085. Trang [0925-0937] - @p2p12411 (soát lỗi xong) Wiki

30/11/15
085. Trang [0925-0937] - @p2p12411 (soát lỗi xong) Wiki
  • :rose:
    Còn tô ruộng và thuế thân năm nay, Quảng Đức, Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Nam, Bình Hòa thì giảm 5 phần 10, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Bình Thuận thì giảm 4 phần 10, Gia Định tô ruộng thì giảm 2 phần 10, thuế thân thì giảm 4 phần 10”.

    Sai thủy quân và đội Hoàng Sa đi thuyền ra Hoàng Sa để thăm dò đường thủy.

    Bọn Bùi Đức Mân và Nguyễn Kim Truy từ ở nước Xiêm về. Trước đây người Xiêm lấy việc đánh nhau ở Phủ Lật mà oán Nặc Chăn, vua thứ hai nước Xiêm mưu với Phật vương rằng: “Nặc Chăn dám khinh rẻ ta vì cậy có Nam triều che chở. Nay ta đánh Chăn, Nam triều tất phải cứu, nhân đó ta đánh luôn để cởi hai mối giận”. Phật vương không nghe, nói: “Gây ra mối hấn không phải là Phước. Nếu quyết thực hành mưu ấy, thì xin nhường nước cho vua thứ hai”. Việc bèn thôi. Sau vài tháng, người Xiêm dọa nhau là quân ta sắp đến. Phật vương cả sợ, bèn tạo thuyền chiến, sửa đồn binh, làm kế tự thủ. Phàm dân đến buôn ở đất ấy, đều ngờ là do thám, bắt bỏ tù cả. Kịp khi bọn Đức Mân đến, Phật vương hỏi rằng: “Việc đánh nhau ở
    Phủ Lật Nguyễn Văn Thụy có được biết không?” Đức Mân nói: “Không”. Phật vương im lặng. Lại hỏi: “Nguyễn Văn Thành và Lê Văn Duyệt ở đâu?”. Thành, Duyệt đều là tay tướng cũ. Duyệt lại trấn Gia Định, vẫn có tiếng, người Xiêm sợ, mỗi khi sứ giả ta đến họ vẫn hỏi thăm). Đức Mân đem tình trạng bảo cho họ biết. Phật vương hậu đãi mà tha những dân ta bị tù. Đến nay bọn Đức Mân về nước, đem việc tâu lên. Vua không muốn gây hấn khích ngoài biển, bèn hạ chiếu cho Nặc Chăn thông sứ với nước Xiêm. Dụ rằng: “Nước ngươi đối với Xiêm, lấy nước nhỏ thờ nước lớn đã lâu năm rồi. Nay vương tuy không thân hành sang thăm, cũng nên sai sứ đi như xưa, không nên trước hậu mà sau bạc”. Do đó nước Chân Lạp lại cùng nước Xiêm giao hiếu.:rose:

    Sai Cựu điển quân Phan Tiến Khánh đến thành Nam Vang, theo Bảo hộ Nguyễn Văn Thụy làm việc.

    Dời trấn lỵ Biên Hòa sang Tân Lân (tên thôn, trước ở thôn Phước Lư, đều thuộc huyện Phước Chính).

    Bỏ thuế biệt nạp gỗ lim cho hai xã Cao Điền và Đức Nhuận (thuộc huyện Thanh Chương) trấn Nghệ An, kén dân làm lính.

    Đặt bảo Tiên Lệ (tên xã thuộc huyện Bảo Lộc) trấn Kinh Bắc. Quan Bắc Thành thấy đất ở đây kế đường quan lộ, một dải ven núi thường có bọn cướp lẻn lút quấy nhiễu người đi đường, xin đặt bảo ở đấy để phòng giữ. Vua y cho.

    Quản đạo Thanh Bình là Đào Văn Thành về đinh ưu; lấy Vệ úy vệ Minh võ quân Thần sách là Đỗ Văn Trà làm Quản đạo Thanh Bình.

    CHÍNH BIÊN

    ĐỆ NHẤT KỶ - QUYỂN LIII
    THỰC LỤC VỀ THẾ TỔ CAO HOÀNG ĐẾ

    Bính tý, Gia Long năm thứ 15 [1816], mùa hạ, tháng 4, ngày mồng 1, tế hạ hưởng.

    Sai Hoàng tử thứ tư nhiếp tế Thái miếu. Sắc từ nay tế hưởng ở Thái miếu, các hoàng tử vâng mệnh tế thay đều có tuần phúc tộ. Chép làm lệ mãi mãi.

    Lấy Tuần thành cai đội Gia Định là Lê Văn Kiên làm Quản thủ đạo Quang Hóa, kiêm lãnh hai đạo Thuận Thành và Quang Phong.

