083. Trang [0902-0914] - @botihell (done)

3/11/15
083. Trang [0902-0914] - @botihell (done)
  • Sửa chùa Thiên Mụ, đúc tượng phật. Vua đến xem, nhân bảo Trịnh Hoài Đức rằng: “Chùa này đất có linh khí, từ khi hoàng tổ ta là Hiển Tông Hiếu Minh hoàng đế, năm thứ 23 Giáp ngọ [1714] tu tạo đại quy mô đến nay đã được 101 năm rồi, nay nhân chùa cũ mà sửa lại để truyền thắng tích”. Thưởng cho binh và thợ hơn 1.800 quan tiền.


    Lưu thủ Quảng Trị là Nguyễn Cửu An ốm phải nghỉ việc; lấy Trấn thủ Bình Thuận là Phan Tiến Quý làm Lưu thủ Quảng Trị, Quản cơ cơ Thuận Nghĩa là Trương Văn Chính làm Trấn thủ Bình Thuận.


    Lấy Thuộc nội cai đội là Nguyễn Thành làm Quản thủ đạo Cam Lộ, Khâm sai cai cơ Nguyễn Đức Triệu làm Quản thủ đạo Trần Giang, Hàn lâm viện Trần Chí Thái làm Tham luận đạo Kiên Giang, Nguyễn Hy làm Tham luận đạo Phố Hài.


    Cai bạ Vĩnh Thanh là Kiều Công Tuấn chết. Lấy Ký lục Quảng Trị là Lê Đắc Tần làm Cai bạ Vĩnh Thanh, cựu Hiệp trấn Kinh Bắc là Nguyễn Duy Hòa làm Ký lục Quảng Trị, cựu Hiệp trấn Tuyên Quang là Bùi Công Kim làm Hiệp trấn Kinh Bắc. Liền đó Kim chết.


    Chuẩn định quan viên văn võ trong ngoài phàm ai được sai khiến việc quân thì số gạo lương đem đến quân thứ, mỗi tháng 1 phương, dư thì để cho vợ con ở nhà nhận lãnh.


    Miễn lễ bạc trong ba năm cho biền binh đóng thú ở Nam Vang.


    Lấy người Minh Hương là Phan Gia Thành làm Cai phố ở Bắc Thành, coi việc thuế nhà của người Thanh, mỗi năm nộp bạc 1.500 lạng.


    Lấy thổ tù châu Chiêu Tấn là Đèo Quốc Thể làm Chiêu thảo đồng tri, đóng giữ đồn Ninh Biên (thuộc tỉnh Hưng Hóa, tiếp giáp với huyện Kiến Thủy nước Thanh).


    Lấy trấn thủ Sơn Nam hạ là Nguyễn Văn Xuân làm Phó tướng Tả quân, đóng thú ở Gia Định, Phó tướng Tiền quân là Nguyễn Văn Hiếu lãnh Trấn thủ Sơn Nam hạ.


    Tháng 5, định chức vụ cho thuộc ty ở dinh trấn các thành: thư ký thì coi hai thừa ty tả hữu, cai án coi Tả thừa ty, tri bạ coi Hữu thừa ty.


    Sai Hiệp tổng trấn Bắc Thành Lê Chất trở về thành, triệu Tổng trấn Nguyễn Hoàng Đức đến Kinh chầu thăm. Hoàng Đức đến, nhân xin nghỉ về Gia Định. Vua y cho.


    Đắp thành đất Bình Định hạ lệnh hoãn đòi lính 3 tháng.


    Lấy Cai cơ Tượng quân là Phan Đình Tần làm Phó vệ úy vệ Hùng cự nhất, Cai đội Tống Văn Sở làm Phó vệ úy vệ Hùng cự nhị.


    Thuyền của sứ thần Xiêm La sang nước Thanh nộp thuế cống gặp bão vào đậu ở phận biển Bình Định, khẩn xin đến Kinh chầu thăm. Trấn thần tâu lên. Vua sai thưởng mỗi người 3 tháng lương, hộ tống đến Kinh. Lại cấp thêm cho mỗi người 5 tháng lương rồi cho về. Rồi Xiêm La sai sứ đến tạ. Khi sứ giả về, tâu xin đi qua Nam Vang để thăm vua Phiên, rồi theo đường Châu Đốc, Hậu Giang mà về nước. Vua cho rằng đi như thế là có ý nhòm ngó, không cho.


    Sai Trịnh Hoài Đức xét hạch người công tính ai có học thì làm sổ tâu lên. Bèn cho bọn Nguyễn Hữu Nhân 10 người sung Cống sĩ viện.


    Cai bạ Định Tường là Lê Xuân Nghi ốm phải nghỉ việc; lấy Thiêm sự Công bộ là Phan Văn Thịnh làm Cai bạ Định Tường.


