc đến Thanh Hoa, về Nam đến Gia Định, phàm các nơi đồn thủ xung yếu thì vẫn để thủ ngự, còn bao nhiêu giảm hết.

    Tha giảm tiền thuế năm nay cho các nguồn ở Gia Định theo bực khác nhau. (Huyện Phước Long hai nguồn, tiền thuế 22 quan tha hết; Tiền Giang, Hậu Giang 4 sở đầm ao tiền thuế 6.500 quan, giảm cho 500 quan; huyện Kiến An hai nguồn tiền thuế 980 quan, giảm hơn 320 quan).

    Trưng 9.500 người binh ở Thanh Nghệ, Bắc Thành và Thanh Bình về Kinh. (Thanh Hoa 1.200 người, Nghệ An 2.800 người, Bắc Thành 5.300 người, Thanh Bình 200 người).



    CHÍNH BIÊN

    ĐỆ NHẤT KỶ - QUYỂN L

    THỰC LỤC VỀ THẾ TỔ CAO HOÀNG ĐẾ

    Ất hợi, Gia Long năm thứ 14 [1815] (Thanh - Gia Khánh năm thứ 20), mùa xuân, tháng giêng, ngày Giáp ngọ, tế xuân hưởng.

    Lấy Tham luận Phan Tiến Tuấn làm Tham hiệp Nghệ An.

    Ngày Tân sửu, sửa lăng Thụy thánh(1). Sai Nguyễn Đức Xuyên trông coi công việc.

    (1) Thụy thánh lăng: Lăng Hiếu khang hoàng hậu, mẹ Gia Long.

    Lấy Cai cơ Mai Văn Châu làm Phó vệ úy vệ ban trực Tiền quân Thần sách, Phan Tiến Điện làm Phó vệ úy vệ Ban trực hữu, Võ Văn Trí làm Phó vệ úy vệ Ban trực hậu, Nguyễn Văn Mạo làm Phó vệ úy vệ Tiến bảo nhị Tiền quân.

    Thổ phỉ ở Kinh Bắc là Thân Văn Đồng ngụy xưng là thống lãnh thượng đạo, đem đồ đảng hơn 40 người ra thú. Quan Bắc Thành tâu lên. Vua cho rằng Đồng là giặc trốn lâu năm, giết hại nhiều người, sai giết đi, còn dư đảng đều tha hết.

    Bọn sai dịch tỉnh Phúc Kiến nước Thanh là Hứa Ninh An và Lý Chấn Thị gặp bão, thuyền dạt vào đậu ở Vũng Lấm trấn Phú Yên. Sai trấn thần cấp cho bạc lụa đưa về nước.

    Vua chăm chính sự, từng cùng bầy tôi bàn bạc, sáng thì đến trưa, đêm thì đến trống canh hai mới thôi.

    Quan Bắc Thành tâu nói: “Ngạch thuế cửa quan bến đò thu toàn bằng bạc, người lãnh trưng phần nhiều không muốn, xin rút giá, tính ra thì giảm mất hơn 8 vạn quan”.

    Vua dụ rằng: “Nhà nước không thiếu gì của, không nên với dân so kè. Y theo lời xin”.

