087. Trang [0948-0958] - @botihell (done)

22/12/15
087. Trang [0948-0958] - @botihell (done)
  • Trong sách PDF thiếu 1 đoạn ở trang [0950-0951]. Đoạn từ Bảy sách Man Cam Lộ vào cống mừng đại lễ ......... đến nói với Thống chế Thị trung là Hoàng Công Lý rằng:



    Sai Tham tri Hình bộ lãnh Hình tào thành Gia Định là Trần Minh Nghĩa làm Ký lục Vĩnh Thanh.

    Dựng xưởng súng tả hữu.

    Người Man ba động Lạc Hoàn sai sứ đến cống. Sứ đến Nghệ An dâng biểu xin đến Kinh. Vua không cho.

    Phát tù tội lưu các địa phương đến Tam Độc [Ba Ngòi] trấn Bình Hòa. Vua bảo bộ Hình rằng: “Đất ấy vốn mầu mỡ, trước có dân làm ruộng để sống. Từ sau binh lửa dân vật điêu hao, nên thành hoang rậm. Nay đưa người đến ở cũng có cách để sống”. Rồi hạ lệnh cho trấn thần, phàm tù tội lưu đưa đến nơi nào thì tha xiềng khóa (tù tội lưu đều quàng một vòng sắt ở cổ có buộc bài sắt, bài có khắc hai chữ “lưu tù”), cấp cho trâu và ruộng để khai khẩn ruộng đất, lấy làm mà ăn. Nếu có tù trốn thoát, người giám thủ khỏi tội.

    Vét đường sông ở ngoài Kinh thành, từ phía tây nam thành thông đến Long Hồ, Trúc Lâm (tên hai xã).

    Hạ lệnh cho tấn thủ ven biển các địa phương, phàm có thuyền vận tải đi qua phần biển và thuyền giặc lảng vảng thì cho làm tập tâu đệ lên ngay, đừng chờ báo dinh trấn chuyển tâu để đến nỗi chậm trễ.

    Đặt bảo Nhân Lộ (tên xã thuộc huyện Vĩnh Lộc) ở Thanh Hoa. Bảo có lấn vào ruộng của dân thì trừ thuế.

    Quản Tàu vụ là Nguyễn Đức Xuyên tâu nói: “Thuế thuyền Hải Nam hơi nhẹ, thường chở người và hàng ở tỉnh khác để mưu lợi nhiều. Xin từ nay thuyền nước Thanh đến buôn bán, nếu có chở người và chở hàng hóa của tỉnh Quảng Đông, Phước Kiến thì chiếu theo lệ thuế thuyền hai tỉnh ấy mà đánh. Nếu chở người và hàng hóa xen lộn thì cứ người và hàng tỉnh nào nhiều thì đánh theo lệ thuế tỉnh ấy”. Vua cho là phải.

    Người xã Thôi Ngôi (thuộc huyện Đại An) trấn Sơn Nam hạ tố cáo việc thu thuế ruộng lậu, ruộng vẫn có cày cấy mà xã trưởng thu thuế riêng, không đem nộp. Vua bảo bộ Hộ rằng: “Ruộng ấy không nên theo lệ, ai trưng trước thì được”. Sắc đem ruộng ấy cấp cho chủ ruộng và truy thu ba năm thuế, trị xã trưởng 100 trượng. Lại bắt thu ở xã trưởng và chủ ruộng mỗi mẫu 3 quan để làm tiền thưởng cho người tố cáo. Rồi gửi cho khắp các thành dinh trấn biết, từ nay có án lậu ruộng thì chiếu theo lệ ấy mà làm.

    Mùa hạ, tháng 4, ngày Giáp tuất, mồng 1, có nhật thực.

    Vua cùng bầy tôi bàn về lịch pháp rằng: “Phép tính lịch rất là tinh vi, duy có Nguyễn Hữu Thận đủ học thuật để biết được”.

    Tham hiệp Thanh Hoa là Trấn Đình Anh ốm phải nghỉ việc; lấy Thiêm sự bộ Hộ là Nguyễn Kim Truy làm Tham hiệp Thanh Hoa.

    Vua thấy biền binh các cơ Ngũ quân Tượng quân ở Bắc Thành đóng thú ở Gia Định đã lâu năm, sai triệu hết về Kinh, cho về nghỉ ngơi, cấp thêm lương tiền theo thứ bậc khác nhau.

    Ngày Đinh sửu tế hạ hưởng. Sai Hoàng thái tử nhiếp tế ở Thái miếu.