    Cho Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hưng Hóa, và năm huyện ở Sơn Tây nộp thuế về Tuyên Quang. Ở Hưng Hóa thóc tô vụ chiêm từ nay được nộp thay bằng tiền và bạc mỗi thứ một nửa. Nếu ở trấn thóc gạo chi lương bổng không đủ thì cũng lấy tiền bạc cấp bù.


    Nước Chân Lạp sai sứ sang cống.


    Quan Bắc Thành tâu nói: “Bảo Bảo Thắng ở Hưng Hóa (thuộc châu Thủy Vỹ) đất gần nước Thanh, rất là quan yếu, xin sai Chiêu thảo sứ là Đinh Công Kiểm đem thổ binh và thủ hạ 100 người đóng giữ, cấp cho lương tháng.” Vua y lời.


    Thuộc hạ ở phủ hoàng bảy Tấn là Đinh Kỳ Kế tự đến sân điện Cần Chánh dâng lời. Vua thấy Cai cơ Thị nội Võ Viết Bảo thất sát, khiển trách nặng. Sắc từ nay bên võ thì cấm binh từ cai đội phó đội trở lên, các quan dinh thì từ phó vệ úy trở lên, ai có coi quân thì cho vào do cửa Tả túc, bên văn thì từ Thiêm sự 6 bộ và Nội Ngoại đồ gia trở lên, cùng là câu kê Công bộ, câu kê và thủ hợp Đồ gia, Hàn lâm thị thư, thị hàn cùng Khâm thiên giám, thì cho vào do cửa Hữu túc. Hai bộ Lại Binh phải báo trước quan tịch cho người coi cửa biết, không được vào bừa.


    Lấy hương cống đời Lê là Đinh Phiên làm Đốc học Quảng Nam.


    Tháng 6 đúc phiến bạc trung bình. (Mỗi thoi nặng 5 đồng cân, hai mặt đều in chữ, một mặt in 4 chữ “Gia long niên tạo”, một mặt in 6 chữ “Trung bình ngân phiến ngũ tiền”. Trị giá là 1 quan 4 tiền).


    Vua thấy bạc nhà nước đúc chỉ có đĩnh 10 lạng và đĩnh 1 lạng, sở tại thu nộp, khi có số lẻ loi thì không lấy gì mà trả lại được. Bèn sai Bắc Thành đúc thêm bạc phiến, ban điều lệ để thi hành. Người nào đúc riêng hay tiêu hủy bớt xén thì đều có tội. 1. Nhà đồ Bắc Thành, phàm dân gian có bạc lẻ đem đến trường xin đúc bạc phiến, hoặc lấy bạc đủ tuổi đúc làm phiến “trung bình” để đổi lấy phiến bạc nhà nước, thì mỗi 20 phiến thu tiền in dấu 2 tiền, để chia cấp tiền công thợ, tiền vật liệu và tiền bổng liệu cho thợ, còn dư thì nộp vào kho.


    2. Các ngoại trấn Bắc Thành, dân gian có ai nộp bạc đĩnh 10 lạng chưa có chữ “trung bình”, người phụ trách xét sắc bạc là đủ tuổi, thì cũng lấy bạc ấy thu tiền ấn tích đem nộp ở thành.


    3. Cửa quan bến đò ở Bắc Thành đánh thuế hàng hóa, đều theo số tiền khiến đem bạc đĩnh, bạc phiến nộp thay, số lẻ không đủ 1 quan 4 tiền trở xuống thì mới nộp bằng tiền.


    Lấy Cần chánh điện học sĩ Nguyễn Du làm Hữu tham tri Lễ bộ.


    Miễn cho ty Giáo phường ở Thanh Nghệ khỏi về Kinh. Lệ trước đến hai tết Chính đán và Đoan dương họ phải về Kinh tấu nhạc. Vua thương vì đường xa khó nhọc và phí tổn, nên miễn cho.


    Sai Đại sứ cục Bảo tuyền là Trương Văn Minh kiêm lãnh việc Nhà đồ Bắc Thành.


    Cho các quan viên hưu trí, hưu dưỡng được cấp tiền tuất chiếu theo phẩm trật, người bị giáng thì theo phẩm trật bị giáng mà cấp; duy người bị cách thì không được dự.


    Hạ lệnh cho các cửa quan bến đò ở Bắc Thành mỗi năm lấy tháng 11 làm kỳ đấu giá.


    Hiệp trấn Cao Bằng là Bùi Văn Bình, Tham hiệp Sơn Nam hạ là Nguyễn Bá Tuần đều về đinh ưu; lấy Thiêm sự Công bộ là Nguyễn Văn Thục làm Hiệp trấn Cao Bằng, Tri phủ Nam Sách là Nguyễn Hữu Phượng làm Tham hiệp Sơn Nam hạ.