    Thu ấn Chưởng Trung quân của Nguyễn Văn Thành và giam Văn Thuyên vào ngục. Trước là Nguyễn Trương Hiệu tố cáo Văn Thuyên mưu phản, Văn Thuyên cho rằng thơ ấy không phải tự tay viết, cố cãi là vu. Kịp Đỗ Văn Chương làm chứng cho lời nói của Hiệu là đúng. Phạm Đăng Hưng tâu lên. Vua nói: “Văn Thuyên đã phục chưa?” Thưa rằng chưa. Vua nói: “Nó có lòng làm phản, sao được già miệng thế?” Đăng Hưng tâu rằng: “Văn Thuyên tự cho mình là con công thần, bệ hạ không nỡ giết và bọn thần ngửa theo lòng thánh, không dám hết phép tra trị, nên mới già miệng là do cậy mình vậy”. Vua nín thinh. Sáng hôm sau bèn sai Lê Văn Duyệt tra hỏi. Văn Thuyên quả phục, do đó Văn Thành sợ hãi xin chịu tội. Vua bèn đưa tờ biểu ra cho bầy tôi xem. Đăng Hưng tâu nói: “Văn Thành dâng biểu này, lời nói úp mở, muốn lấy khôn vặt đánh lừa triều đình, việc xin chịu tội là không phải thực lòng vậy”. Vua nói: “Lấy tình thực mà nói, Văn Thành không phải là người phản bạn, chỉ có lỗi là không biết con mình là ác, mà lại che lỗi cho, ấy là muốn khêu lòng giận cho mọi người, cũng ngu lắm vậy có gì là khôn đâu?”. Bầy tôi xin hạ ngục Văn Thành.

    Vua nói: “Văn Thành vốn là kẻ có tội ; nhưng thể thống đối với đại thần, cũng nên có cách xử trí”. Bèn sai thu ấn và khiến về ở nhà riêng”. Văn Thành mất chức. Vua bảo bầy tôi rằng: “Văn Thành thân làm đại thần mà dung túng cho con kết nạp môn khách, là hiếu danh ư ? Hay ý muốn làm gì ? Có người tôi như thế xử trí thực khó. Nếu không bảo toàn được công thần thì cũng không phải là việc hay của trẫm, thế mới khó chứ!”.

    Lấy Chưởng Chấn võ quân là Nguyễn Văn Nhân làm Chưởng hữu quân, kiêm giữ ấn vụ Chưởng Trung quân. Đổi hai vệ Chấn bảo nhất và nhị làm hai vệ Hữu bảo nhất và nhị, năm đội Chấn sai làm năm đội Hữu sai.

    Giáng Thống chế Thị nội Võ Viết Bảo làm Cai cơ, vẫn quản các vệ đội trung tín, Trung hầu, Nội hầu, Loan nghi, Chấn uy. Trước đây Viết Bảo cho riêng thuộc hiệu về thăm nhà, việc phát giác. Vua vời đến hỏi. Viết Bảo không chịu nói thật. Vua sai giam xuống ngục. Bộ Hình xin xử tội đồ. Vua nói: “Viết Bảo thấy ta gạn hỏi, sợ hãi thác nhời, không phải là cố ý dối trá. Vả trải chịu luy tiết đã đủ răn rồi. Vậy tạm khoan cho, giáng chức là được vậy”.

    Lấy Vệ úy Tả nhất Thị trung là Tôn Thất Dịch làm Thống chế Thị nội, quản lãnh năm vệ Nội trực, Thắng uy, Trung cần, Kiện võ, Tín uy và ba đội Kiên dũng.

    Sai biên các đội Nội hoàng kiếm, Tả vệ, Hữu vệ sung làm vệ Tín uy.

    Lấy Thiêm sự Lại bộ là Trần Lợi Trinh làm Ký lục Định Tường, Thiêm sự Hình bộ là Nguyễn Huy Trinh làm Tham hiệp Lạng Sơn.

    Triệu biền binh quân Thần sách Thanh Nghệ đi thú Gia Định, theo thuyền vận tải về Kinh, tới nơi, cấp cho tiền gạo rồi cho về. (Mỗi người đều tiền 5 quan gạo 5 phương).

    Từ Nghệ An ra Bắc bị hạn. Giảm thuế ruộng vụ chiêm năm nay, Nghệ An, Thanh Hoa giảm 5 phần 10, Thanh Bình 4 phần 10, Bắc Thành 3 phần 10. Rồi thấy Thanh Nghệ gạo đắt, hạ lệnh phát gạo kho mỗi nơi 5 vạn hộc, giảm giá bán cho dân. Thóc thuế vụ chiêm ấy cho nộp thay bằng tiền. (Thóc 1 hộc giá 8 tiền). Lại sai sở tại tu sửa cầu cống đường sá, hằng tháng cấp tiền gạo cho để dân được đủ ăn.