    Bảo Châu Đốc làm xong. Sai trấn thành Gia Định điều động 100 lính cơ ở bốn trấn, 200 lính đồn Uy viễn, chọn người giỏi cai quản để đóng giữ đất ấy. Lính thì ba tháng một lần đổi, quản thủ thì một năm một lần đổi. Lại sai chở 40 cỗ súng gang và thuốc đạn chia đặt ở bảo sở để nghiêm việc phòng giữ.

    Vua từng bảo bầy tôi rằng: “Ở Phú Xuân nhân sĩ đông đúc, phong tục thuần lương, các thánh đóng đô ở đấy, thực là nơi đại đô hội bậc nhất của nước Nam. Gia Định đất đai màu mỡ, các thánh mở mang chưa đến trăm năm mà binh mạnh của giàu, trẫm dùng đấy để đánh giặc Tây Sơn, đã từng lấy trăm người địch được vạn người. Sau vài trăm năm nữa ngày càng thêm giàu mạnh, không thể lường được”. Lại nói rằng: “Châu Đốc, Hà Tiên bờ cõi không kém Bắc Thành”.

    Quân Bắc Thành tâu nói: “Hai phủ Thượng Hồng và Hạ Hồng trấn Hải Dương, ruộng mùa nhiều mà ruộng chiêm ít, xin chiếu thóc trong một năm chia làm 10 thành, mùa hạ thu 7 thành bằng tiền, 3 thành bằng thóc, mùa đông thu 3 thành bằng tiền, 7 thành bằng thóc, để tiện cho dân”. Vua y lời tâu.

    Cho quan viên văn võ lãnh trước gạo lương. Bộ Hộ thấy kho lương ở Kinh chứa đã đầy ứ, xin theo lệ trước, cho các quan lãnh trước lương tháng. Vua y cho. Cho từ ngũ phẩm trở lên lãnh 9 tháng, từ thất phẩm trở lên lãnh 5 tháng.

    Lấy Tri huyện Hưng Nhân là Đặng Huy Dư làm Trợ giáo Sơn Nam hạ, Hương cống đời Lê là Trần Danh Diệu làm Trợ giáo Hải Dương.

    Tiết Thiên Xuân (ngày 23), các quan mặc triều phục, đến điện Thanh Hòa chúc mừng. Từ đấy lấy làm thường lệ.

    Hiệp trấn Cao Bằng là Nguyễn Văn Thục ốm phải nghỉ việc; lấy Tham hiệp Trần Văn Thái làm Hiệp trấn.

    Quảng Trị có sâu keo. Lúa ruộng bị ổn hại. Ký lục Nguyễn Duy Hòa tự đem án tâu lên, Lưu thủ Phan Tiến Quý không dự. Vua nói: “Việc dân là quan trọng, Duy Hòa sao dám một mình đề tâu? Làm việc như thế chẳng cũng sơ suất khinh mạn sao?”. Duy Hòa sợ hãi xin chịu tội. Vua tha.

    Hạ lệnh cho Hữu tham tri Binh bộ lãnh Binh tào Bắc Thành là Trần Quang Tĩnh kiêm lý đê chính.

    Hữu Tham tri Hình bộ lãnh Hình tào Bắc Thành là Hoàng Ngọc Uẩn chết; lấy Hữu Tham tri Hình bộ là Nguyễn Hoài Quỳnh lãnh Hình tào Bắc Thành.

    Xây thành gạch trấn Bình Định. Trấn thần tâu xin hoãn bắt lính trong 3 tháng, để dân yên tâm phục dịch. Vua y cho. Lại dụ bảo không nên đốc thúc quá để sức dân được thư.

    Tổng trấn Gia Định là Nguyễn Hoàng Đức có bệnh, vua cho một cân nhục quế.

    Vua bảo Phạm Đăng Hưng rằng: “Trẫm nhớ công thần Vọng Các, muốn tập ấm cho con cháu họ, để cùng nước cùng vui. Người có tài thì sẽ dùng, người không có tài thì cũng cho đời đời được giữ ấm tước, để giữ đạo trung hậu”. Lại nói rằng: “Nguyễn Văn Trương và Hà Hỷ Văn đều có công to với nước. Tuy không có công cầm cương ngựa đi theo, cũng cho liệt vào sổ công thần Vọng Các để cho vẻ vang”. Bèn sai xét dùng con cháu công thần Vọng Các. Chiếu rằng: “Trẫm nhớ bề tôi ứng nghĩa từ trung hưng đến nay, đã nhiều lần gia ân huệ, người sống có danh sang trọng, người chết có hiệu vẻ vang. Nhưng đương lúc mới định, chỉ nghĩ chính sự mà chưa kịp làm việc khác. Nay kỷ cương tạm định, càng nghĩ đến người công lao cố cựu để mong cùng vui. Vậy hạ lệnh cho quân dinh trong ngoài và các thành dinh trấn, phàm ai có công Vọng Các thì khai rõ lý lịch người ấy và con cháu trưởng, làm thành danh sách tâu lên, trẫm thân quyết định, lượng xét cho tập ấm để rõ ân điển”.