    Vua cùng bộ Lễ bàn về lễ trừ phục ở cung Khôn Nguyên. Bộ thần tâu nói: “Theo Lễ ký thì việc tang 1 năm, 11 tháng làm lễ luyện, 13 tháng làm lễ tường, 15 tháng làm lễ đàm, đó là lối chính của lễ. Duy quan tài hãy còn quàn, chưa nên lấy áo thường đổi áo tang. Lại xét thiên “Tang phục tiểu ký” chép rằng: “3 năm rồi sau mới táng, tất phải tế lần nữa”. Trong khoảng hai lần tế đó không thể trừ tang cùng một kỳ được”. Thế là bảo rằng vì có việc chưa kịp táng thì trong khoảng ấy lễ luyện và lễ tường tất phải đợi táng xong thì cử hành lại lễ tế ấy. Nhưng tế phải làm hai lần, không thể tế cùng một kỳ được. Thiên “Tiểu ký” lại nói: “Quàn lâu mà chưa chôn, duy người chủ tang không trừ phục, còn thì tang ba tháng, hết số tháng là trừ phục”. Người chủ tang không trừ phục là con đối với cha mẹ, cháu đối với ông bà, nếu chưa táng xong thì không được bỏ áo mũ trở vậy. Còn người tang ba tháng thì để hết số tháng thôi. Nếu là người thân thuộc để tang ba tháng hay một năm thì tính đủ tháng là bỏ trở, nhưng đồ trở phải thu cất lại để đợi khi đưa táng. Thế là trước khi chưa táng, lễ luyện và lễ tường chưa làm được, áo trở chưa bỏ được, sách đã nói rõ, nghĩa đã thấy rõ. Lại xét tiên nho là Dũ Uất Chi nói rằng thiên “Phục vấn” nói: “Vua để tang phu nhân, đó là người cao đối với người thấp, không được như người thấp đối với người cao, không vin cớ người thấp chưa táng mà để cho người cao mãi để trở. Từ Càn Học cũng cho lời nói của họ Dũ là phải. Thế mới biết người cao đối với người thấp, dẫu đã lâu mà chưa táng, mà áo trở cũng có thể bỏ vậy”. Vua cho là phải, hạ lệnh bàn nghi tiết để dâng. (Buổi hôm trước ngày hết tang một năm, vua bỏ áo tang, nội giám đem cất đi. Đến ngày đó, bàn thờ bày đặt như nghi thức tế điện lớn. Vua mặc đồ trắng đội mũ xuân thu bằng sa trắng, áo tràng vạt bằng sa trắng, xiêm lụa trắng, giày và bít tất trắng, đến trước bàn thờ làm lễ. Khâm mạng hoàng tử công và các hoàng tử hoàng nữ hoàng tôn vẫn mặc áo tang làm lễ điện. Hoàng nữ đã lấy chồng, hoàng tôn cha còn sống, trưởng công chúa và cung tần tả hữu, vợ lẽ hoàng tử hoàng tôn, tôn nhân chịu năm bậc tang, cùng các quan văn võ tam phẩm trở lên, buổi chiều hôm trước đều bỏ áo tang mà thu cất đi, đến ngày thì đội khăn vải trắng. Mũ văn võ tú tài, áo thường và áo tràng vạt vải trắng, xiêm vải trắng, giày và bít tất trắng, kính chờ làm lễ. Tế điện lớn, tế cửu ngu, tế tốt khốc đồ mặc cũng theo như thế. Duy khi cáo dời quan tài để rước đi táng thì vua mặc đồ trở, mọi người đều mặc trái chiều. Lễ an táng xong, vua cởi bỏ đồ trở, mọi người đều theo bỏ đồ trở. Còn tế luyện, tế tường và tế đàm thì sau ngày tốt khốc mới cử hành. Tế luyện vua mặc lễ phục, đội mũ xuân thu bằng sa thâm, áo tràng vạt bằng sa thâm, xiêm bằng lụa màu biếc lót lụa trắng, giày và bít tất đen. Tế tường và tế đàm vua mặc đồ màu, mũ xuân thu bằng nhiễu thâm, áo tràng vạt bằng sa đoạn bảo lam, xiêm sa biếc lót trắng, bít tất lam, giày đen. Khâm mạng hoàng tử công, các hoàng tử, hoàng nữ, hoàng tôn, tế luyện thì mặc đồ lụa mộc, tế tường thì mặc đồ trắng, tế đàm thì mặc đồ màu. Hoàng nữ đã lấy chồng, hoàng tôn cha còn sống, trưởng công chúa cung tần và vợ lẽ của hoàng tử hoàng tôn, đều mặc đồ màu. Tôn nhân và các quan văn võ đều mặc lễ phục).

    Rồi triệu bầy tôi bàn định về việc ninh lăng và các lễ tiết. (Tháng ba ngày Kỷ sửu, cáo khải kỳ [kỳ đưa]. Ngày Tân mão tế khải điện [tế điện để đưa], ngày Bính thân tế tổ điện, ngày Canh tý tế khiển điện, ngày Quý mão an táng, ngày Giáp thìn tế sơ ngu, ngày Tân hợi tái ngu, ngày Giáp dần tam ngu, ngày Kỷ mùi tháng tư tứ ngu, ngày Nhâm tuất ngũ ngu, ngày Ất sửu lục ngu, ngày Mậu thìn thất ngu, ngày Tân mùi bát ngu, ngày Mậu dần cửu ngu, ngày Canh thìn tốt khốc, ngày Đinh hợi tháng năm tế luyện, ngày Giáp tý tháng 6 tế tường, ngày Bính dần tháng 7 tế đàm. Ở phía nam bàn thờ, đặt ngai vua ngự trông hướng tây. Vua ngự trên ngai. Khâm mạng hoàng tử công làm lễ. Từ tuần sơ ngu đến tế đàm, hoàng tử, hoàng nữ, hoàng tôn, tả hữu cung tần, phủ tôn nhân, các quan văn võ tại Kinh, các quan thành dinh trấn, quý huyện, quý hương, công tính, làng Bùi Xá, làng Yên Du, làng An Quán, con cháu nhà Lê, con cháu họ Trịnh, đều phụ tiến lễ phẩm. Các hương thân kỳ lão ở các huyện dinh Quảng Đức thì trong ngày ninh lăng đặt hương án ở bờ sông làm lễ chiêm bái).