    Đắp đê giữ ruộng ở huyện Tống Sơn. Năm ngoái Vệ úy vệ Tín uy là Tôn Thất Huy tâu xin lưu vệ binh ở trấn để cùng với dân huyện đắp đê để bảo vệ nghề nông. Vua y lời xin. Đến nay khởi công đắp đê, sai phát tiền 1.000 quan, gạo 5.000 phương cấp cho.

    Vua nghĩ đến các địa phương ở dọc đường mệt nhọc vì đê trạm, sắc từ nay những việc không khẩn cấp lắm thì cho lưu lại 5,3 ngày, đợi có việc cùng phát đi một thể, để đỡ sức cho dân. Lại thấy từ Quảng Đức đến Thanh Bình gạo đắt, sai cấp cho phu trạm 3 tháng lương.

    Thuộc hiệu ở Thái Nguyên là Hoàng Thu Nguyên bắt được giặc trốn là tên Chấn đem nộp. Thưởng tiền 100 quan.

    Tướng giặc ở châu Bố Chính ngoại dinh Quảng Bình là tên Điện ngụy xưng niên hiệu Càn Thái, họp đảng ở xã Thanh Bào mưu khởi ngụy. Lưu thủ là Phan Văn Thúy đem quân vây bắt. Điện trốn sang Nghệ An, quan quân bắt giết.

    Dinh thần Quảng Đức đem đầm Thanh Lam cho Thủ hợp văn hàn là Nguyễn Văn Vinh lãnh trưng, bị dân xã An Truyền kiện. Giao xuống bộ Hình xét. Nguyễn Quỳnh tâu nói: “Nguồn đầm để cho dân hưởng chung lợi, thuộc viên ở các nha theo lệ không được trưng giành. Nay dinh thần thiên tư mà cho trưng, xin ghép vào luật vi lệnh”. Vua y lời.

    Bàn khơi sông Châu Đốc, sai bọn Lưu Phước Tường và Nguyễn Đức Sĩ đem đo đường đất (từ mặt sau bảo Châu Đốc đến các xứ Náo Khẩu, Cây Báng) vẽ bản đồ dâng lên.

    Hạ lệnh kén 51 người thuộc thuyền Toàn bính ở Bình Định đặt làm đội Chấn hầu Thị nội.

    Tháng 5, đúc ấn bạc hoàng thái tử. (Ấn vuông 6 phân 7 ly, dày 3 phân, núm rồng ngồi, khắc chữ triện “Đông triều thị tín”) (1. Đông triều thị tín : Đông triều tức là Đông cung, là hoàng thái tử. Thị tín : Đóng dấu để làm tín.).

    Định ban thứ lễ triều hạ. Chỗ lạy của hoàng thái tử và hoàng tử hoàng tôn các công tước đều ở trên điện. Hoàng thái tử ở đầu hàng tả ban, đầu hữu ban là Tôn Thất Thăng. Biểu văn khánh hạ ở điện Thanh Hòa thì trăm quan đều mũ áo đại trào, theo ban mà chúc mừng ; giấy mừng thì đình thần xưng là văn võ đẳng, quan trong cung thì xưng là thần đẳng, đều dùng chữ khải.

    Sai biền binh ba vệ Thị tượng đem 30 thớt voi kinh, chia đi Thanh Hoa và Bắc Thành đóng thú.

    Định lệ thưởng cho biền binh vận tải. Người từ Kinh sai đến các địa phương, cứ mỗi lượt thưởng thêm một tháng tiền lương, từ các địa phương vận tải về Kinh thì thưởng một nửa.

    Bỏ lệ thuế cho ba mỏ Nam Hoắc, Sư Khổng và Mai Sao. (Mỏ sắt Nam Hoắc ở Thái Nguyên thuế mỗi năm 200 cân ; mỏ diêm tiêu Sư Khổng ở Sơn Tây thuế mỗi năm 300 cân ; mỏ diêm tiêu Mai Sao ở Lạng Sơn, thuế mỗi năm 100 cân. Thành thần thấy không có người khai thác tâu xin bỏ đi).

    Quản Tàu vụ là Nguyễn Đức Xuyên tâu nói rằng gần đây có thuyền buôn nước ngoài nhập khẩu, nhiều thuyền giả mạo thuyền bài để mưu giảm thuế, cũng có thuyền giấu hàng hóa, nói dối là bị bão để cầu miễn thuế. Vua bèn sai quan địa phương xét hỏi rất nghiêm, thất sát thì có tội.

    Vua cùng bầy tôi bàn việc trị nước, nhân nói đến việc thờ phụng dâm từ ở dân gian. Thống chế Thị trung là Hoàng Công Lý tâu rằng: “Dân cư trong Kinh thành cũng có người mê tín dị đoan mà đánh thanh la, thổi tù và. Xin định rõ lại điều luật để ngăn cấm”. Vua cho là phải.