    Tha giảm tô thuế vụ chiêm năm nay cho các địa phương. Chiếu rằng: “Chăm việc gốc thương nhân dân là việc trước tiên trong chính sự của vương giả. Gần đây các địa phương ít mưa, thóc lúa kém thu, trẫm rất thương lo. Vậy tha giảm cho bốn dinh trực lệ 5 phần 10 tô ruộng, 4 phần 10 thuế thân; Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên 4 phần 10 tô ruộng, 3 phần 10 thuế thân; Bình Hòa, Bình Thuận, Gia Định tô và thuế đều 5 phần 10; Nghệ An 5 phần 10 tô ruộng, 3 phần 10 thuế thân; Thanh Hoa 3 phần 10 tô ruộng; Bắc Thành 2 phần 10 tô ruộng”.
    Bảy sách Man Cam Lộ vào cống mừng đại lễ sách lập Hoàng thái tử. Vua bảo thị thần rằng: “Man ấy ngu xuẩn chất phác, từ tiên triều đến giờ, hơn hai trăm năm chưa từng ngang ngạnh, hằng năm vẫn nộp cống thuế, trẫm từng đã xuống chiếu xá cho mà họ vẫn cố xin giữ như cũ, thực đáng yêu đáng thương”. Sai cho bạc lụa, đãi yến rất hậu. Khi về, Hoàng thái tử cũng hậu thưởng cho.

    Cho thổ tù đạo Mường Vang là Quang Lung làm chánh sa trưởng.

    Cho các trấn ở Bắc Thành nộp tô ruộng thiếu năm trước bằng tiền; tô vụ chiêm năm nay phải nộp cũng cho nộp thay bằng tiền, Sơn Tây, Kinh Bắc thì 6 phần 10, Sơn Nam thượng, hạ, Hải Dương, Yên Quảng thì 4 phần 10.

    Tháng 5, tiết Đoan Dương, các quan mặc triều phục đến điện Thanh Hòa chúc mừng. Từ đấy lấy làm lệ thường.

    Nguyễn Văn Thành phải tội tự sát. Trước là Bắc Thành xử án Lê Duy Hoán, án làm xong đưa về Kinh, lại sai bộ Hình hỏi lại. Duy Hoán bèn nói Văn Thuyên có âm mưu với hắn gửi thư bảo làm phản. Bộ Hình đem việc tâu. Vua nói: “Văn Thuyên ở trong ngục làm sao bảo người khác vì mình mà làm phản được? Lời ấy lại giống trẻ con nói đùa, vậy sai các nội thần hội bàn xét đến cùng cho rõ tội trạng”. Nguyễn Văn Nhân, Nguyễn Đình Đức đều nói: “Bọn kia ngầm mưu làm càn ngay từ ngày Văn Thành còn làm Tổng trấn Bắc Thành, chứ không phải đợi khi đã phải tội rồi sau mới gởi thư”. Vua nhân bảo Phạm Đăng Hưng rằng: “Trẫm từ lúc đất một thành, binh một lữ, gian nan trăm trận để có ngày nay không phải là dễ dàng. Nguyễn Văn Thành ngôi cao nhất trong hàng bầy tôi, con đỗ Hương cống mà lại đi giao thiệp bậy mà kết bè đảng, toan muốn làm gì? Xưa Hoài Nam vương(1. Hoài Nam vương : Hán cao tổ phong cho con cháu tên là trường làm Hoài Nam vương, sau làm phản. 1) nhà Hán chiêu nạp nhiều tân khách, sau đến bị tội phải giết. Từ xưa bề tôi gian giảo nhòm ngó ngôi vua, đại khái đều như thế cả. Đăng Hưng tâu rằng: “Kẻ sĩ áo vải còn không nên giao du bậy huống chi là con cháu công thần? Tội vạ ngày nay của Văn Thành là tự làm ra”. Vài ngày sau, đình thần lại tâu rằng: “Xét lại lời cung của Duy Hoán thì tình trạng làm phản của cha con Văn Thành đã rõ. Xin trị tội”.

