086. Trang [0937-0948] - @mabuphuong (done)

15/8/15
086. Trang [0937-0948] - @mabuphuong (done)
  • :rose:
    Lại từng bảo Đăng Hưng rằng: “Đời xưa chia ruộng và định sản nghiệp, việc ấy xem ra như hay. Nhưng nghĩ bọn du thủ du thực, dẫu trao ruộng đất cho ắt cũng không chịu siêng năng làm việc, rồi cũng chuyển bán cho người khác. Nay muốn ngăn cấm việc kiêm tính ấy ra để chia đều, chỉ thêm nhiễu dân mà thôi. Trẫm nghĩ kỹ rốt cuộc cũng không làm được”.

    Vua từng bảo bầy tôi rằng: “Tam đại về sau, tuy nhà Hán lấy được thiên hạ thì chính đáng, đời sau không thể sánh kịp được. Bản triều từ khi khai sáng đến trung hưng danh nghĩa đều chính cả, cũng không hổ thẹn với nhà Hán vậy”.

    Tháng 8, vua hỏi Trương Phước Đặng lệ thường triều số lính đứng chầu bao nhiêu người. Thưa rằng: “Đứng chầu hai bên tả hữu mỗi bên 5 hàng, mỗi hàng 8 người”. Vua hạ lệnh tả hữu hai bên mỗi bên bớt đi một hàng cho đúng số 8 lần 8.

    Xiêm La sai bọn Sá Thông Sự đến hiến phương vật và hỏi việc năm ngoái Tham Đích Tây đánh quân Xiêm. Vua cho vào yết kiến ở điện Cần Chánh và dụ rằng: “Tội của Tham Đích Tây đã sai vua Phiên trị rồi. Nhưng đầu mối gây ra việc đánh nhau là ở tướng Xiêm, về cáo cho vua ngươi biết nhé”. Được vài ngày, sứ Xiêm La đến điện Thanh Hòa yết kiến Hoàng thái tử. Khi trở ra nói với người thông ngôn rằng: “Vị hoàng chừ tuổi đương trai trẻ, oai dung đức độ thực không phải người thường”. Khi về vua cho hậu rồi khiến đi. (Tặng Phật vương 40 lạng vàng, 500 lạng bạc, cho vua thứ hai 20 lạng vàng, 300 lạng bạc).

    Vua lấy Tả tham tri Hình bộ là Võ Văn Doãn lãnh Hiệp trấn Thanh Hoa.

    Tháng 9, trấn thần Sơn Nam hạ tâu xin mộ 100 người dân ngoại tịch tập làm hai đội Kiên Định, Kiến Uy. Dinh thần Quảng Bình cũng xin mộ 250 người lập làm năm thuyền Bính. Vua đều y cho.

    Từ Quảng Đức trở ra Bắc đến Thanh Hoa gạo đắt. Sai cấp thêm gạo lương cho phu trạm.

    Lấy Cai bạ Minh Hòa là Trần Minh Nghĩa làm Ký lục Vĩnh Thanh.

    Cai bạ Bình Thuận là Phạm Hưng Nhượng chết ; lấy Thiêm sự Binh bộ là Nguyễn Văn Khiêm là Cai bạ Bình Thuận.

    Triệu Phó tổng trấn Gia Định khâm sai chưởng dinh lãnh Phó tướng Trung quân là Trương Tấn Bửu về Kinh, sai quyền giữ ấn vụ Trung quân.

    Nước Chân Lạp sai sứ sang mừng lễ lớn sách lập. Vua thấy nước ấy mới yên, sai thu phẩm vật một vài thứ, còn dư cho trả lại rồi hậu đãi cho về.

    Cấm thuyền buôn chở riêng thóc gạo hóa vật thông thương với nước ngoài. Kẻ nào phạm thì lấy luật ra riêng ngoài cõi và luật phạm cấm ra biển để xử, thuyền và hàng hóa sung công. Quan sở tại biết mà cố ý dung túng thì cùng tội.

    Lấy Cai cơ ngoại ngạch Tả quân là Võ Viết Đề làm Phó vệ úy vệ Tả bảo nhất.

    Định tội tù sung quân và tù lưu trốn. Trốn mà bắt được, sơ phạm thì đưa về chỗ đầy đánh trượng, gông lại và đầy lại, tái phạm thì chém.

    Bảo hộ Chân Lạp là Nguyễn Văn Thụy ốm xin giải chức; sai Chưởng cơ Lưu Phước Tường thay.