    Tháng 2, triệu Tổng trấn Gia Định Lê Văn Duyệt, Đô thống chế Trần Văn Năng, Phó tướng Tô Văn Mạc, Hiệp tổng trấn trấn Bắc Thành Lê Chất Thượng thư Hộ bộ Nguyễn Đình Đức, và các quan dinh trấn đều một người về kinh. Rồi có điệp báo ở Gia Định rằng quân Xiêm tiến vào Khổ Đạt Mang (tên đất) nói phao rằng đi đánh Man Lào, nên lại hạ lệnh cho Văn Duyệt và Văn Năng lưu lại thành để phòng bị.

    Nước Chân Lạp sai sứ đến Gia Định dâng biểu nói là cô của quốc vương thành khẩn xin về Kinh để chiêm yết bàn thờ. Thành thần tâu lên. Vua cho rằng đường sá xa xôi, sắc miễn cho.

    Vua nghĩ đến bầy tôi tùy vong của nhà Lê cũ giữ trọn lòng trung, sai quan Bắc Thành thăm hỏi và cấp cho tiền gạo.

    Bói lại ngày tế Nam giao. Trước bói ngày Giáp tý, vì trời mưa nên đổi lại.

    Hạ lệnh cho các phủ huyện trữ tiền ân tuất mỗi nơi đều 50 quan để cấp cho người đi đường ốm chết. Dụ rằng: “Nuôi dân như nuôi con là việc đầu của vương giả phát chính thi nhân. Trẫm thường lấy lòng thương người mà làm chính sách thương người, mong xa gần đều thông đức hóa, phong tục trở nên thuần hậu. Gần đây nghe có người đau ốm giữa đường, dân sở tại đã không nhận nuôi lại còn ruồng đuổi, chẳng chút lòng thương xót giúp nhau, phong tục ấy rất là bạc bẽo. Từ nay quân dân đi đường có người đau ốm thì chủ quản ở làng xóm đều phải tùy tiện bảo dưỡng, không được ruồng đuổi, mỗi ngày nuôi dưỡng bao nhiêu, nhà nước trả tiền, chết thì cấp tiền chôn cất, để cho kẻ còn người mất đều được nhờ ơn, không một ai phải bơ vơ thất sở. (Cấp tiền nuôi dân và quân mỗi ngày 30 đồng; cấp tiền chôn quân 3 quan, dân 1 quan).

    Ngày Giáp tuất tế Trời Đất ở đàn Nam giao.

    Gia Định gạo rẻ (một phương gạo giá 5 tiền). Sai thành thần đong chứa vào kho. Sai đội Hoàng Sa là bọn Phạm Quang ảnh ra đảo Hoàng Sa thăm dò đường biển.

    Phó thống thập cơ Uy thắng Hậu quân là Hồ Văn Đức xin mộ thêm dân ngoại tịch từ sông Linh Giang trở vào bổ vào bảy đội của vệ Hậu bảo tam. Vua y cho.

    Đổi phủ Thiệu Thiên làm phủ Thiệu Hóa, phủ ứng Thiên làm phủ ứng Hòa.

    Cho Sơn Nam thượng hạ thóc thuế vụ chiêm năm nay được nộp thay bằng tiền 5 phần 10, Sơn Tây, Kinh Bắc, Hải Dương, Yên Quảng, Thái Nguyên nộp thay bằng tiền 6 phần 10 (một hộc thóc là 1 quan tiền). Vì mùa màng ở các trấn kém thu, thành thần xin cho nộp thay bằng tiền. Vua y cho.

    Hạ lệnh cho bộ Lại từ nay quan viên văn võ được cấp bổ do người tiến cử thì chiếu văn phải chép rõ tên người tiến cử để phòng tra xét.

    Triệu Hiệp trấn Sơn Nam hạ là Đinh Văn Nhã về Kinh. Lấy Hiệp trấn Sơn Nam thượng là Nguyễn Quang Huyên làm Hiệp trấn Sơn Nam hạ, cựu Cai bạ Quảng Đức là Trần Ngọc Quán làm Hiệp trấn Sơn Nam thượng.

    Lấy cựu Tham hiệp Cao Bằng là Đào Xuân Thự làm Tham hiệp Sơn Nam thượng.

    Tháng 3, sai bộ Lễ đem ngày ninh lăng bố cáo trong ngoài. Lấy Nguyễn Văn Thành làm Tổng bộ sứ, Nguyễn Văn Nhân làm Phó, Nguyễn Đức Xuyên làm Phù liễn sứ, Lê Văn Phong, Nguyễn Viết Bảo làm Phó, Hoàng Văn Lý, Trần Đăng Long Quản đạo Tiền thủy, Phan Văn Thúy Quản đạo Hậu thủy, Phan Tiến Hoàng, Nguyễn Văn Hiếu quản Tả bộ binh, Nguyễn Đức Thành, Hoàng Văn Điểm quản Hữu bộ binh. Định hiệu lệnh đi nghỉ, luyện tập các quân, thưởng cho theo thứ bực (hạng nhất mỗi người tiền 1 quan, hạng nhì 7 tiền, hạng ba 5 tiền, hạng tư 3 tiền). Sai Nguyễn Văn Trí và Trương Đăng thủ hộ Kinh thành.

    Ngày Tân mão, dời quan tài hoàng hậu đến điện Hoàng Nhân. Ngày Canh tý, linh giá bắt đầu phát. Vua thân đi đưa. Ngày Nhâm dần an táng ở phía hữu huyền cung [huyệt] lăng Thiên Thụ. Ngày Ất tỵ, đặt thần chủ ở điện Hoàng Nhân.

    Đắp thành đất Quảng Ngãi.

    Đổi đội Nội cần Thị nội làm đội Phụng Cần.

    Triệu Trấn thủ Bình Hòa là Nguyễn Đắc về Kinh; lấy Chưởng cơ Mai Tiến Vạn lãnh Trấn thủ Bình Hòa.

    Lấy Quản phủ Đoan Hùng là Nguyễn Công Đạt làm Trấn thủ Thái Nguyên.

    Trấn thủ Hà Tiên là Trương Phước Giáo ốm phải nghỉ việc; lấy Trấn thủ Biên Hòa là Nguyễn Văn Triêm làm Trấn thủ Hà Tiên, Chưởng cơ Tống Văn Khương lãnh Trấn thủ Biên Hòa.

    Mùa hạ, tháng 4, ngày mồng 1, tế hạ hưởng.

    Người Man ở 7 sách Cam Lộ vào cống, xin đến điện Hoàng Nhân dâng hương. Vua y cho. Cống bộ về Kinh có hơn 90 người. Vua sai bộ Lễ bàn định từ nay trở đi cống bộ chỉ lấy 55 người làm hạn (Sai trưởng 7 người, bộ thuộc 16 người, theo hầu 32 người. Như Sai trưởng có việc không thể đi được, thì cho lấy người thân quyến đi thay. Phàm các vật hạng ban thưởng, người Sai trưởng không đi, cũng cùng được hưởng như người đi, còn người đi thay thì theo như bộ thuộc mà thưởng cấp).

    Vua thấy việc làm ruộng các địa phương không được thuận, nên ra lệnh giảm thuế vụ hạ năm nay cho Quảng Đức, Quảng Trị, Quảng Bình, Nghệ An, Thanh Hoa, Thanh Bình, Quảng Ngãi, Phú Yên, Bình Hòa, Bình Thuận 3 phần 10 và Quảng Nam, Bình Định 2 phần 10.

    Thổ phỉ ở Thái Nguyên cướp châu Bạch Thông. Thổ mục là Hoàng Thu Nguyên và Trâu Đường Văn đem dân thổ đánh bắt, bắt sống và chém tướng và đồ đảng hơn 10 người. Việc tâu lên. Cho Thu Nguyên và Đường Văn làm chánh thuộc hiệu, thưởng 500 quan tiền.

    Đổi dinh Ai Lao làm đạo Ai Lao; lấy Cai đội Nguyễn Văn Xiêm làm Quản đạo.