    Sửa lại Nhà đồ nội.

    Vua thấy công việc làm bảo Châu Đốc chưa xong, mà mùa mưa sắp tới, sai thành thần Gia Định thả hết quân dân về nghỉ, đợi sang xuân sẽ làm.

    Tháng 6, ngày mồng 1 Kỷ dậu, ban mũ áo cho hoàng thái tử. Lấy ba vệ Kiện võ, Túc bảo nhất, Túc bảo nhị và Chấn hầu, Thị nghi, Tư thiện, Thủy quân đều một đội để sung theo hầu.

    Bàn định lễ sách lập Thái tử. Sai Thượng thư bộ Hộ là Nguyễn Đình Đức sung chức Tuyên sách quan, Tham tri Lễ bộ là Bùi Đức Mân sung chức quan bưng sách ấn, Tham tri Lại bộ là Phạm Quang Triệt sung chức quan bưng chiếu, Tham tri Công bộ là Đoàn Viết Nguyên, Tham tri Lại bộ là Trần Văn Tuân sung chức quan Tả hữu nội tán. Triệu các quan thành dinh trấn mỗi nơi một người và các Tri huyện ở bốn dinh trực lệ về.

    Sắc từ nay, hoàng thái tử và các hoàng tử hoàng tôn tước công vào hầu, từ các cửa hoàng thành trở vào trong : hành nghi của hoàng thái tử thì cáng một cái, lọng hai cái, gươm ba cái, hành nghi các tước công thì cáng, lọng, gươm, mỗi thứ một cái, đều đến ngoài cửa Hưng Khánh thì dừng ; hoàng nữ và vợ thiếp các tước công chỉ được đi các cửa Hiển Nhân, Chương Đức, Củng Thần, hành nghi thì dùng kiệu, lọng đều một cái, đến ngoài cửa Lý Thuận thì dừng.

    Ngày ất mão, điện Thanh Hòa làm xong. Điện lấy gỗ ở cung Trường Thọ mà làm. Hoàng tử thứ tư thấy có thơ khắc cũ ở trên ván, nhiều lời tán tụng, không dám tự nhận, tâu xin bỏ đi. Vua cho là phải.

    Ngày Bính thìn, hoàng tử thứ tư lên ở điện Thanh Hòa.

    Ngày Đinh tỵ, đem đại lễ sách lập kính cáo ở Thái miếu.

    Ngày Kỷ mùi, vua ngự điện Thái Hòa, sách lập hoàng tử thứ tư làm Hoàng thái tử, ban sách vàng, ấn vàng.

    Hoàng thái tử lạy chịu mệnh. Lễ xong, hoàng tử, hoàng tôn, các tôn nhân và văn võ trăm quan bưng sách ấn đến điện Thanh Hòa, đặt ở nhà Đoan Bản.

    Lời sách rằng : “Trẫm nghĩ : Quẻ Chấn tượng trưng con trai trưởng ; móng lân khen ngợi giống hiền minh. Nghĩ để mưu hay cho tử tôn, tất phải cậy ở lệnh tự (1. Lệnh tự: Con nối nghiệp hiền. ).

    Hỡi hoàng tử ngươi, tính vốn hiền lành, lượng lại rộng rãi. Đức thông minh giữ nết khiêm cung ; lòng hiếu hữu ngày thêm cố gắng. Người hiền tuổi lớn ; gánh được việc to. Nghĩ ta : lận đận cõi Nam, chống chèo trăm trận. Kẻ thù chẳng đội trời chung ; mở nước Việt cả khu đất rộng. Xiết bao gian khổ mới có ngày nay. Nghĩ Xã Tắc kế sâu ; nguyên lương xứng bực. Chí ta đã định, trăm quan đều theo. Thế nên chọn lấy ngày lành kính cáo Tôn Miếu. Dựng ngươi lên làm Hoàng thái tử. Ngươi nên ngày thêm đức tốt chăm lo công việc lâu dài. Để sáng đạo vua tôi cha con, nên công tu tề trị bình(2. Tu tề trị binh: Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. ) mà làm vẻ vang cho mệnh lớn của ta”.

    Bố cáo khắp trong ngoài. Chiếu rằng : “Nghĩa xuân thu thống nhất, bắt đầu tự chính danh ; mưu thánh nhân về sau, trước hết là lập tự. Trẫm cả vâng mệnh sáng, giữ lấy nghiệp to. Nghĩ việc lớn thiên hạ, cần được người đứng đầu. Nay hoàng tử thông minh nhân hiếu, có thể đảm đương việc nặng; chí ta định trước, trăm quan cùng theo. Lấy ngày mồng 9 tháng này, kính cáo Thái miếu, ngày 11 sách lập Hoàng thái tử, để chính căn bản nhà nước, và rõ ràng được kẻ nối ngôi. Ôi! Tuổi đã lớn, đức càng cao, vì thiên hạ được người xứng đáng ; biển lại nhuần, sao càng sáng, mừng giang sơn hưởng phúc lâu dài”.