    Vua cho rằng bảo hộ là chức vụ quan trọng ở ngoài biên, cho Phước Tường làm Thống chế, cho trật ngang Thống chế Thủy dinh, cấp cho ấn đồng bảo hộ cho trọng thêm quyền. Phước Tường bệ từ. Vua cho lên điện và dụ rằng : “Gia Định giáp giới Chân Lạp, đường giao thông bốn bề năm ngả, ngươi nên bày tỏ với thành thần sửa sang đường sá, cho mạnh sự phòng thủ ngoài biên”. Cho 50 quan tiền, lại cho mộ lập một đội thuộc sai để đi theo.

    Hủy tiền ngụy hiệu của Tây Sơn, chiếu rằng : “Quy chế đúc tiền, từ xưa ghi niên hiệu cốt để phân biệt. Từ thuở Tây Sơn lấn cướp, đúc ra các thứ tiền Thái Đức, Quang Trung, Cảnh Thịnh, Bảo Hưng, dân gian nối nhau thông dụng, lẫn lộn rất nhiều. Nhưng noi theo đã lâu, chợt nghiêm cấm thì người tích trữ phải đọng lại mà không thông, người dùng quen thì ngại tiền mới, thực ra không tiện cho dân. Vậy chuẩn định những tiền ngụy từ năm Đinh sửu đến năm Tân tỵ là năm năm thì hãy cho thông dụng, từ năm Nhâm ngọ về sau thì đều cấm. ở trong hạn ấy thì kho tàng trưng thu và nhân dân mua bán không được kén loại, làm trái thì có tội”.

    Ban tiền “Gia Long thông bảo” mới đúc. Hạ lệnh cho các dinh trấn từ Quảng Bình vào Nam, phàm lương bổng và chi tiêu đều dùng tiền cả. Duy dân gian nộp thuế vẫn phải dùng nửa tiền nửa bạc.

    Mùa đông, tháng 10, ngày mồng 1, tế đông hưởng. Sai Hoàng thái tử nhiếp tế ở Thái miếu.

    Chân Lạp dâng biểu sai hằng năm sai sứ sang chầu một lần. Vua bảo bầy tôi rằng: “Trẫm lấy thiên hạ làm một nhà, coi mọi người như nhau không chia trong ngoài, nay nước Chân Lạp kính mến xuất tự lòng thành, nên theo lời xin. Nhưng hành lý đi lại, đường bộ thì mệt vì đưa đón, trẫm lại không muốn làm nặng nhọc cho dân. Gia Định hằng năm có lệ thường, vận tải đường biển nhân tiện đó mà hộ tống sứ giả thì trong không mệt dân mà ngoài không mất lòng trông đợi của người xa. Vậy ra lệnh cho sứ giả hàng năm đi cùng thuyền chở của Gia Định”. Nước Chân Lạp chầu hàng năm bắt đầu từ đấy. (Phẩm vật : sừng tê 2 tòa, ngà voi một cặp, sơn đen 10 ghè, đậu khấu, sa nhân, sáp ong, cánh kiến, trần hoàng đều 50 cân).

    Vua nghe tin quân và dân ở Gia Định nhiều người bá chiếm ruộng đất của người Chân Lạp, các nha môn cũng có người Chân Lạp đến ở, chiếu cho thành thần Gia Định rằng: “Chân Lạp đời đời làm phiên phụ của ta, một tấc đất, một người dân, đều nhờ ơn triều đình nuôi giữ. Phàm ruộng đất có bị người Hán [Việt] lấn chiếm, dân có bị các nha dung chứa thì đều trả lại cả”.

    Tả tham tri Công bộ lãnh Công tào thành Gia Định kiêm lý Hộ tào là Nguyễn Khắc Thiệu chết.

    Có tên Hữu lấy trộm ấn Tả quân, Lê Văn Duyệt bắt được tâu lên. Vua sai đình thần tra hỏi. Hữu thú là do Nguyễn Văn Thành sai, hẹn thưởng 30 lạng bạc, lại nói Văn Thành sai làm môn hạ Văn Duyệt để bỏ ngầm thuốc độc, mưu không thành bèn tự lấy trộm ấn bỏ đi. Vua cho Hữu nói trước sau không đúng, lại không có căn cứ, không muốn xét kỹ sợ liên lụy cho người, bèn sai giết Hữu và bỏ việc ấy đi.