    Vua nói: “Trẫm đãi Văn Thành không bạc, nay hắn tự mình làm nên tội, thì phép công của triều đình trẫm cũng không thể làm của riêng được”. Bèn sai bắt Văn Thành và con giam ở nhà quân Thị trung. Bầy tôi họp ở Võ công thự để xét hỏi Văn Thành. Hỏi: “Có làm phản không?” Thành nói: “Không”. Hỏi : “Có dự biết không?” Thành nói: “Không”. Văn Thành trả lời rồi đi ra, sắc mặt bừng bừng, trở về nhà quan, nói với Thống chế Thị trung là Hoàng Công Lý rằng: “Án đã xong rồi, vua bắt bề tôi chết, bầy tôi không chết không phải là trung”. Rồi Thành đi nằm hồi lâu, uống thuốc độc chết. Việc tâu lên, vua triệu Hoàng Công Lý hỏi rằng: “Văn Thành khi chết có nói gì không?” Công Lý đem hết lời Thành nói thưa lên. Vua giận nói rằng: “Văn Thành không biện bạch mà chết, sự nhơ bẩn càng rõ rệt”. Bỗng có quân lại nhặt được tờ di chiếu trần tình của Văn Thành ở nhà quân đem dâng. Vua cầm tờ biểu khóc to lên đưa cho bầy tôi xem mà dụ rằng: “Văn Thành từ lúc trẻ theo trẫm có công lao to. Nay nhất đán đến nỗi chết, trẫm không bảo hộ được ấy là trẫm kém đức”. Nhân quay hỏi Phạm Đăng Hưng rằng: “Văn Thành chết, nên lấy lễ nào mai táng”. Đăng Hưng thưa: “Táng như thường dân”.

    Vua yên lặng. Sai một cai đội Trung quân và 30 binh lính làm việc tang, cho 500 quan tiền cấp trả mũ áo, cho thêm ba cây gấm Tống, 10 tấm vải và 10 tấm lụa. Các con Thành bị giam tha ra hết.

    Lê Duy Hoán và Nguyễn Văn Thuyên bị giết. Nguyễn Văn Thành chết rồi, đình thần đem án phản nghịch dâng lên. Duy Hoán và Văn Thuyên đều bị xử lăng trì; Võ Trinh bị tội a tòng, xử trảm giam hậu; Tống Phước Ngoạn bị tội kiện điêu, xử trượng và cách chức; Trần Ngọc Nhữ bị tội vu cáo, xử tội lưu tột bậc. Nguyễn Trương Hiệu cáo giác, thưởng 500 quan tiền. Nguyễn Văn Nhân xin đình thưởng, vua không nghe.

    Đem tội trạng Lê Duy Hoán bố cáo khắp trong ngoài.

    Chiếu rằng: “Vương giả lúc mới được nước, phải tôn trọng triều đại trước, là giữ đạo trung hậu. Trẫm đã xem khắp xưa nay, chính muốn sánh với hiền triết đời trước. Nghĩ từ nhà Lê suy tàn, ngụy Tây nổi loạn, một thước đất, một người dân ở Bắc Hà đều không phải của nhà Lê nữa, kể hơn mười năm. Trẫm kính đem uy trời quét sạch yêu nghiệt, vậy là lấy được thiên hạ từ giặc Tây Sơn chứ không phải lấy ở họ Lê, mà con cháu họ Lê cũng nhờ đấy mà rửa hận cho ông cha được. Sau khi đại định, cũng sai lập miếu nhà Lê, cấp cho tự dân tự điền, lại chọn con cháu để giữ việc thờ cúng. Duy Hoán lúc còn trẻ dại, lưu lạc nơi mường mán, trẫm hỏi biết là dòng dõi họ Lê, đặc sai triệu về phong tước cho là thượng công, hậu cho lương lộc để phụng thờ họ Lê, cùng nước cùng vui. Phàm con cháu họ Lê đều cấp gạo lương nuôi đủ. Việc đãi ngộ con cháu họ Lê người có tai mắt đều nghe thấy cả. Thế mà Duy Hoán lại chứa lòng gây họa cùng với đứa con phản nghịch của Nguyễn Văn Thành là Văn Thuyên giao thông mưu phản. So với tình thì đem oán báo đức, xét về luật thì là bầy tôi phản vua, tội vô đạo này không thể tha được. Vì cớ là con cháu triều đại trước nên trẫm để chậm lại hàng tháng không nỡ xử tội, nhưng đình thần xin thi hành pháp luật để đúng phép nước. Nên đã đem Duy Hoán hành hình. Còn các chi họ Lê đều được khoan hồng tha cho. Trẫm nghĩ Duy Hoán âm mưu phản nghịch tự mình nên tội, nhưng miếu đình họ Lê há nên bỏ trống, nên lại sai chọn người có thể phụng thờ họ Lê cho giữ việc phụng thờ, để rõ cái hậu ý của trẫm nối giữ dòng dõi đã tuyệt. Vậy bố cáo cho thần dân đều nghe biết”.