    Ngày Canh thân, Hoàng thái tử yết liệt miếu và điện Hoàng Nhân.

    Ngày Quý hợi, các hoàng tử, hoàng tôn, cùng tôn nhân văn võ, dâng biểu chúc mừng. Ngày sau đến điện Thanh Hòa chúc mừng.

    Sai đình thần chọn hàng quan văn từ nhị phẩm đến chánh ngũ phẩm, người nào học hạnh thuần cẩn, cho sung chức phụ đạo ở điện Thanh Hòa. Rồi lấy Tham tri Hình bộ Nguyễn Hoài Quỳnh, Tham tri lễ Bộ là Bùi Đức Mân, Thiêm sự Binh bộ Hoàng Kim Hoán sung vào. Những công việc tầm thường ở bộ đều cho miễn họp làm, duy việc lớn mới phải dự. Lấy Hàn lâm viện trực giảng là Phan Đắc Lân, Nguyễn Đăng Tài, Nguyễn Đăng Tuân và Hàn lâm viện Nguyễn Khánh đều sung chức Thị giảng.

    Tham tri Hình bộ là Lê Bá Phẩm tự Gia Định vào chầu. Khiến ở Kinh làm việc.

    Lấy Thuộc nội cai đội Nguyễn Đức Bằng làm thủ ngự cửa biển Tư Dung, cai cơ Vọng Các Võ Văn Điện làm Quản đạo Long Xuyên, Khâm sai cai độ Phạm Văn Chân làm Quản thủ sở cựu thủ Châu Đốc.

    Lấy Vệ úy ngoại ngạch Tả quân Lê Văn Từ làm Vệ úy vệ Tả bảo nhị.

    Vua thấy các quân sửa chữa Kinh thành, công việc khó nhọc, nghĩ giữ gìn sức khỏe, mỗi khi nặng quá thì cho nghỉ việc; đến khi làm xong, thưởng tiền cho hơn 40.000 quan.

    Man Thạch Bích ở Quảng Ngãi lại quấy rối ngoài biên. Trấn thủ Phan Tiến Hoàng đánh không lợi. Vua nghe tin, chiếu cho Lê Văn Duyệt đem quân tiến tiễu, Phó đô thống chế Nguyễn Văn Trí, Vệ úy Phan Đăng Tuyên và Nguyễn Văn Trượng đều lệ theo. Lại sai Quảng Nam, Bình Định lượng phát biền binh theo Duyệt điều khiển. Duyệt đến nơi, các Man đều trốn nấp cả. Bèn lưu bọn Trí Trượng cầm quân phòng ngự mà triệu Duyệt về.

    Trói Phan Tiến Hoàng giải về Kinh, giao bộ Hình bàn xét. Nguyễn Hoài Quỳnh tâu nói : “Tiến Hoàng thân làm tướng ngoài biên, trị dân chống giặc không đúng phép đến nỗi quân ác man gây việc, đến khi đem quân đánh dẹp, lại sai quân cơ, xin xử theo tội trảm giam hậu”. Vua theo lời.

    Lấy cựu Lưu thủ Quảng Nam là Nguyễn Cửu Khoáng làm Trấn thủ Quảng Ngãi.

    Nguyễn Văn Trí sai Nguyễn Văn Trượng đánh úp Man Thạch Bích, phá tan. Trước là viên đội trưởng ở Quảng Ngãi là Nguyễn Đặc bị quản suất lăng nhục, trốn vào xứ Man, hằng dẫn quân Man đi cướp bóc. Kịp khi đại quân tiến đến, Đặc tự thú xin lập công chuộc tội. Lê Văn Duyệt cho. Đến nay, Đặc dụ các Man đến. Trí ngầm sai Trượng nấp quân đánh úp, chém hơn trăm thủ cấp, bắt được khí giới rất nhiều. Tin thắng trận báo lên. Thưởng cho Trượng mũ áo và 1.500 quan tiền, cho các biền binh 6.000 quan tiền, mà tha tội cho Đặc.

    Lại giảm thuế ruộng vụ mùa cho từ Nghệ An ra Bắc. Chiếu rằng : “Trị nước không gì bằng nuôi dân ; chính tốt trước phải ban ân huệ. Các địa phương mùa xuân này hiếm mưa, mùa màng kém cỏi, thuế vụ hạ đã được khoan giảm, nhưng gần đây việc nông chưa thỏa, dân bệnh chưa lành, lòng trẫm thực là thương xót. Vậy tha giảm thuế vụ đông này, Nghệ An, Thanh Hoa giảm 5 phần 10, Thanh Bình 4 phần 10, Bắc Thành 3 phần 10”.