    Quảng Đức và Quảng Nam gạo đắt. Vua sai lấy thóc kho mỗi nơi 5 vạn hộc, giảm giá bán ra. Lại thấy giá bạc trong nhân gian rẻ hơn giá nhà nước, dân có người đem bạc đong thóc thì tính cho theo giá nhà nước mà nộp. Vua nhân bảo Lưu thủ Quảng Đức là Nguyễn Huy rằng: “Dân gian đói ăn, trẫm rất thương. Vậy nên bớt của người trên mà bù cho kẻ dưới. Ngươi nên thể lòng ta để cho bọn tiểu dân đều được nhờ ơn, cẩn thận, đừng để bọn cường hào nhờ đó mà mưu quyền lợi”.

    Lấy Cai cơ Nguyễn Văn Phước làm Vệ úy vệ Túc bảo nhị, Cai đội Võ Văn Tình làm Phó vệ úy.

    Vua thấy từ trước tới nay các thành dinh trấn hễ gặp mưa lụt nhỏ là dâng biểu tâu, như thế cũng phiền, hạ lệnh từ nay cứ chua vào sổ phong vũ nhật ký, cuối tháng đệ lên một thể, duy gió to mưa dữ bất kỳ thì tâu lên.

    Phú Yên nước to. Sai lấy thóc kho phát chẩn cho dân đói.

    Cựu Tham hiệp Sơn Nam hạ là Nguyễn Bá Tuần, mùa hè năm ngoái đốc thu thuế nhà nước, dung túng cho người nhà quấy dân, việc phát, giao xuống Hình bộ bàn xét. Đến nay án xong, giáng làm Hàn lâm.

    Vua bảo bầy tôi rằng : “Khi nước mới dựng, mọi việc bắt đầu, pháp luật chưa được tường tất, lệ định phàm thì giết người thu gia sản và tiền mai táng hơn 30 quan cấp cho thân nhân người chết. Đó là quyền nghi để cho quan xét án để làm việc thôi. Nay luật lệ đã định, kẻ giết người phải chịu tội, không có lệ cấp tiền mai táng và tịch thu gia sản. Duy lầm lỡ giết người mới thu bạc chuộc tội, nhẹ nặng thấp cao, đều có điều mục, nhưng gần đây hữu ty cứ theo lệ cũ, rất trái với luật văn. Vậy từ nay trở đi các nha môn xét hình nhất thiết phải y theo luật mới mà làm”.

    Định thêm điều lệ về kẻ gian phu chống cự người bắt. Phàm kẻ gian chống cự người bắt mà giết chết người thì xử trảm, làm bị thương người thì xử giảo. Gian phu giết chết cha mẹ gian phụ mà gian phụ không biết tình thì xử giảo, nếu có biết tình thì xử trảm.


    Đặt bảo Giá Sơn (tên xã, thuộc huyện Gia Viễn) ở Thanh Bình, sai quan ở đạo đóng giữ.

    Sửa đồ thờ ở Nguyên miếu.

    Thổ phỉ nổi dậy ở Tuyên Quang. Đội trưởng thuộc trấn là Nguyễn Thế Nga đem dân sở tại bắt được thủ phạm, giết đi. Cho Thế Nga làm Tuyên án đổng tri, thưởng tiền cho dân theo thứ bực khác nhau.

    Ký lục Quảng Ngãi là Võ Xuân Biền dung túng cho người nhà yêu sách của dân, việc phát giác, giáng ba cấp, đổi đi nơi khác. Sau bổ Đốc học Bình Định.

    Đặng Trần Thường có tội bị giết. Trước Đặng Trần Thường đã được tha, lưu lại Kinh. Nhân vì trước ở Bắc Thành, ẩn lậu thuế đầm ao đinh điền, Lê Chất phát ra lại bị hạ ngục. Trần Thường uống rượu nói xằng, phần nhiều oán trách. Đình thần thẩm án đều cho rằng nên giết. Bèn xử giảo và tịch thu gia sản.

    Tháng 11, Diễn tự công Lê Duy Hoán mưu phản. Việc phát giác, bắt hạ ngục. Trước Duy Hoán ở Thanh Hoa, có người Khoái Châu tên Đỗ Danh Hoành đến làm khách môn hạ, xui làm phản. Duy Hoán mới nghe thì sợ. Hoành lại nói có câu sấm “Phá điền thiên tử xuất”. Phá điền tức là chữ thân. Duy Hoán do đó mà mê hoặc. Hoành bèn giới thiệu người đảng là Đặng Đình Thạch làm mưu chủ, suy tôn Duy Hoán làm Trinh nguyên hội chủ, xưng là vua Lê, uống máu ăn thề. Duy Hoán sai Thạch về Bắc Thành, chiêu tập những bọn giặc cướp , tụ đảng ở Kinh Bắc. Đội trưởng Nguyễn Đức và Hà Viên tố cáo với thành. Thành thần đem quân vây bắt, được rõ sự trạng, mật báo cho Thanh Hoa, xét đến Duy Hoán, bắt hết được cả văn thư đồ đảng và ấn tín tâu lên. Vua bảo bầy tôi rằng: “Trẫm đãi họ Lê không bạc, Duy Hoán vì sao mà làm phản?”. Tức sai Hiệp trấn Thanh Hoa là Võ Văn Doãn hội đồng với ba tào Bắc Thành mà xét án ấy. án xong, đóng gông Duy Hoán giải về Kinh. Họ Lê sợ hãi, đều xin đến cửa khuyết chờ tội.

    Vua xuống chiếu dụ rằng: “Duy Hoán tự làm việc trái phép, chẳng những phải tội với triều đình mà cũng hổ thẹn với họ Lê nhiều vậy. Phép nước không thể tha được. Tội ở Duy Hoán, trẫm lấy lòng chí công, không lỡ lấy việc ấy mà bắt tội họ Lê, đừng sợ”.

    Định điều cấm về sơn lăng. (Dựng cột đá làm giới hạn, trong giới không được chặt cây, đào đất lấy đá lấy củi, chăn trâu bò, đặt lò đốt than, phóng lửa đốt rừng. Bốn bề xung quanh lăng, nhân dân không được tự tiện vào trồng trọt cây vặt. Địa phận các xã hộ lăng, người xã khác không được đến để mộ. Ngoài lăng 5 trượng, quan viên đi qua phải ngả lọng xuống ngựa).

    Tổng trấn Gia Định là Nguyễn Hoàng Đức dâng biểu nói: “Nay Phó tổng trấn Trương Tấn Bửu và Tham tri Lê Bá Phẩm đều đã về Kinh, thần là kẻ thường tài, ở một mình ở nơi xung yếu, bận rộn, nhiều việc chồng chứa, xin chọn người làm phó”. Dâng biểu tâu. Vua bảo Nguyễn Văn Nhân rằng : “Gia Định là thành lớn ở phương Nam, lại có việc ngoại giao quan trọng, không có được người giỏi thì không xong”. Bèn lấy Thượng thư Lại bộ là Trịnh Hoài Đức làm Hiệp tổng trấn Gia Định. Sai Bảo hộ Chân Lạp là Trần Công Đàn lấy chức Tham tri Hình bộ lãnh Binh tào và kiêm lý Hộ tào. Vua nhân hỏi Trịnh Hoài Đức rằng: “Công Đàn đã về Gia Định thì trách nhiệm từ chương ở Nam Vang ai có thể sai được?”. Hoài Đức thưa có Tri bạ Lê Đăng Doanh. Bèn sai Đăng Doanh đi thành Nam Vang, theo Bảo hộ Lưu Phước Tường chuyên làm việc từ chương.

    Lấy Tri huyện Đoàn Khắc Cung làm Phó đốc học Gia Định.

    Lấy Thiêm sự Hộ bộ sung Hộ tào Bắc Thành là Bùi Phụ Đạo làm Cai bạ Biên Hòa, Tri phủ Kinh Môn là Lương Tiến Tường làm Thiêm sự Hộ bộ sung Hộ tào Bắc Thành.

    Định lại điều lệ thanh tra. Trước đây quan khâm phái thanh tra thường hay lề mề, sách nhiễu cung đốn. Vua hiểu rõ tệ ấy. Từ khi Lê Viết Nghĩa bị tội, bèn sai bộ Hộ chiếu theo dặm đường xa gần, công việc nhiều ít mà định trình hạn, cấp thêm lương tháng theo thứ bậc khác nhau. (Khóa thanh tra bốn năm tý ngọ mão dậu, ở Bắc Thành thuộc ty 30 người, trình hạn 3 tháng ; khoá thanh tra 4 năm thìn tuất sửu mùi, từ Quảng Đức vào Nam đến Quảng Ngãi, ra Bắc đến Thanh Bình, thuộc ty 25 người, Quảng Đức, Quảng Ngãi trình hạn đều 1 tháng, Quảng Trị trình hạn 1 tháng 15 ngày, Quảng Nam, Quảng Bình đều 2 tháng, Nghệ An, Thanh Hoa, Thanh Bình đều 3 tháng. Khóa thanh tra 4 năm dần thân tỵ hợi, từ Bình Định đến Gia Định, thuộc ty 24 người, Gia Định trình hạn 5 tháng, Bình Thuận, Bình Hòa, Bình Định đều 3 tháng, Phú Yên 2 tháng 15 ngày. Gia Định và Bắc Thành mỗi nơi đều 1 đốc biện, 1 thiêm sự. Phàm quan lại đi thanh tra đều được thêm lương tiền. Như thiêm sự lệ bổng mỗi tháng tiền 4 quan, gạo 4 phương, từ câu kê trở xuống mỗi tháng tiền 3 quan, gạo 2 phương, cho thêm mỗi tháng tiền 2 quan, gạo 2 phương, đều xem bổng mà cấp thêm ; ai chưa có lệ bổng thì cũng cấp như số).

    Sai Phạm Đăng Hưng kiêm lãnh Lại bộ, quản lý công việc Khâm thiên giám.

    Nghệ An đói. Hoãn thu tô thuế năm nay và lấy 30.000 hộc thóc kho giảm giá bán ra.

    Man Thuộc Vinh ở Quảng Ngãi xin nội phụ. Trấn thần tâu lên. Vua dụ rằng: “Man này không có tù trưởng thống suất, ví như chim muông tự đi tự lại, sao đủ tin được. Họ có lại thì nên thưởng cấp cho yên lòng, mà việc phòng bị ngoài biên chớ nên sơ hở”.

    Hai đạo Cam Lộ và Ai Lao đói. Hoãn thu thuế người Man năm nay.

    Đổi lại lệ thóc phụ hao về việc trưng thu cho Gia Định. ở Gia Định có ba hạng hộc, thuế ruộng dùng hộc lớn (mỗi hộc 75 thăng), ruộng núi và ruộng cỏ dùng hộc trung (47 thăng), ruộng đồn điền dùng hộc nhỏ (37 thăng 4 hợp), thóc phụ hao mỗi hộc đều 1 thăng. Đến nay đổi định theo lệ từ Bình Thuận trở ra Bắc, hộc lớn phụ hai thăng, hộc trung phụ 1 thăng 2 lẻ, hộc nhỏ phụ 1 thăng, để cho công bình.

    Chế thẻ [phù] rồng vàng cho Hoàng thái tử 1 cái, thẻ rồng mạ vàng cho các tước công mỗi người một cái, thẻ rồng bạc cho phẩm quan mỗi phẩm 10 cái, bài rồng binh cơ khu mật 3 cái.

    Tháng 12, biên lính mới mộ ở Bắc Thành quê ở Quảng Bình về Nam làm 4 đội Lạc võ thuộc Trung quân và bảy đội Kiên Nghĩa thuộc Hữu quân. Vua dụ thành thần rằng : “Đạo dụng binh chỉ quý ở tinh. Gần đây ở thành triệu mộ không phải không nhiều, nhưng sợ lính ứng mộ ấy sáng vào chiều ra, ngạch tuy có mà số không đủ, chợt khi có việc khó mà thu dụng. Từ nay triệu mộ xem xét rõ ràng kẻ giả dối, đừng để hại lương mà khổ dân”.

    Ngày Mậu tý, sai Hoàng thái tử yết lăng.

    Ngày Kỷ sửu, tế Chạp.

    Chuẩn định từ nay trở đi quan viên bị giáng bãi thì thu lại bằng sắc và phẩm phục.

    Sai Phó đô thống chế Hữu dinh quân Thần sách là Tôn Thất Bỉnh kiêm quản các đội Nội hầu, Tiểu sai, Thị trà.

    Chưởng cơ lãnh Trấn thủ Hải Dương là Trần Công Hiến chết. Công Hiến ở trấn thường cùng với đốc học Nguyễn Thể Trung và nho sinh trong hạt sưu tầm các sách sử và di văn của các nhà xưa, khắc bản in gọi tên là Hải Học đường.

    Sai Hữu tham tri Công bộ là Nguyễn Đức Huyên và Khâm sai chưởng cơ vệ úy vệ Phấn dực là Phạm Văn Tường đều quản việc Trường Đà.

    Hạ lệnh cho các thành dinh trấn phàm bắt được kẻ cướp mà tình tội đã rõ rệt rồi thì chém trước tâu sau. Nếu có tý gì khả nghi thì nên làm án mà đợi chỉ.

    Bọn giặc Thanh Hoa vài chục người họp ở Phố Cát, gặp lính tuần, chúng sợ chạy, bắt được một hòm văn thư ngụy trong đó ghi nhiều tên của giặc. Trấn thần đem việc tâu lên. Vua nói: “Đó chỉ là giấy tờ hão thôi”. Sai đốt đi, để cho lòng người được yên.