    Đặt thêm đội Hùng bộ thành Nam Vang, mộ dân Hán [Việt] sung vào.

    Sai thủy quân dựng xưởng thuyền, thưởng hơn 300 quan tiền.

    Thổ phỉ ở Thanh Bình là Quách Công Thận cướp bóc dân ở ven núi. Trấn thần Thanh Hoa nghe tin, tâu xin đem quân đánh.

    Chiếu trả lời rằng: “Lũ giặc Sơn Âm lúc ẩn lúc hiện không thường; đất ấy núi khe hiểm trở, lại thông với các địa đầu Sơn Nam thượng, Sơn Tây, Hưng Hóa. Nếu dò xét chưa đích xác đã vội xuất quân, thì chưa thuộc đường, không quen nước, lại thành mệt nhọc. Nay nên dò cho biết rõ bọn ấy đi đâu tới đâu rồi dùng người thổ sở tại cho vào bọn, để xem tình hình động tĩnh. Nếu có cơ thừa được thì mật báo trước cho Bắc Thành để hội đánh. Lại nên đòi họp binh hạ ban và thổ binh để phòng điều khiển, cốt sao trọn vẹn muôn phần, đánh là hẳn được. Không thì cứ yên lặng để chờ, chớ nên khinh cử”.

    Sông Bến Nghé ở Gia Định nước trong suốt 12 ngày. Trước kia, khi vua lấy lại thành Gia Định nước sông đã trong; đến nay Hoàng thái tử mới lập, nước sông lại trong, người đều cho là ứng điềm thánh nối thánh.

    Tháng 6, Trấn thủ Vĩnh Thanh là Nguyễn Văn Triêm ốm phải nghỉ việc; lấy Chưởng cơ Nguyễn Văn Thụy lãnh Trấn thủ Vĩnh Thanh.

    Vua dụ rằng: “Trấn Vĩnh Thanh đất giáp nước Chân Lạp, điều cốt yếu trong việc phủ trị là sao cho trong cõi được yên, nước ngoài phải phục, phải cố gắng đấy”.

    Sai Phó quản đồn Uy viễn là Hồ Văn Thất đóng giữ bảo Châu Đốc, Khâm sai cai cơ chánh quản cơ Gia dũng tả là Võ Văn Sáng quản thủ ba đạo Tân Châu, Chiến Sai và Hùng Ngự.

    Thuyền Mã Cao đậu Đà Nẵng, đem địa đồ đảo Hoàng Sa dâng lên. Thưởng cho 20 lạng bạc.

    Chuẩn định thuế sản vật biệt nạp của các địa phương, nhất thiết theo như lệ đòi thu tiền thóc mà làm.

    Vua nước Chân Lạp là Nặc Chăn gửi thư đến Gia Định, xin thân hành đến thành hỏi về chính sự. Thành thần viết thư trả lời nói: “Chính sự nước Phiên đã có quan bảo hộ có thể giúp để bàn bạc. Huống chi sự biến loạn ở trong nước mới yên, lòng dân mới phụ, không nên đi xa.” Lại đem việc ấy tâu lên.

    Xuống chiếu trả lời rằng: “Vua Phiên muốn đến hỏi về chính sự, thành đem việc thần dân hệ thuộc để từ, lý thì phải đấy. Nhưng vua Phiên gần đây lại chỉ cẩu thả, lười về chính trị, nên nhân lúc đến mà thúc đẩy dìu dắt đến chỗ siêng năng. Nay xin phục thư y lời đã xin. Nếu vua Phiên đến thành thì nên lấy điều lợi về đào sông Châu Đốc mà bảo, khiến quy hoạch trước, đợi ngày chiếu văn đến thì phát ngay quân dân ra góp sức để đào, để chóng xong việc”.

    Định thuế người Man ở ba đạo Đồng Môn, Hưng Phước, Băng Vột trấn Biên Hòa đều cho nộp thay bằng tiền. (Chiêng đồng 30 chiếc, mật ong 30 cân, chiếu 22 đôi, đều chiểu giá nộp tiền).

    Sai bọn Hữu tham tri Công bộ Nguyễn Đức Huyên và Tả tham tri Đoàn Viết Nguyên làm sách Duyên hải lục, phía nam đến Hà Tiên, phía bắc đến Yên Quảng, phàm các cửa biển, mực nước khi triều lên triều xuống sâu nông thế nào, dặm đường xa gần bao nhiêu, đều chép cả. (Làm hai quyển, hợp 4 dinh 15 trấn; cửa biển 143 chỗ, lấy 540 trượng là một dặm, thành số hơn 5.902 dặm).