    Miễn thuế gỗ còn thiếu cho đội Mộc Đĩnh ở Gia Định.

    Tôn Thất Triều tâu xin bổ theo vệ đội các quân, để được cố sức làm việc. Vua khen. Nhân sai Tôn Thất Thăng, cử người tôn thất từ 18 tuổi trở lên, ghi vào sổ tâu lên. Rồi cho bọn Triều 10 người làm cai đội suất mười đội Nội hầu.

    Truy tặng Vệ úy vệ Ban trực tuyển phong tả quân Thần sách là Lê Thành Lý làm Chưởng cơ, cấp cho 7 người mộ phu (Thành Lý có công Vọng Các).

    Phát dân dinh Quảng Đức vét sông từ xã Chiết Bi đến xã Vinh Vệ (tức là sông Lợi Nông ngày nay). Sai chi tiền gạo cấp cho.

    Tháng 6 nhuận, ban lộc hàng năm cho Hoàng thái tử (tiền 5.000 quan, gạo 3.000 phương).

    Đặt các đội Thị nội, Nội sai thuộc điện Thanh Hòa, sai mộ dân ngoại tịch sung vào.

    Sai đình thần bàn lại án phản nghịch của Nguyễn Văn Thuyên. Trước vua từng sai bộ Hình lấy những lời ở trong án trích tâu, đọc đến việc Nguyễn Văn Thành sai Nguyễn Trương Hiệu phúc xem mả mẹ, vua nói : “Văn Thành cầu lấy đất tốt sợ giàu sang không được thêm nữa à ? Trước Văn Thành từng nói phía tây bắc có cầu vồng bảy mặt trời chọi nhau. Thành không phải là chức tư thiên, sao phát ngôn dễ dàng thế ? Như thế thì con bất đạo là vì bình nhật không biết ngăn ngừa cho nên đến thế”. Đến nay án dâng lên. Đình thần đều nói : “Văn Thuyên mưu làm phản, tội trạng rõ ràng ; Văn Thành thì dám che giấu cho con, lấy yêu ngôn tâu bậy, sửa mộ quá phép, tiến cử người xằng, nhiều điều bất pháp như thế, xin xử tội chết”. Chỉ mình Tham tri Lại bộ là Trần Văn Tuân cho rằng : Văn Thành không dạy được con thì tội nhẹ ; Nguyễn Duy Hòa tham hặc đại thần thì tội nặng. Vua giận nói : “Vậy là muốn khóa miệng người ta à? Há không có bè đảng sao?”. Bèn hạ lệnh bàn lại.

    Dinh Quảng Đức có tên tù hành dịch, hết hạn mà không có người kết nhận vào sổ đinh. Dinh thần tâu lên vua sai thích chữ cho sung làm lính ở dinh.

    Vua xem bản đồ chùa Thiên Mụ, bảo bề tôi rằng : “Chùa này non nước thanh tú ; di tích của tiên triều thì có vườn ngự và đài câu đấy, Thượng thư Lễ bộ Đặng Đức Siêu còn nhớ được nền cũ vậy”.

    Bộ Hình tâu việc thu thẩm. Vua dụ Phạm Như Đăng rằng : “Hình ngục là việc trọng. Việc thu thẩm, quan hệ đến sự sống chết của người ta, khanh nên cẩn thận”.

    CHÍNH BIÊN
    ĐỆ NHẤT KỶ - QUYỂN LIV
    THỰC LỤC VỀ THẾ TỔ CAO HOÀNG ĐẾ


    Bính tý, Gia Long năm thứ 15 [1816], mùa thu, tháng 7, ngày mồng 1, lễ thu hưởng. Sai Thái tử nhiếp tế ở Thái miếu.

    Định lại lệ lễ ngày kỵ.

    Ngày kỵ lăng Cơ Thánh và lăng Thụy Thánh, vua thân hành làm lễ.

    Ngày kỵ lăng Trường Cơ, lăng Vĩnh Cơ, lăng Trường Hưng, lăng Quảng Hưng, Hoàng thái tử khâm mạng làm lễ.

    Ngày kỵ lăng Trường Phong, lăng Vĩnh Phong, lăng Trường Thái, lăng Vĩnh Thái, Tôn Thất Thăng khâm mạng làm lễ.

    Ngày kỵ lăng Trường Nguyên, lăng Trường Diễn, lăng Vĩnh Diễn, lăng Trường Diên, lăng Vĩnh Diên, lăng Trường Mậu, lăng Vĩnh Mậu, lăng Trường Thanh, lăng Vĩnh Thanh, lăng Trường Thiệu, hoàng tử hoàng tôn khâm mạng làm lễ.

    Thả những biền binh Thanh Hoa, Nghệ An, Bắc Thành, Thanh Bình ứng triệu đến Kinh cho về.