    Định phép giã luyện thuốc súng. (Diêm tiêu 11 cân 4 lạng, lưu hoàng 1 cân 8 lạng, than 2 cân 4 lạng, thành thuốc súng 13 cân 7 đồng 9 phân 4 ly).

    Vua xem bản đồ Châu Đốc, bảo các thị thần rằng : “Đất này nay mở đường sông để đi thẳng tới Hà Tiên, làm ruộng đi buôn đều được lợi cả. Sau này dân ở đông đúc, đất mở rộng rãi, có thể thành một trấn to lớn”.

    Gọi 6.850 người biền binh ở Thanh Nghệ, Bắc Thành và Thanh Bình về Kinh (Thanh Hoa 900 người, Nghệ An 2.100 người, Bắc Thành 3.710 người, Thanh Bình 140 người).

    Chính biên

    Đệ nhất kỷ - Quyển LV - Thực lục về Thế tổ cao hoàng đế

    Đinh sửu, Gia Long năm thứ 16 [1817] (Thanh ? Gia Khánh năm thứ 22), mùa xuân, tháng giêng, ngày Nhâm tý, tế xuân hưởng.

    Lại sai Gia Định lượng bắt lấy 1.000 người quân dân ở thành đắp bảo Châu Đốc, ủy cho Phó tướng Nguyễn Văn Xuân trông coi công việc.

    Vua bàn muốn lấy quân dân Chân Lạp đào vét đường sông Châu Đốc, Nguyễn Văn Nhân can rằng: “Việc đào sông là công trình to lớn. Nay dân nước Phiên mới phụ, nếu việc thổ mộc phiền nhọc, thần sợ họ kinh động mà công việc khó thành. Xin hãy tạm thôi”. Vua theo lời.

    Vua nước Chân Lạp là Nặc Chăn xin đi tuần trong nước, xét hỏi tình dân. Quan Bảo hộ Lưu Phước Tường đem việc tâu lên. Vua dụ rằng: “Thăm địa phương, xem phong tục cũng là việc đầu của người có nước, có thể theo lời xin được. Duy khi đi nên có nhiều binh phòng vệ để phòng việc chẳng hay”.

    Lấy Trấn thủ Yên Quảng là Lê Văn Tiến làm Trấn thủ Hải Dương, Vũ Văn Kế lại làm Trấn thủ Yên Quảng.

    Trấn thủ Sơn Nam thượng là Lê Công Lý về đinh ưu ; lấy án phủ sứ Hoài Đức là Nguyễn Bá Xuyến thay.

    Khởi phục cho Ngô Đình Giới làm Ký lục sung chức Ty giảng cho hoàng tử. Trước vua cùng Trịnh Hoài Đức cùng bàn chọn nho thần. Hoài Đức tâu nói: “Đình Giới học hành thuần chính, có thể tuyển vào đấy được. Nhưng trước làm Ký lục Bình Định đã bị cách chức”.

    Vua nghĩ hồi lâu nói: “Tội của Đình Giới là vì sơ suất, trẫm sẽ dùng lại”. Bèn có lệnh ấy. Sau vì Đình Giới suy yếu, sai bộ Lễ chọn ở viện Hàn lâm và viện Cống sĩ mỗi viện một người sung làm trực học.

    Lấy Câu kê Ngô Văn Duyệt làm Thiêm sự Lễ bộ, Hàn lâm viện Ngô Bá Nhân và Lê Quang Thực làm Thiêm sự Hộ bộ, Cai án Trần Văn Thông và Tri bạ Trần Bá Giáo làm Thiêm sự Công bộ.

    Lấy Thiêm sự Công bộ là Nguyễn Kim Truy làm Thiêm sự Hộ bộ.

    Lễ bộ tâu nói: “Năm nay mồng 1 tháng 4 có nhật thực, mồng 1 tháng 10 lại có nhật thực, hai lễ tế hưởng mùa hạ mùa đông đều xin đổi lại sau ba ngày mà làm lễ”. Vua y lời tâu. Sắc từ sau có lễ miếu hưởng, nếu gặp nhật thực thì đều lui lại 3 ngày.

    Dựng hành cung ở các trấn Phú Yên, Bình Hòa, Bình Thuận, sai trấn thần lấy binh dân làm việc, chi cấp cho tiền gạo.

    Cấm dân Hán [Việt] không được lãnh trưng ở các sở thủy lợi ở nước Chân Lạp.

    Vua thấy đất đai đạo Châu Đốc mầu mỡ mà nhân dân thưa ít, nghe An phủ Chân Lạp là Diệp Hội (người Thanh làm quan Chân Lạp) là người nhanh nhẹn giỏi giang, xử sự cũng được lòng người, bèn dùng làm Cai phủ Châu Đốc, sai chiêu tập dân Hán, dân Thổ và người Thanh đến ở, cho họ tụ họp đông đúc. Phàm kẻ làm nghề trồng cây, chăn nuôi, buôn bán, thợ gốm, thợ rèn đều cứ theo nghiệp mình, kẻ cùng thiếu thì nhà nước cho vay. Lại xuống chiếu dụ thành thần Gia Định rằng: “Nay mới phủ dụ chiêu tập, nên nhân việc có lợi mà chỉ dẫn để cho họ yên nghiệp ; đợi sau mọi việc xong xuôi thì làm biểu tâu lên”.

    Bộ Lễ tâu nói: “Từ xưa các đế vương đời nào cũng có quốc húy(1. Quốc húy: Tên húy cả nước phải kiêng, viết đến thì bớt nét đi hoặc đổi dùng chữ khác, đọc đến thì phải đọc trại đi. 1) để dạy bảo cho thiên hạ, như thế là nêu rõ nghĩa tôn người đáng tôn, xem trọng thể thống triều đình, bảo cho dân biết kính. Nay lập ngôi thái tử danh phận đã định, nghĩa lớn ở đấy xin kính đưa tôn tự để thần dân biết mà kính tránh. Lại kính xét sử nhà Minh ở tờ khải mà thần dân trong ngoài dâng lên Hoàng thái tử đều phải xưng thần, thế là để tỏ danh phận chính đáng. Xin từ nay tờ khải của thần dân đều theo như điển nhà Minh. Còn sinh nhật Hoàng thái tử gọi là tiết Thiên Xuân, xin cứ trước một ngày và chính ngày hôm ấy thì nêu rõ điều răn cấm cho trọng điển lễ”. Vua y lời tâu.

    Cho các trấn Bắc Thành thuế thiếu từ năm ất hợi [1815] trở về trước, chia ra ba năm mà nộp kèm.

    Tham hiệp Hưng Hóa là Nguyễn Đức Tư chết. Lấy Tri phủ Thuận An là Nguyễn Kim Bảng làm Tham hiệp Hưng Hóa.

    Tháng 2, chuẩn định rằng các quân dinh và các thành dinh trấn đạo, từ thư ký đến thủ hợp có khuyết thì cho thống quản và thượng ty được đề cử, tạm cấp văn bằng trong ba năm không có lỗi lầm thì tâu xin bổ thụ. Các quân dinh thì từ chánh phó vệ úy trở xuống mà được chọn bổ vào những phẩm trật ấy thì do thống quản cấp bằng, không được xin phiếm đổi cấp

    sắc thị.

    Định lệ xử phân tội chủ thủ đánh mất tù. Quan Bắc Thành tâu nói : “Năm trước ở thành đã có án xử rằng phàm người canh giữ tù tội đồ mà để trốn thoát thì chiếu theo hạn tội của tù mà bắt sung dịch. Nay theo luật mới tù tội đồ tội lưu mà trốn mà chủ thủ và người áp giải để mất không biết, mất 1 tên thì xử 60 trượng, mỗi một tên nữa thì tội thêm 1 bậc, tội chỉ đến 100 trượng là cùng. Thiết nghĩ rằng canh giữ để mất tù mà xử trượng thì người ta coi nhẹ việc phạm pháp, nhiều khi cố ý thả tù. Xin y theo án xử năm trước để người ta biết sợ mà tránh”.

    Vua bảo bầy tôi rằng: “áp giải tội phạm, ngày đi đêm giữ thì tình có thể thương được, cho nên tội chỉ mãn trượng [100 trượng] thôi. Nếu là ngục, hoặc nơi đày, chủ thủ không vất vả lắm, mà canh giữ không cẩn thận, đến nỗi mất tù so với người áp giải có khác, tội chỉ mãn trượng thì nhẹ quá, nhưng bắt đồng tội với tù thì lại nặng quá. Vậy đặc chuẩn từ nay áp giải để mất tù thì y luật xét xử, chủ thủ để mất tù thì chiếu theo tội của tù trốn giảm đi hai bậc mà xử”.