    Định cách thưởng cho người bắt được tang vật. Phàm bắt được người ăn trộm của kho tàng, người thường (không phải là chủ thủ kho tàng) thì được thưởng gấp 10 lần tang vật bắt được, người chủ thủ và quân nhân thì thưởng gấp 5 lần, người có quan chức thì đình thưởng; số tiền thưởng thì thu ở người phạm tội. Nhân dân bắt được của rơi, không phải của nhà riêng đáng có, thì cho nộp vào Nhà đồ, cấp cho tiền theo giá. Nếu có người đem bán thứ vật ấy, thì cho giữ lại báo quan. Nhân đó xét ra được kẻ trộm thì cũng được chiếu lệ cấp thưởng.


    Triệu Tổng trấn Gia Định là Lê Văn Duyệt về Kinh; sai Phó tổng trấn là Trương Tấn Bửu quyền giữ ấn vụ tổng trấn.


    Lấy Tri phủ Quốc Oai là Cao Duy Diệu làm Chánh đốc học Gia Định.


    Định lệ đinh ưu cho quan viên văn võ. Chiếu rằng: “Việc tang ba năm là lễ suốt tự xưa nay. Sau khi đại tường lại đi làm việc cũng là nhiệm vụ thường của kẻ bầy tôi. Chỉ vì lấy hiếu làm trung cho nên không được vì tình bỏ nghĩa. Vậy những quan viên trong ngoài gặp tang cha mẹ, thì định cho hạn tháng chịu tang theo thứ bậc khác nhau”. (Nhất phẩm 12 tháng, nhị phẩm 9 tháng, tam phẩm 6 tháng, tứ phẩm 3 tháng, ngũ phẩm 2 tháng. Quan chức các dinh vệ quân Thị trung, Thị nội, Thần sách mà giữ cấm binh không thể vắng mặt thì nhất phẩm 6 tháng, nhị tam phẩm 4 tháng, tứ ngũ phẩm 2 tháng; đốc học, tri phủ, tri huyện, tri châu, trợ giáo là những người có quan hệ phong hóa thì đặc cách thêm cho đều 12 tháng. Từ nhất phẩm đến tứ phẩm có tang, đều làm sớ xin về quê trị tang, ngũ phẩm thì do quan trên sở quản cấp bằng, đem việc báo cho bộ Binh, bộ Binh đến cuối tháng làm sách tâu lên. Đốc học, tri phủ, tri huyện, tri châu, trợ giáo thì do quan địa phương cấp bằng rồi làm sớ tâu lên. Các quan viên là con thứ, có người anh trưởng chủ tang, thì nhất phẩm 6 tháng, nhị phẩm 4 tháng, tam phẩm 2 tháng, tứ ngũ phẩm 1 tháng. Hết hạn mà chưa xong việc chôn thì cho được xin nghỉ thêm. Phàm trước khi chưa về đinh ưu mà có sai đi việc khẩn yếu, hay có dự danh sách đi sứ đã đệ nộp rồi, hay đem quân đi dẹp bắt trộm cướp mà địa phương có việc gấp, thì đều phải đợi việc xong rồi mới cho về quê trị tang. Phàm trong hạn trị tang, nếu gặp việc binh cách, đặc biệt có lệnh triệu đi, thì không theo lệ này. Trong vòng 27 tháng, gặp các lễ tế Giao Miếu, lễ triều hội, khánh hạ đều được miễn chầu lạy).


    CHÍNH BIÊN


    ĐỆ NHẤT KỶ - QUYỂN LI

    THỰC LỤC VỀ THẾ TỔ CAO HOÀNG ĐẾ


    Ất hợi, Gia Long năm thứ 14 [1815], mùa thu, tháng 7, ngày mồng 1, tế thu hưởng.


    Sai hơn 3.000 người quân Thần sách ở Thanh Nghệ cùng ngũ quân và Tượng quân ở Bắc Thành đổi đi thú Gia Định. Triệu lính thú cũ trở về.


    Đốc học Nghệ An là Nguyễn Khắc Tráng ốm phải nghỉ việc; lấy cựu Đốc học Thanh Hoa là Phan Bảo Định làm Đốc học Nghệ An.


    Xã Lý Hóa ở Quảng Bình bị cháy, lửa lan cháy mất 500 nhà. Cấp cho mỗi nhà 1 quan tiền và 1 phương gạo.


    Lấy Hiệp trấn Hải Dương là Nguyễn Văn Lê làm Hiệp trấn Kinh Bắc, Thiêm sự Hộ bộ là Ngô Khổn làm Hiệp trấn Hải Dương.


    Sai Quảng Nam chở 50.000 hộc thóc đem trữ ở Bình Hòa.