    Triệu Chưởng cơ lãnh Trấn thủ Vĩnh Thanh là Lưu Phước Tường về Kinh ; lấy Trấn thủ Hà Tiên là Nguyễn Văn Triêm làm Trấn thủ Vĩnh Thanh, Phó vệ úy vệ Hùng cự nhị là Trần Văn Trinh làm Trấn thủ Hà Tiên. Trinh bệ từ. Vua dụ rằng: “Việc binh dân kiện tụng triều đình đã có phép sẵn ngươi nên cẩn thận giữ phép vỗ nuôi dân chúng ngoài biên, đừng nên tham cao chuộng lạ”.

    Sai Phó tướng Tiền quân là Hoàng Văn Điểm làm Bang biện đê chính Bắc Thành.

    Lấy Vệ úy vệ Tiền nhị Thị trung là Phan Văn Mậu làm Thuộc nội vệ úy vệ Tả nhất, Cai cơ Hữu quân Hoàng Văn Bình làm Quản thủ đạo Phố Hài.

    Sai Cai cơ Thủy quân Tống Văn Hiệp quản 4 đội Phú Thuận giữ kho Kinh.

    Ban mũ áo thường triều cho quan Phiên nước Chân Lạp. Trước đây, vua Phiên là Nặc Chăn đã nhận mũ áo, quan Phiên trông thấy khen ngợi đều xin đổi theo phục sắc của nước ta. Thành thần Gia Định tâu xin cho. Vua sai bầy tôi bàn định : Quan Phiên từ thập phẩm đến thất phẩm mũ áo coi như quan triều đình tự tam phẩm trở xuống ; từ lục phẩm trở xuống thì không được dự. (Quan liêu ở Chân Lạp từ thập phẩm đến nhất phẩm, lấy thập phẩm làm cao nhất, cửu phẩm là thứ hai, dư cứ theo thế mà suy). Bèn sai Nhà đồ chế mũ áo thập phẩm cửu phẩm 23 bộ cho 23 người quan Phiên, lại chế mũ áo bát phẩm thất phẩm 4 bộ làm mẫu, sai Cai bạ Biên Hòa là Trần Minh Nghĩa đem cho. Vua Phiên lạy nhận ở nhà Nhu Viễn. Từ đấy y phục đồ dùng của người Chân Lạp phần nhiều mộ theo phong cách người Hán [Việt] mà tục Man dần dần đổi bỏ.

    Bãi tiền thuê thuyền vận tải. Trước đây thuyền Trường Đà và thuyền công thuyền tư một năm đi chở vật công vật tư thì nhà nước trả tiền thuê, một năm đi buôn thì nộp thuế y lệ. (Tiền thuế và tiền thuê ngang nhau). Vua muốn bớt phí tổn về việc chi thu, bèn sai đổi định điều lệ, lấy năm Đinh sửu sang năm bắt đầu. Phàm thuyền chở cho nhà nước thì đình tiền thuê, mà đi buôn thì được miễn thuế. Đương chở việc công mà bỏ trốn, phạm lần đầu thì thu tiền thuế, lần thứ hai thì xử tội đồ, tiền sung vào nhà nước. Địa bảo và tấn thủ thì xử tội cố ý dung túng, quan địa phương thì xử tội thất sát.

    Đổi định lệ tiền thuế cảng cho các thuyền vận tải. Phàm thuyền công hay tư phải chở hàng cho nhà nước mà xin nộp thuế đi buôn thì thu như lệ. (Thuyền từ 7 thước đến 7 thước 5 tấc, tiền thuế 31 quan ; từ 7 thước 6 tấc đến 7 thước 9 tấc, tiền 38 quan ; 8 thước đến 8 thước 5 tấc, tiền 45 quan; 8 thước 6 tấc đến 8 thước 9 tấc, tiền 52 quan; 9 thước đến 9 thước 5 tấc, tiền 58 quan ; 9 thước 6 tấc đến 9 thước 9 tấc, tiền 69 quan ; 10 thước đến 10 thước 5 tấc, tiền 104 quan; 10 thước 6 tấc đến 10 thước 9 tấc, tiền 121 quan; 11 thước đến 11 thước 5 tấc, tiền 138 quan; 11 thước 6 tấc đến 11 thước 9 tấc, tiền 156 quan ; 12 thước đến 12 thước 5 tấc, tiền 187 quan ; 12 thước 6 tấc đến 12 thước 9 tấc, tiền 190 quan ; 13 thước đến 13 thước 5 tấc, tiền 249 quan ; 13 thước 6 tấc đến 13 thước 9 tấc, tiền 270 quan ; 14 thước đến 14 thước 5 tấc, tiền 322 quan ; 15 thước đến 15 thước 5 tấc, tiền 353 quan ; 15 thước 6 tấc đến 15 thước 9 tấc, tiền 385 quan ; 16 thước đến 16 thước 5 tấc, tiền 485 quan ; 16 thước 6 tấc đến 16 thước 9 tấc, tiền 522 quan; 17 thước đến 17 thước 5 tấc, tiền 558 quan ; 17 thước 6 tấc đến 17 thước 9 tấc tiền 594 quan. Phàm thu tiền thuế cảng thì nộp trữ ở dinh trấn sở tại, không do quan cai Trường Đà trưng thu, như thế để tiện cho dân. Duy thuyền nghề cá ở các trấn Nghệ An, Thanh Hoa, Sơn Nam hạ, và thuyền của đội biệt nạp nước mắm ở Bình Thuận, thì thuyền từ 8 thước 1 tấc trở lên, có lệ vận tải, nếu miễn chở thì phải nộp thuế. Như bất kỳ phải chở thì miễn thuế năm ấy. Còn thuyền riêng của các quan thuộc các nha và quân nhân mà được miễn lệ chở thì nộp tiền thuế như cũ. Các đội Trường Đà theo lệ chở cho nhà nước, không được nộp thuế).