    Thuyền sứ nước Xiêm sang nước Thanh, gặp gió đậu vào Đà Nẵng. Rồi thuyền ấy lại bị cháy mất hết cả. Việc tâu lên. Vua nói rằng: “Thuyền sứ giả bị cháy cũng như thuyền buôn bị nạn”. Sai dinh thần Quảng Nam cấp cho gạo lương hơn 200 phương.


    CHÍNH BIÊN

    ĐỆ NHẤT KỶ – QUYỂN LVI

    THỰC LỤC VỀ THẾ TỔ CAO HOÀNG ĐẾ



    Đinh sửu, Gia Long năm thứ 16 [1817], mùa thu tháng 7, ngày mồng 1, tế thu hưởng. Sai Hoàng thái tử nhiếp tế ở Thái miếu.

    Lấy Phó quản cơ Trung thủy Thủy quân là Phan Văn Thọ làm Quản cơ cơ Trung tiệp, đem lính cơ đi thú ở Nghệ An.

    Nước Chân Lạp sai sứ đến chầu.

    Vua bảo bộ Lễ rằng: “Nước Phiên hằng năm đến chầu là chức phận con tôi, không có như sứ giả đến cống. Chỉ sai cấp cho tiền gạo. Khi sứ giả về, vua dụ rằng: “Trẫm sắp đào sông Châu Đốc để thông tới Hà Tiên, lợi của nước ngươi cũng là lợi cho nông thương. Về bảo với chúa ngươi nên hiểu ý ấy”.

    Hạ lệnh cho các địa phương đóng thuyền hiệu, một chiếc thuyền cấp 200 quan tiền. (Bình Định, Quảng Nam, Nghệ An mỗi trấn 10 chiếc, Quảng Bình, Quảng Ngãi, Phú Yên, Bình Hòa, Bình Thuận đều 5 chiếc, Bắc Thành 29 chiếc).

    Dinh Quảng Đức có người tù bị thích chữ đày đi Hà Tiên, chưa đưa đi lại đổi đi Bình Hòa. Hình bộ Tham tri Lê Bá Phẩm lại sai thích chữ lại. Việc đến tai vua. Vua khiển trách rằng: “Ngươi là hình quan mà không biết nên xét cẩn thận. Người không phải là gỗ đá sao không nghĩ đến sự đau đớn của người ta?”. Sắc cho các thành dinh trấn từ nay án xử tội sung quân và tội lưu, cuối năm làm danh sách tâu lên đợi định chỗ đày, rồi sau mới thích chữ. Phép thích chữ thì bên tả thích tội danh, bên hữu thích chỗ đày, chỉ lấy bốn chữ làm hạn.

    Vua cùng với các bầy tôi bàn về chính thể các đời trước, bảo Phạm Đăng Hưng rằng: “Pháp độ triều Hán nghiêm mật, so với các đời thực là nghiệt hơn.”

    Nghệ An động đất.

    Cai bạ Phú Yên là Trần Văn Đại về đinh ưu; lấy Thiêm sự Binh bộ là Hoàng Công Thanh làm Cai bạ Phú Yên.

    Nguyễn Văn Nhân có bệnh, vua cho long diên hương.

    Lưu thủ Quảng Bình là Phan Văn Thúy và Cai bạ là Nguyễn Văn Quang hặc tâu Ký lục Nguyễn Hựu Nghi vét riêng lương tiền, nghiêm thúc thuế khóa, và cùng Tri huyện uống rượu đánh bạc. Vua nói rằng: “Của nước là quan trọng, lúc mới đến chỗ làm quan không thể không kiểm điểm được. Thuế khóa đã có trình hạn, cũng không thể để cho chậm trễ. Dinh thần với huyện thần chức phận có khác, nhưng cũng đều là bề tôi của vua, cùng nhau uống rượu vui chơi, thì không có lỗi gì; đánh bạc mà mở sòng đánh được thua to thì có tội, còn khi nhân lúc rỗi đánh chơi làm vui thì pháp luật cũng không cấm. Sao có thể lấy thế mà bắt tội người ta ư?”.

    Bọn giặc Thanh Bình nổi trộm ở Gia Viễn. Sai quan Bắc Thành lượng phát biền binh cùng với binh ở đạo họp đánh dẹp yên.