    Vua cùng từng Phạm Như Đăng bàn về đại tiết xuất xử (1) (1. Xuất là ra làm quan; xử là ở nhà.1) của người hiền giả đời xưa, nói rằng: “Người hiền có ích cho nước, lui về ẩn dật để dạy học trò thì ơn trạch có hạn, sao bằng ra làm quan mà thi hành đạo lý để lợi trạch khắp tới muôn dân”.


    Định lại lệ cấm cửa Hoàng thành. (Mỗi ngày chập tối canh đầu, cuối 9 khắc thì đánh trống đồng, cuối 10 khắc nổ 2 tiếng súng, các cửa đều đóng. Đến canh năm, cuối 7 khắc đánh trống đồng, cuối 8 khắc cũng nổ 2 tiếng súng, các cửa đều mở. Ngày đại triều thì khắc đầu canh năm đánh ba hồi trống; đến 8 khắc, nổ súng mở cửa như lệ. Ban đêm, lúc các cửa đã đóng, nếu có việc truyền lệnh cho người ra vào, người canh cửa xét xem có bài mới được mở cửa. Nhân dân có việc đến Võ công thự thì vào cửa Hiển Nhân, đi theo góc bên trái ngoài tường điện Hoàng Nhân. Tả cứu, Thị mã, Thị tượng ra vào cũng đi như thế).


    Thổ mục châu Vỵ Xuyên trấn Tuyên Quang là Nguyễn Thế Niêm mưu nổi loạn, bị bắt giết. Hạ lệnh cho trấn thần chia số dân (ba tổng Tiên Yên, Mục Hà, Lâm Đường, hai xã Tụ Long, Phấn Võ, làm bảy thuộc, chọn lấy bảy người giỏi việc cho làm cai thuộc, do Tuyên úy thiêm sự là Ma Doãn Điền cai quản. Rồi khiến phàm thổ tù ở các trấn ngoại được cai quản 1 tổng hay 2, 3 xã thì chỉ cho chức cai thuộc, chép làm lệnh.


    Trù thuế biệt nạp gỗ lim cho thôn Vạn Hộ và xã Nam Trạch và thuế biệt nạp vải cho xã Đông ấp, đều thuộc trấn Nghệ An; kén dân làm lính.


    Lấy Phó vệ úy vệ Dương võ quân Thần sách là Nguyễn Cửu Lợi làm Phó vệ úy vệ Uy võ.


    Tháng 8, Đốc học Sơn Tây là Nguyễn Lý về đinh ưu; lấy Trợ giáo Sơn Nam thượng là Nguyễn Huy Chung làm Đốc học Sơn Tây.


    Lấy Phó vệ úy vệ Hậu nhị Thị trung là Nguyễn Mậu Xuân quản Nhà đồ Bắc Thành, Cai cơ Nguyễn Công Hoa làm phó.


    Ban Quốc triều luật lệ cho trong ngoài.


    Chiếu rằng: “Việc hình là để ngăn cấm giữ dân, có sáng rõ thì kẻ ngu ngoan mới biết đường đi lối tránh. Pháp luật là của chung của thiên hạ, có nhất định thì quan lại mới biết có chỗ nắm theo. Quốc triều ta từ trước xử đoán việc hình đã sẵn phép thường. Từ buổi Tây Sơn nổi loạn, pháp kỷ mất hết, hình phạt không có điều chương, kẻ gian dối ngày càng lắm. Trẫm vâng mệnh trời, vỗ về dân chúng, dạy đức sửa lễ, theo lời thánh nhân, nhưng sau buổi loạn ly, mối tệ chưa trừ được hết. Khí cụ giúp việc trị nước, không giám bỏ lơ. Trong khi xử đoán, mệnh người rất là quan hệ, trẫm rất để ý. Trừ cái xấu, bày cái mới cần phải có pháp nhất định. Vậy nên đặc biệt sai đình thần tham khảo điển cũ của bản triều, luật lệ đời Hồng Đức, điều luật nước Đại Thanh, cùng những điều mới định gần đây, châm chước những điều thích hợp mà biên tập thành sách, trẫm thân hành xét định, phàm 22 quyển. Lại sai các đại thần tổng tài và khảo hiệu để khắc in, ban hành cho thiên hạ để làm lệnh điển đời đời. Từ nay xét xử ngục tụng, hết thảy y theo luật điều mới ban, không được trái vượt. Quan lại trong ngoài đều nên lưu tâm nghiên cứu. Dẫn dụng mà xử đoán, cần phải rõ ràng khiến cho hình được công bằng, không ai bị oan lạm, để báo đáp tấm lòng xử phạt thương xót việc hình của trẫm. Lại thấy điều lệ mới thi hành, nha môn trong ngoài chưa có thể xem kỹ hết mọi điều, chuẩn cho từ năm nay đến cuối tháng 12 năm Đinh sửu, quan xét hình có sơ suất nhầm lẫn thì không phải là có ý khép mở tội người thì về tội roi và trượng đều miễn nghị, về tội đồ trở lên thì chiếu lệ thất xuất thất nhập(1) (1. Thất xuất thất nhập : Nhầm lẫn mà xử nhẹ tội bớt hay nặng tội thêm cho người ta. 1) giảm thêm một bậc; từ năm Mậu dần trở đi thì xử trị theo luật”.