    Định lệ phu bạn cho thuyền các đội Trường Đà. (Thuyền chở lương nhà nước, mỗi 150 phương cho mướn 1 người phu bạn, thuế thân, thuế sưu đều miễn).

    Vua bảo bộ Lại rằng: “Muốn có nhân tài trước phải giáo hóa. Nay ở kinh sư số học giả còn ít bởi phép dạy chưa đầy đủ. Trẫm muốn dựng nhà Quốc học và quán Sùng văn để tỏ bày giáo hóa, khiến học giả bốn phương nhóm họp ở kinh sư ; ai học tiến ích thì ưu cấp lương lẫm, học lâu không tiến thì trách phạt, như thế học trò biết sự khuyên răn, mà nhân tài ngày thêm thịnh vượng”.

    Lấy Hàn lâm trực giảng là Hoàng Văn Quyền làm Thiêm sự Lại bộ, Tri bạ Hoàng Sĩ Đức làm Thiêm sự Binh bộ.

    Hoàng tử thứ 6 là Bính dung túng cho bọn thuộc hạ ở phủ đi dỗ con nhà người ta làm nghề con hát. Việc đến tai vua. Vua giận sai đánh rất đau. Hoàng thái tử khóc xin cho. Vua không cho, quay bảo bọn Lê Văn Duyệt, Nguyễn Văn Nhân, Nguyễn Đức Xuyên rằng: “Từ nay hoàng tử hoàng tôn có làm gì trái phép, bọn ngươi phải báo cáo trẫm biết”.

    Ấm thụ cho con cháu Khai quốc công thần Tôn Thất Khê và Tôn Thất Vị làm đội trưởng để coi giữ việc thờ cúng.

    Tham tri bộ Hộ là Lê Viết Nghĩa đi thanh tra các trấn Gia Định, sai riêng lính coi kho thiện tiện mua lương của nhà nước, bị trấn Vĩnh Thanh tố phát. Vua sai giết.

    Hiệp trấn Thanh Hoa là Nguyễn Xuân Thục, trước làm Cai bạ Vĩnh Thành, cùng Ký lục Trần Bá Bảo, nắm lấy thuế của nhà nước. Đến nay việc phát Xuân Thục bị giáng làm Thiêm sự, Bá Bảo bị giáng làm Hàn lâm.

    Cho tri phủ tri huyện từ Kinh đi đến chỗ làm việc được cấp phu trạm và tiền lộ phí. (Tri phủ 15 quan, Tri huyện 10 quan). Vua bảo hai bộ Lại Hộ rằng: “Chức thú lệnh rất là gần dân, đạo nuôi người thanh liêm không gì bằng cấp cho hậu lộc. Trước đây nước ta mới định, kho chứa chưa nhiều, cho nên tùy nghi cấp bổng, chưa được quân bình. Nay nên duyệt kỹ, các huyện từ Gia Định đến Bắc Thành, phàm đất rộng dân nhiều là nơi phiền(1. Phiền : Nơi phủ huyện nhiều việc.), đất hẹp dân thưa là nơi giản(2. Giản : Nơi phủ huyện ít việc.) chước định lệ lương để nuôi đức thanh liêm, nếu còn có người tham lam thì bắt tội không ăn năn nữa”.

    Phạm Đăng Hưng xin đặt kho ở xã [xã thương] để phòng chẩn cấp năm mất mùa. Vua nói: “Trẫm trù tính đã kỹ rồi, phương pháp đặt xã thương làm được thực khó, kẻ giữ kho không được người tốt thì sẽ hại cho dân. Không bằng cẩn thận rộng chứa thuế chính cung, gặp khi đói kém thì phát chẩn và cho vay, đó cũng là chước hay vậy”.