    Định phẩm cấp tập ấm cho con cháu các công thần Vọng Các là bảy bực: 1. Khinh xa đô úy, trật tòng nhị phẩm; 2. Kiêu kỵ đô úy, trật tòng tam phẩm; 3. Kỵ đô úy, trật tòng tứ phẩm; 4. Phi kỵ úy, trật tòng ngũ phẩm; 5. Ân kỵ úy, trật tòng lục phẩm; 6. Phụng ân úy, trật tòng thất phẩm; 7. Thừa ân úy, trật tòng bát phẩm. (Công thần bực nhất, con cho khinh xa đô úy, cháu cho kiêu kỵ đô úy, tằng tôn cho kỵ đô úy, huyền tôn cho phi kỵ úy, vân tôn cho ân kỵ úy, thế tập ân kỵ úy; công thần bậc nhì, con cho kiêu kỵ đô úy, cháu cho kỵ đô úy, tằng tôn cho phi kỵ úy, huyền tôn cho ân kỵ úy, thế tập ân kỵ úy; công thần bậc ba, con cho kỵ đô úy, cháu cho phi kỵ úy, tằng tôn cho ân kỵ úy, thế tập ân kỵ úy; công thần bậc bốn, con cho phi kỵ úy, cháu cho ân kỵ úy thế tập ân kỵ úy; công thần bậc năm, con cho ân kỵ úy, thế tập ân kỵ úy; công thần bậc sáu, con cho phụng ân úy và công thần bậc bảy, con cho thừa ân úy, đều một đời mà thôi. Tập ấm đều lấy con trưởng cháu trưởng, nếu không có con trưởng cháu trưởng thì lấy ngành thứ cho thừa tập). Cấp cho lương tháng và mũ áo. Ai có quan chức phẩm cao thì theo phẩm, vẫn đeo hàm ấm để rõ ân điển. Lại ra lệnh các ấm tử tuổi từ 18 trở lên, biết luyện tập bắn cung cưỡi ngựa thì cho lệ vào năm dinh để sai khiến, đợi chỉ chọn dùng.

    Vua bảo hai bộ Lại Lễ rằng: “Công các bề tôi dẫu giống nhau, mà việc làm thì khác. Như Nguyễn Văn Nhân lưu trấn thành Gia Định, điều quân cấp lương khiến quân vua dấy mạnh, Nguyễn Hoàng Đức không chịu hàng giặc, gập ghềnh gian hiểm, theo trẫm lúc gian nan, công cao hơn người tầm thường nhiều lắm. Đến như Tống Viết Phước, tuy có công lớn, mà hai lần mất quân, không phải là không có lỗi. Vậy tước ấm của con Viết Phước, không nên cho cùng hàng với các bề tôi khác.

    Định ngạch binh dài hạn ở Gia Định. Chiếu rằng: “Từ xưa đến nay binh có ngạch chia ban, có ngạch dài hạn, hai ngạch cùng giúp đỡ nhau để mạnh phên giậu. Nay ở thành và các trấn Phiên An, Biên Hòa, Vĩnh Thanh, Định Tường quân theo dài hạn chưa có định ngạch. Vậy ra lệnh ở thành thì chọn quân Bảo thành cũ và mộ dân ngoại tịch lập làm ba vệ Bảo thành nhất, nhị, tam mỗi vệ 10 đội; các trấn Phiên An, Biên Hòa, Vĩnh Thanh, Định Tường, đều mộ lập một cơ, cơ có 10 đội, đội đều lấy 50, 60 người làm hạn; sai theo thành và trấn để giữ gìn thành trì, dẹp bắt trộm cướp. Tạp dịch đều miễn”.

    Lại thấy binh năm thuyền Bính ở các trấn, quân phần nhiều thiếu số, sai mộ dân ngoại tịch và trích các đội bất mãn (1. Bất mãn: không đủ số người .1) ở trấn dồn bổ mỗi thuyền 50 người, chia ban mà chi lương.

    Miễn thuế thân và dao dịch một năm cho dân xiêu dạt 14 thôn ấp ở Vĩnh Thanh, hạ lệnh cho trấn thần gọi trở về.

    Bộ Hộ tâu nói: “Năm Gia Long thứ 9 [1810] có lệ định phàm ruộng đất lậu, phát giác năm tháng dẫu nhiều mà ngạch thuế truy thu cũng chỉ lấy 3 năm làm hạn, so với điều luật chép ẩn lậu thuế ruộng thì chiếu theo phần thuế từng năm mà nộp, hai bên không phù hợp nhau”. Vua nói rằng: “Luật như thế nặng quá, cứ theo lệ mà làm”.

    Hiệp trấn Tuyên Quang là Nguyễn Văn Công ốm phải nghỉ việc; lấy Thiêm sự Binh bộ là Phạm Tiến Lượng làm Hiệp trấn Tuyên Quang.