    Quảng Nam có sâu keo. Quảng Trị, Quảng Bình, Nghệ An gạo đắt. Vua cùng bầy tôi bàn việc phát chẩn cho vay. Dụ rằng : “Phép phát chẩn và cho vay, các đời vẫn có, nhưng đều chưa có kế hay. Nay nên sai quan sở tại tùy nghi đặt kế mà làm, lượng mà phát chẩn, cốt sao cho những dân góa vợ, góa chồng cô độc khốn cùng, đều thấm nhuần ơn huệ, như thế mới được”. Bèn sai lấy thóc kho, Quảng Trị 5.000 hộc, Quảng Bình 10.000 hộc, Nghệ An 5.000 hộc, các quan dinh trấn đều thân đi phát chẩn cho dân nghèo. Vua lại cùng bầy tôi nói đến nạn đói kém, và bảo rằng: “Đói rét của dân cũng như ở thân trẫm, lòng thương xót không thể thôi được”.

    Vua nước Chân Lạp là Nặc Chăn đem việc người bề tôi là Cao La Hâm Biện những tệ phi pháp tâu xin xét định. Vua nói: “Đấy là việc của nước Phiên, đã có chính lệnh của nước Phiên, sao phải xin chỉ?”. Chiếu cho vua Phiên y theo phép nước mà xử định.

    Ngày Tân mão, tế Trời Đất ở đàn Nam giao.

    Hạ lệnh từ nay các bộ viện ty cục và các thống quản, thượng ty các quân dinh và các địa phương hằng năm cứ đến tháng 10 thì làm sách lý lịch các quan viên sở thuộc (từ hạng vị nhập lưu trở lên), hai bộ Lại Binh xét rồi tâu lên.

    Lấy Cai bạ Chính dinh Tri tàu vụ là Phạm Nhữ Phong làm Cai bạ Quảng Đức, Tham mưu là Nguyễn Vinh Xiêm làm Ký lục Quảng Ngãi.

    Lấy Ký lục Quảng Bình là Hồ Công Thuận làm Cần chánh điện học sĩ sung chánh sứ sang nước Thanh, Tham hiệp Lạng Sơn là Nguyễn Huy Trinh và Hàn lâm viện Phan Huy Thực sung giáp ất phó sứ. Dụ rằng: “Chuyến đi này nên cùng mưu hợp sức với nhau, để trọng quốc thể, giữ vững bang giao”. Bọn Công Thuận xin mỗi người cử một người thân và xin chọn người hành nhân cũ để đi theo. Vua nói: “Đi sứ là việc công triều đình không thiếu chi người, sao lại phải người thân và người cũ?”. Không cho. Sắc cho từ nay sứ bộ không được lấy người thân và hành nhân cũ mà cử vào.

    Lấy Thiêm sự Hình bộ Nguyễn Hựu Nghi làm Ký lục Quảng Bình.

    Bắc Thành bắt được sáu con của ngụy Tư khấu Định, đem tâu. Vua nói: “Tội của cha chúng có can gì đến chúng?”. Sai tha.

    Hạ lệnh cho tấn thủ Thuận An xét các thuyền ra vào mà nên báo thì do bộ Công chuyển tâu, không phải báo với Tàu vụ và quan công đường.

    Giặc người Thanh là Cao La Y chiếm giữ đất Lâm An. Người Thanh đưa thư sang Bắc Thành yêu cầu giữ địa hạt mà ngăn chặn. Việc tâu lên. Hạ lệnh cho ủy quan binh đóng giữ Hưng Hóa, mà hạ lệnh cho trấn thần đi các nơi yếu hại các châu Chiêu Tấn, Thủy Vĩ, Lai Châu mà phòng giữ nghiêm ngặt. Rồi La Y bị người Thanh bắt được, ta bèn rút quân.

    Tháng 3, Hiệp trấn Thanh Hoa là Võ Văn Doãn chết. Cho 30 lạng bạc, sai trấn thần trông giữ việc tang.

    Lấy Hữu tham tri Binh bộ lãnh Binh tào Bắc Thành là Võ Đức Thông lãnh chức Hiệp trấn Thanh Hoa, Hữu tham tri Binh bộ là Trần Quang Tĩnh thay lãnh Binh tào.

    Lấy Thuộc nội cai đội Lê Văn Ngôi làm Thủ ngự cửa biển Thuận An, Thị thư Trần Chấn làm Hiệp thủ.

    Quan Bảo hộ Chân Lạp là Lưu Phước Tường trước làm Trấn thủ Vĩnh Thành, cùng với Cai bạ Lê Đắc Tần, Ký lục Trần Bá Bảo, nhân việc công bắt đóng góp, tham tang tiền đến vài vạn. Đến nay việc phát giác. Vua bảo bầy tôi rằng: “Trẫm yêu dân như con, mà không cai trị một mình được, cho nên đặt chức thú mục để vỗ nuôi dân. Nay quan lại Vĩnh Thanh như thế, rất không xứng chức”. Sai thành thần xét trị.