    Lấy Phó thủ hiệu Lạng Sơn là Nguyễn Đình Trác, làm Phó quản cơ cơ Hùng tiệp, Thuộc hiệu Thái Nguyên là Ngô Dao làm Trưởng hiệu chi Hùng kiên.


    Hiệp trấn Thanh Hoa là Nguyễn Xuân Thục trước làm Cai bạ Vĩnh Thanh, cùng với Ký lục Trần Bá Bảo xử án làm khép nặng tội cho người, đến nay việc phát, sai đánh mỗi người 80 roi, vẫn được lưu chức làm việc.


    Bình Định mưa lụt. Sai trấn thần hoãn việc xây thành, cho dân về nghỉ.


    Thưởng cho thợ các cục làm việc ở Kinh 3.000 quan tiền. Lại cấm những người quản quân ở trong ngoài, phàm lương tiền ấn tứ cho binh lính không được tạ sự thu bổ bớt xén, làm trái thì lấy quân pháp trị tội.


    Sơn Tây và Sơn Nam thượng nước lụt. Tha thuế ruộng cho 214 xã thôn bị tai nạn.


    Hạ lệnh cho các địa phương, phàm án cướp từ năm Gia Long thứ 12 trở về trước, những kẻ tòng phạm một lần đều giảm làm tội đồ 5 năm; nếu là kẻ đầu đảng cố phạm thì không kể nhiều lần hay ít lần, năm tháng xa hay gần, đều xử chém.


    Tháng 9, dựng đền Sơn thần ở núi Thiên Thụ. (Mỗi năm, cứ mùa xuân mùa thu sau tế miếu Đô thành hoàng một ngày, thì chánh phó giám sơn lăng sứ một người đến tế). Sai hằng năm tế Nam giao thì đem sơn thần [Thiên Thụ] bày ở Phương đàn, ở sau tòng vị hữu nhị các sơn thần hải xuyên trạch.


    Tha những biền binh ở Thanh Nghệ, Bắc Thành và Thanh Bình ứng triệu đến Kinh trở về hàng ngũ.


    Dựng kho Xích Đằng trấn Hải Dương. Sáu huyện Đường An, Đường Hào, Gia Lộc, Tứ Kỳ, Vĩnh Lại, Thanh Miện trấn Hải Dương gần với Xích Đằng trấn Sơn Nam thượng, thành thần xin dựng kho tạm ở đấy khiến sáu huyện ấy đem nộp thuế má ở đấy cho tiện thuyền chở . Vua y lời tâu.


    Lấy Quản phủ Thường Tín là Võ Văn Thân làm Phó thống thập cơ Kiên nhuệ của Tả quân.


    Ký lục Bình Hòa là Lê Viết An ốm phải nghỉ việc; lấy Tham quân Hữu quân là Bùi Đức Minh làm Ký lục Bình Hòa.


    Ký lục Bình Thuận là Lưu Văn Vượng chết; lấy Tham hiệp Hải Dương là Trần Thiên Tải làm Ký lục Bình Thuận, Tri phủ Hạ Hồng là Hà Nguyễn Thứ làm Tham hiệp Hải Dương.


    Đổi vệ Thị trà Thị nội làm vệ Kiện võ.


    Lấy Thuộc nội vệ úy vệ Trung nhất Thị trung lãnh Trấn thủ Bình Định là Hoàng Công Lý làm Tả thống chế thị trung (quản năm vệ Trung nhất, Tiền nhất, Tả nhất, Hữu nhất, Hậu nhất), Thuộc nội vệ úy vệ Trung nhị là Trương Phước Đặng làm Hữu thống chế (quản năm vệ Trung nhị, Tiền nhị, Tả nhị ,Hữu nhị, Hậu nhị),Thuộc nội cai cơ thị nội chánh quản các vệ đội Trung hầu, Chấn uy, Tiểu sai là Võ Viết Bảo làm Thống chế Thị nội (quản năm vệ Nội trực, Thắng uy, Trung tín, Trung cần, Kiện võ), cấp cho một đội Hùng sai làm lính theo hầu, sai chia ban để túc trực, mỗi ban một người. Khi nào xa giá đi tuần thì lấy một người ở giữ kinh thành. Lại thấy đó là chức thị vệ nên miễn cho việc dự đình nghị.


    Lấy Chưởng cơ Phạm Văn Quỳnh lãnh Trấn thủ Bình Định.


    Lấy Phó vệ úy vệ Hữu nhất Thị trung là Nguyễn Văn Nguyên làm Vệ úy vệ Hữu nhất, Phó vệ úy vệ Hậu nhất là Hoàng Văn Tại làm Vệ úy vệ Hữu nhị.


    Dựng đền thần Hà Bá. (Đền ở xã Hà Trung, mỗi năm sau tế thu ở miếu Hội đồng một ngày thì dinh thần Quảng Đức cử một người đến tế).


    Sai Quảng Bình mộ thêm dân ngoại tịch biên bổ làm hai đội lính kho, chia ban coi giữ.


    Chưởng Hữu quân kiêm giám quân Thần sách quận công Phạm Văn Nhân chết. Vua rất thương tiếc. Sai Nguyễn Văn Thành trông coi việc tang. Vời Lễ bộ hỏi rằng: “Đối với những đại thần huân cựu cùng nước, cùng vui khi nghe tin buồn thì nghỉ chầu, lễ đời xưa thế nào?”. Bộ thần tâu rằng: “Việc cũ thuộc về đời Đường đời Tống thì nghỉ chầu 7 ngày, 5 ngày, 3 ngày, 1 ngày không giống nhau. Duy năm Hồng Vũ thứ 23 thì bàn định nghỉ chầu trước sau gồm 4 ngày, xin dùng chế độ ấy”. Vua khen phải, nghỉ chầu 3 ngày cho 1.000 quan tiền, tặng Thái bảo thụy là Trung hiến, sai quan dụ tế. Ngày táng nghỉ chầu 1 ngày, sai hoàng tử, hoàng tôn đến đưa đám. Công thần chết nghỉ chầu bắt đầu từ đó. (Văn Nhân là người Tống Sơn, năm Minh Mệnh thứ 5 được tòng tự ở Thế miếu, năm 12 phong Tiên Hưng quận công).


    Đổi định phép đo thuyền vận tải. Gần đây các hạng thuyền đóng thuế công tư phần nhiều gian trá để cầu cho khỏi chở mà thuyền thì sâu rộng cũng bằng các thuyền chở. Các đội Trường Đà đem lệ ấy tâu bày. Bèn sai đình thần bàn đổi phép đo thuyền để thi hành. (Phàm thuyền công hay tư, bề ngang không đầy 5 thước trở lên mà được miễn thuế miễn chở thì cho các dinh trấn phái người đi đo lại. Phép đo không kể ván chắn nước, cứ từ đầu ghép đằng trước đến đầu ghép đằng sau, đo được bao nhiêu trượng thước là bề dài; vẫn chia đôi lấy giữa làm trung tâm, lấy chỗ trung tâm trừ hai bên bản che từ miệng bằng trở xuống một thước, đo được bao nhiêu tấc là sạp ngang trung tâm, từ sạp ngang trở xuống đo được bao nhiêu thước tấc là bề sâu. Cứ theo phép đo ấy làm lệ thường. Đo không đúng phép thì có tội. Hạn trong hai tháng thì xong. Thuyền nào trúng vào lệ thuế hay lệ chở thì tùy theo từng hạng tâu lên, cấp cho thuyền bài, còn thuyền nào không đầy 5 thước trở xuống thì làm sổ riêng).


    Định lệ chở cho thuyền nghề cá. Theo lệ cũ, thuyền nghề cá bề ngang từ 5 thước đến 9 thước 9 tấc thì nộp thuế mà miễn chở. Đến nay quản Trường Đà là Tống Phước Ngoạn và Trần Văn Tuấn phái người đi đo lại các thuyền, thấy sạp ngang thuyền có hơi lớn , hỏi ra thì chủ thuyền cũng có người đi buôn mà không đi đánh cá. Vua nghe, nói rằng: “Thuyền nghề cá miễn cho vận tải, vì là chuyên nghề đánh cá, nay đã đi buôn mà miễn vận tải thì so với thuyền hộ khác chẳng là bên nặng bên nhẹ sao?”. Bèn sai các dinh trấn lấy phép định mà đo lại, phàm thuyền ngang 7 thước trở xuống mà chủ thuyền làm nghề cá, có người man trưởng(1) (1. Man trưởng: Tức trưởng vạn 1) nhận thực, thì vẫn cho nộp thuế mà miễn chở, còn thuyền ngang 7 thước trở xuống mà chủ thuyền làm nghề buôn, hoặc thuyền hơi lớn ngang từ 7 thước 1 tấc đến 9 thước 9 tấc, thì đều tùy hạng mà chịu vận tải như lệ.


    Cấp tự điền cho nhà thờ An Quán. (Đền thờ tổ ba đời của Tống quốc công phu nhân Lê thị). Sai Lưu thủ Quảng Nam là Trần Đăng Long chi tiền kho 3 vạn quan, bạc 3.000 lạng mà mua ruộng đất, thu lợi hằng năm chi việc thờ cúng.


    Mở ruộng dân An Cựu làm vườn công, sai dinh thần Quảng Đức chi tiền trả lại cho dân.


    Tham hiệp Nghệ An là Phan Tiến Tuấn chết; lấy Tri phủ Đức Quang là Nguyễn Khoa Hảo làm Tham hiệp Nghệ An.


    Mùa đông, tháng 10, ngày mồng 1, tế đông hưởng.


    Định lệ đứng tên trong chương sớ. Vua dụ bầy tôi rằng: “Chính danh là việc đầu của chính trị. Gần đây những chương tấu ở trong ngoài, có cái chỉ ghi quan tước không, so với cái nghĩa trước mặt vua bề tôi phải xưng tên thì chưa đúng. Lại có tên người đặt bằng tiếng nôm rất là quê mùa. Từ nay chương sớ sổ sách, chỗ chép quan chức phải biên rõ quan hàm và họ tên; người dân thì nam xưng là danh, nữ xưng là thị (Như danh Giáp là Trần Văn Giáp, thị ất là Lý Thị ất), lời tục đều cấm.


    Cho thuế biệt nạp thảm cù du ở Phú Yên chia làm ba hạng mà nộp thay bằng tiền. (Hạng nhất một đôi ba quan tiền, hạng nhì 2 quan 5 tiền, hạng ba 2 quan).


    Tả tham tri Lại bộ là Phạm Quang Triệt điều trần ba việc: 1) Xin sai hữu ty đều cử người mình biết. 2) Xin lấy hiếu liêm đức hạnh mà dùng người. 3) Xin tăng thêm thuế khóa và làm lợi cho dân sinh. Sớ dâng lên. Sai đình thần châm chước bàn bạc để thi hành.


    Thả cho lính mới kén ở đồn điền Gia Định về làm ruộng. Chánh phó quản cơ và cai đội đều rút về thành.


    Gia Định bắt được đảng cướp có đứa 14 tuổi. Khi án dâng lên vua thương là trẻ con bị ép buộc làm theo, đặc biệt sai đánh 100 roi rồi tha.


    Lấy Tả tham tri Lễ bộ là Trần Quang Tĩnh làm Hữu tham tri Binh bộ.


    Chuẩn định ngày đình nghị, cứ mờ sáng thì họp, ai trái thì xử tội vi chế.


    Dụ bầy tôi rằng: “Việc hình ngục là mạng lớn của thiên hạ, sống chết là ở đó, cho nên sách thì chép có năm phép nghe(1) (1. Năm phép nghe: Tức ngũ thính, hình quan lấy năm cách xét là xét lời nói, nét mặt, hơi thở, tai và mắt, để biết tình dân (Chu lễ) 1) để xét tình lý của nhân dân, lệnh thì chép mỗi việc phải xét ba lần để đến rõ rệt và tin chắc. Trẫm đối với hồ sơ của bộ Hình tâu lên, hai ba lần xem xét mà còn sợ chưa đúng, hằng muốn mở rộng lời bàn để mong việc hình được công bằng. Từ nay án nặng thì trước do bộ Hình xét xử, đình thần hội đồng duyệt lại, hàng văn từ Tham tri đến Thượng thư, hàng võ từ Phó thống chế đến Chưởng quân, lấy thứ tự mà nói trước, bàn luận giống nhau hay khác nhau đều phải tâu lên đợi trẫm quyết định; có việc đưa xuống cho bàn và có đơn tâu của nhân dân cũng như thế”. Lại dụ bộ Hình rằng: “Trong khi đoán ngục, trẫm hoặc nhân giận mà làm quá nặng, bọn khanh lên giữ phép mà cứ việc nói, nếu không nói sẽ có lỗi”,


    Sai Nghệ An triệt bỏ kho Đại Nại; tiền thóc ở Thạch Hà hằng năm nộp vào kho trấn. Dân phụ giữ kho thì kén làm lính như lệ.


    Dân biệt nạp thuế gỗ lim xã Tình Diệm trấn Nghệ An đem bạc khấn với thuộc lại để cầu tha đòi riết. Thuộc lại bắt đem tố cáo, trấn thần tâu xin trị tội. Vua dụ rằng: “Dân tình bách thiết, động việc là cầu xin, người trông coi chắc là không quấy rối sao?”. Sai đem bạc trả lại dân mà tha tội. Dân có người tình nguyện đi lính để trừ thuế gỗ thì tâu lên ngay.


    Sắc rằng từ nay hoàng tử hoàng tôn vào chầu phải có nội giám truyền lệnh mới được vào. Người theo hầu chỉ hạn 5 người.


    Thượng thư Hình bộ là Phạm Như Đăng thấy những thuyền vận tải làm hao mất lương của nhà nước, tâu xin đình cấp số thóc gạo thuê.


    Vua nói: “Tội thì đã có án nhất định, còn công thuê thì sao lại tiếc được”. Sai cấp cho.


    Tháng 11, cho Thái bảo quận công Nguyễn Văn Trương được liệt thờ ở miếu công thần trung hưng.


    Định quân chính ở Gia Định. (Phàm lính mới kén, không được yêu sách xã dân phụ dưỡng. Người quản suất không được sai việc riêng và quấy nhiễu, cùng nhân việc công mà thu góp. Như xã dân có bị quản suất quấy riêng thì cho tố cáo với quan sở tại để xét xử. Binh lính bỏ hàng ngũ mà trốn đi, một lần thì đánh 50 roi, lần sau đánh 70 roi, lần nữa thì xử tử. Còn như đến kỳ đổi thú, người đương ban mà không đến thì chậm một ngày đánh 30 roi, mỗi ngày thêm một bực, tội chỉ đến 100 roi là cùng).


    Hạ lệnh cho quản cơ cai đội ở các trấn đạo thuộc Gia Định mộ dân ngoại tịch làm lính theo hầu, quản cơ 7 người, phó quản cơ 5 người, cai đội 3 người.


    Nghệ An có dịch.


    Định lệ phân xử những người biền binh người Tống Sơn phạm tội.


    Vua dụ bộ Hình rằng: “Biền binh người Tống Sơn là dòng dõi những nhà có công với triều trước được kén làm túc vệ, đối với pháp luật nên vì tình mà giảm nhẹ. Kẻ nào có phạm tội lưu đồ trượng thì đều cho khỏi thích chữ, duy có phạm các tội ăn cướp lừa đảo, đó là hạng người vô liêm sỉ, thì vẫn theo luật mà thích chữ. Chép làm lệ”.


    Tả thống chế Thị trung là Hoàng Công Lý xin mộ dân ngoại tịch ở Bình Định lập làm đội Thái hương, hằng năm nộp trầm hương mỗi người 1 cân. Vua y cho.


    Vua bảo Tham tri Nguyễn Hữu Thận rằng: “Xét công các huyện lệnh rất khó. Thuế má để thiếu thì xử tội thế nào?”. Thưa rằng: “Ngạch thuế trong hạt xin chia làm 10 thành, thiếu 1 thành trở lên thì y phép luận tội, nếu không đến 1 thành thì miễn tội”. Vua cho là phải.


    Quan Bắc Thành tâu nói: “Phủ Tam Đới trấn Sơn Tây số đinh điền nhiều, một viên tri phủ sợ làm không hết việc, xin đặt thêm một viên tri phủ nữa để cùng làm việc phủ”. Vua y cho.


    Sai lấy đất Tam Độc [Ba Ngòi] trấn Bình Hòa làm nơi đày tù án lưu. Hạ lệnh cho trấn thần chọn nơi thủy thổ hơi lành và có địa lợi có thể nhờ mà làm ăn thì cho dựng nhà tranh cho ở.


    Quảng Nam có người thuộc lại tuổi 70 phạm tội xuy (bị đánh roi). Án dâng lên. Vua bảo bộ Hình rằng: “Theo luật thì người 70 tuổi thì được nghỉ việc”. Bèn hạ lệnh bãi dịch và miễn đánh roi.


    Vua thấy dân Gia Định nhiều người sang ngụ ở Chân Lạp, sợ làm khổ cho dân Phiên, bèn hạ chiếu dụ vua Phiên là Nặc Chăn rằng: “Nước ngươi đời làm phiên thần, triều đình hằng lo vỗ về, vốn muốn cho dân ngươi an cư lạc nghiệp, chung hưởng thái bình. Nay nghe dân Hán [Việt] có nhiều người trốn ở nước ngươi. Bọn ấy đều là những người lêu lổng không chăm lo nghề nghiệp, dân nước ngươi ở lẫn cùng họ chắc là khổ lắm. Nên ta lệnh cho các Ốc Nha xét trong bọn người Hán người nào không phải là thuộc hai đội Cường bộ, An bộ và là lính bảo hộ thì đuổi về hết. Lại quân và dân đến buôn ở Nam Vang phải có bằng do thành cấp, bảo hộ và quan các trấn không được tự tiện cấp giấy thông hành”.

    :rose:
  • Đang tải...