    Tháng 8, phong quốc thúc quận công Tôn Thất Thăng làm Phước Long công, hoàng tử thứ năm là Đài làm Kiến An công, hoàng tử thứ sáu là Bính làm Định Viễn công, hoàng tử thứ bảy là Tấn làm Diên Khánh công, hoàng tử thứ tám là Phổ làm Điện Bàn công, hoàng tử thứ chín là Chẩn làm Thiệu Hóa công, hoàng tử thứ mười là Quân làm Quảng Oai công, hoàng tử thứ mười một là Cự làm Thường Tín công, hoàng tôn Kính làm Thái Bình công, hoàng tôn Đán làm ứng Hòa công; cho sách bạc, ấn bạc và ấn quan phòng mỗi người một cái. Ra lệnh phàm tờ biểu tờ khải đều xưng tước và tên. (Biểu tâu thì Phước Long công xưng là Phước Long công thần Mỗ; các hoàng tử hoàng tôn tước công thì xưng Mỗ công thần Mỗ. Khải thì xưng Mỗ công đệ Mỗ, điệt Mỗ). Giấy tờ các nha đưa lên thì xưng là bẩm. Nhà ở thì gọi là phủ.

    Vua dụ bộ Lại rằng: “Trẫm nghĩ các con cháu tuổi còn ít, mà ở tả hữu chưa hẳn đều là người hiền, sợ hoặc nhận được ấn ấy có thể bị dỗ dành làm bậy, nên phải chọn người để giữ ấn mới khỏi lầm lỗi”. Bèn sắc cho các tước công phàm có tờ truyền sai thì phải xem người mà đưa, chớ có bạ ai cũng sai.

    Ấm thụ cho con Chưởng Hậu quân Võ Tánh là Võ Khánh làm Khinh xa Đô úy, con Chưởng Tiền quân Tôn Thất Hội là Tôn Thất Trinh, con Tổng trấn Gia Định Nguyễn Hoàng Đức là Nguyễn Hoàng Toán, con Chưởng Hữu quân Nguyễn Văn Nhân là Nguyễn Văn Đức, con Chưởng Tả quân Lê Văn Duyệt là Lê Văn Yến, con Chưởng Tượng quân Nguyễn Đức Xuyên là Nguyễn Đức Thiện, con Đô thống chế Hậu dinh Thần sách Mai Đức Nghị là Mai Đức Nho, con Đô thống chế Thị trung Nguyễn Văn Khiêm là Nguyễn Thường Tuân đều làm Kiêu kỵ đô ký, con Đô thống chế Trung dinh Thần sách Tống Viết Phước là Tống Viết Tri làm Kỵ đô úy.

    Cho con Lưu thủ Nguyễn Đức Thịnh là Nguyễn Đức Long làm Vệ úy, phẩm trật cũng như vệ úy các quân.

    Nước Chân Lạp đói, xin đong thóc ở Gia Định. Ra lệnh cho đến các xứ Long Hồ, Sa Đéc đong 10.000 hộc thóc.

    Sai Phó tướng Tả quân là Nguyễn Văn Xuân quyền lãnh việc bảo hộ Chân Lạp. Bảo hộ là Lưu Phước Tường dung túng cho thuộc hạ sách nhiễu, làm khổ dân Phiên, việc phát giác, vua nói: “Phước Tường trước ở Vĩnh Thanh đã làm nhiều việc trái phép, nay lại như thế, tội không thể nói xiết được”. Tức thì hạ lệnh giải ấn bảo hộ, đưa về Gia Định xét trị, lấy Xuân để thay.

    Dân Chân Lạp buôn ở Gia Định có người mua trộm hơn 500 lạng bạc. Thành thần xin trị tội và tịch thu tang vật. Vua cho là dân nhỏ nước Phiên, không nỡ bắt tội, sai tha mà trả lại tang vật.

    Định thêm điều lệ ẩn lậu đinh mà khai gian là trốn hay chết. (Phàm ẩn lậu một đinh có gia sản, thưởng cho người tố cáo 10 quan tiền, đinh không có gia sản thì thưởng một nửa; tố cáo 10 người mà đúng có một người thì không thưởng, và cũng không bắt tội; 2 đinh trở lên thì chiếu theo số mà thưởng; duy tố cáo không thực thì bị phản tọa. Lại như tố cáo có 1, 2 đinh, mà xét ra 3, 4 đinh trở lên, cũng chiếu theo số mà thưởng thêm. Tiền thưởng thì thu ở lý trưởng và thu ở người đinh lậu mỗi người một nửa. Người đinh lậu biết tình thì đánh 80 trượng; không biết thì không bắt tội, tiền thưởng chỉ thu ở xã trưởng. Nếu xã trưởng thu riêng tiền thuế thân làm của mình thì tính tiền tang khép vào tội uổng pháp luật mà xử nặng, truy thu tiền tang sung vào nhà nước.
    :rose: