088. Trang [0958-0969] - @botihell (done)

22/12/15
088. Trang [0958-0969] - @botihell (done)
  • Đến như xét nghĩ tội ẩn lậu thì nhất thiết y theo luật mới. Còn có người ở trong sổ mà xã trưởng khai gian là trốn, 1 đinh thì đánh 70 trượng, cứ mỗi 1 đinh nữa thì thêm một bậc; 4 đinh thì xử mãn trượng; 5 đinh thì xử 60 trượng đồ 1 năm, cứ 3 đinh thì thêm 1 bậc; 17 đinh thì mãn đồ; 20 đinh thì xử lưu, cứ 5 đinh thì thêm 1 bậc, chỉ đến mãn lưu là cùng. Tố cáo đúng thực thì mỗi một đinh thưởng tiền 10 quan; 10 phần đúng một phần, thì không thưởng, cũng không bắt; 10 phần đúng 2 phần, thì xét theo số mà thưởng; tố cáo không thực thì bị phản tọa. Người còn sống, có sổ, mà xã trưởng khai gian là chết, 1 đinh thì xử mãn đồ; 2 đinh thì xử lưu, bắt đồ ở trong tổng 4 năm, 3 đinh lưu 2.000 dặm, 4 đinh lưu 2.500 dặm, 5 đinh thì mãn lưu, cứ 2 đinh thì thêm 1 bực tội; đến 7 đinh thì xử giảo giam hậu, 9 đinh thì xử trảm giam hậu, cứ 3 đinh thì thêm 1 bực tội; đến 12 đinh thì giảo quyết, 15 đinh thì trảm quyết. Tố cáo đúng thực, cứ mỗi đinh thưởng tiền 15 quan; tố cáo không thực thì bị phản tọa. Đến như người đinh mà xã trưởng khai gian là trốn, biết tình thì đánh 90 trượng; người đinh mà xã trưởng khai gian là chết, đồng tình thì đánh 100 trượng đồ 3 năm, không biết tình mà đồng tình thì không phải tội. Ngoài ra theo như lệ trước). Xã trưởng ẩn lậu, khai gian, và dân xã biết tình, đồng tình, hạn trong một tháng thú tội thì miễn tội. Làm trái thì trị tội như luật.

    Lại cho Đào Văn Thành làm Quản đạo Thanh Bình. Thành về đinh ưu, hết hạn đến Kinh nên lại dùng, quản đạo Đỗ Văn Trà vẫn giữ chức Vệ úy vệ Minh võ, đem vệ binh đi thú ở Bắc Thành.

    Cai đội Nội hầu là Tôn Thất Triều thiện tiện lấy người đội Tư phụng bổ vào đội Nội hầu. Vua nói rằng: “Đội Tư phụng đều là người Tôn thất giữ đồ thờ các miếu, Triều sao được thiện tiện bổ sang đội khác?”. Bèn cất chức của Triều.

    Tháng 9, Hữu tham tri Hình bộ là Nguyễn Hoài Quỳnh chết; cho hai cây gấm Tống.

    Vua dụ ba bộ Lại Hộ Binh rằng: “Binh chế của triều đình, nhân viên các quân dinh đã có số nhất định. Lúc mới dồn bổ, có những viên thừa đều là người cũ để dành dùng sau, từ nay có khuyết thì nên chọn mà bổ trước, chớ nên cho người mới chen vào. Bọn các ngươi, chức thủ quan hệ với nhau, phải xét kỹ đấy”.

    Sai Thiêm sự Lễ bộ là Ngô Văn Duyệt và Hàn lâm viện Trương Quang Hải sung Chánh phó sứ sang nước Xiêm. Nước Xiêm có tang vua thứ hai, sai bầy tôi là bọn Long A Nô Lạc Phu Thích đến báo. Vua bèn sai bọn Duyệt sang tặng phúng. (Tặng Phật vương lụa trắng, the trắng, vải nhỏ trắng mỗi thứ 300 tấm; phúng vua thứ hai 300 cân sáp ong, 100 tấm vải trắng, đường phổi, đường phèn đều 300 cân, 2.000 cân đường cát). Khi trở về, nước Xiêm đưa thư tạ ơn, gửi phẩm vật để tiến.

    Thống quản đồn Uy Viễn là Nguyễn Văn Tồn cho rằng các đội tinh binh sở thuộc hiện có hơn 300 người, sai phái không đủ, xin cho con là Nguyễn Văn Vị mộ người lập ba đội Uy Viễn nhất, nhị, tam, rồi mộ được hơn 100 người, sai bổ vào các đội tinh binh, lại xin mộ thêm đủ 1 cơ tinh binh, cơ có 10 đội, đội có 50 người.

    Mùa đông, tháng 10, ngày mồng 1 Tân mùi, có nhật thực.

    Ngày Giáp tuất, tế đông hưởng. Sai Hoàng thái tử nhiếp tế ở Thái miếu.

    Thả biền binh Thanh Nghệ, Bắc Thành, Thanh Bình đã ứng triệu vào Kinh cho trở về ngũ.

    Bỏ thuế dầu biệt nạp cho xã Ngải Lăng (thuộc huyện La Sơn) trấn Nghệ An, kén dân làm lính.

    Sắc từ nay hồ sơ các án đình thần xét bàn các tội từ đồ lưu trở xuống đều khải lên cho Hoàng thái tử xét đoán. Về án nặng mới đợi tâu xin quyết định.

    Triệu Tả tham tri Hộ bộ lãnh Hộ tào Bắc Thành là Nguyễn Hữu Thận về Kinh. Sai Hữu tham tri Hộ bộ lãnh Hiệp trấn Nghệ An là Nguyễn

    Tường Vân thay lãnh Hộ tào; lấy Hiệp trấn Kinh Bắc là Nguyễn Văn Lễ làm Hiệp trấn Nghệ An, Thiêm sự Hình bộ là Phùng Huy Giảng làm Hiệp trấn Kinh Bắc.

    Lấy Hữu tham tri Binh bộ lãnh Hiệp trấn Thanh Hoa là Vũ Đức Thông làm Hữu tham tri Hình bộ lãnh Hình tào Bắc Thành, Thiêm sự Nguyễn Xuân Thục làm Hữu tham tri Binh bộ lãnh Hiệp trấn Thanh Hoa.

    Lấy Tri phủ Lý Nhân là Nguyễn Văn Y làm Thiêm sự Binh bộ, sung biện Binh tào Bắc Thành.

    Lấy Thiêm sự Binh bộ là Lê Hy làm Cai bạ Vĩnh Thanh. Trước đình thần cử Ký lục Quảng Đức là Nguyễn Văn Hưng để bổ. Vua nói rằng: “Hưng tuổi còn ít, huyết khí đương hăng, nên để ở kinh kỳ để chạy hầu tả hữu, nhân đấy mà dạy bảo để thay đổi khí chất, không nên sai đi nơi biên cương xa xôi”. Bèn bổ Hy đi.

    Tham hiệp Sơn Nam thượng là Đào Xuân Thự nhũng lạm, phải tội đồ; lấy Tri phủ Kiến Xương là Đặng Hữu Thận làm Hiệp trấn Sơn Nam thượng.

    Sai Hoàng Công Lý và Tôn Thất Bính mộ dân ngoại tịch sung bổ vào vệ Nội hầu và các đội Túc trực.

    Vua thấy hai huyện Đông Thành, Quỳnh Lưu trấn Nghệ An rừng rậm liền nhau bọn giặc thường lẩn lút ở đấy, sai trấn thần tùy đất đặt đồn, đóng quân phòng giữ nghiêm ngặt.

    Lại thấy bảo Lãnh Thủy [Nước lạnh] núi khe lam chướng, lính thú không thể ở lâu được, sai đặt thêm quân ở bảo Hoàng Mai (trước 30 người, thêm lên 60 người) mà chia làm ba phần, lấy một phần giữ Lãnh Thủy, 3 ngày một lần đổi.

    Giặc biển Chà Và thường nương tựa các cù lao thuộc Hà Tiên để đón cướp thuyền buôn. Trấn thần phát binh tuần xét, bắt được rất nhiều. Sai đóng gông tướng giặc đưa về Kinh để giết.

    Tháng 11, sai Hữu tham tri Lại bộ là Trần Văn Tuân lãnh Hình tào thành Gia Định; lấy Ký lục Quảng Trị là Nguyễn Duy Hòa làm Hữu tham tri Hình bộ, Thiêm sự Binh bộ là Hoàng Kim Hoán làm Ký lục Quảng Trị, Thiêm sự Lễ bộ là Lê Văn Đồ làm Cai bạ Phiên An. Bọn Tuân bệ từ. Vua dụ rằng: “Trần Văn Tuân tài xứng với chức, trẫm đặc biệt chọn sai đi, chứ không phải là xa ra đâu. Trước tuy bàn việc không đúng, trẫm cũng dung cho, chớ để ý thắc mắc về việc ấy. Nguyễn Duy Hòa thì đàn hặc Nguyễn Văn Thành, có khí phách cứng rắn, ngờ đâu qua cửa khuyết lại không xuống cáng để người chê trách, sao trước sau lại như hai thứ người thế? Từ nay về sau lời nói việc làm nên cẩn thận. Lê Văn Đồ đi đứng nghiêm trọng, nói năng chất phác, trẫm yêu tính cẩn thận nên cất dùng, nên nghĩ theo phép công làm việc thẳng, cho vừa lòng trẫm. Hoàng Kim Hoán là do triều đình công cử, phải kính cẩn chớ để phụ lòng người đã cử ”.

    Lại sai Trần Văn Tuân đến Gia Định mộ thêm dân ngoại tịch làm bốn vệ Bảo Thành.

    Vét sông Tam Khê, sông cách trấn lỵ Vĩnh Thanh 214 dặm. (Phía tây 4 dặm rưỡi, đến ngã ba hợp với sông Cần Đăng, phía tây nam 59 dặm đến cửa sông Lạc Dục, từ đấy về nam 57 dặm rưỡi đến Song Khê). Vua thấy đất ấy gần Chân Lạp, mênh mông lầy rậm, đường sông đi qua Kiên Giang bị bùn cỏ ủng tắc, thuyền bè không đi được, bèn sai Trấn thủ Nguyễn Văn Thụy sửa sang đường sông, điều động dân Hán [Việt] dân Di [Miên] 1.500 người để vét, nhà nước cấp cho tiền gạo, khiến nhân lối cũ mà đào sâu rộng thêm. Hơn một tháng sông vét xong (ngang hơn 10 trượng, sâu 18 thước), dân Hán, dân Di đều lợi cả. Vua khen công của Thụy, đặt tên sông là Thụy Hà. ở phía đông sông có núi Lạp Sơn, cũng đặt tên Thụy Sơn, cấm dân không được chặt cây cối.

    Từ Nghệ An ra Bắc, lúa vụ mùa thu hoạch kém. Giảm thuế mùa đông năm nay, Nghệ An giảm 1 phần 10, Thanh Hoa, Thanh Bình, 3 phần 10, Bắc Thành 5 phần 10.

    Lại thu thuế sân chim ở Kiên Giang trấn Hà Tiên. Sân chim ở hai thôn Đông An và Vĩnh Hòa thuộc Kiên Giang, trước đã bãi thuế mà thu lông và quạt. Đến nay những làng bên cạnh viện lẽ là không có thuế, tranh chia lấy lợi. Dân hai thôn ấy xin mỗi năm nộp tiền thuế 500 quan, còn lông quạt nộp như lệ. Thành thần Gia Định tâu lên. Vua y cho.

    Chuẩn định rằng mồ mả của dân gian, hạn tả hữu cách nhau đều 7 thước 5 tấc, trước sau cách nhau đều 9 thước.

    Lưu thủ Quảng Đức là Nguyễn Huy tuổi già về hưu trí. Lấy Phó thống chế Trung dinh quân Thần sách là Nguyễn Văn Soạn lãnh Lưu thủ Quảng Đức.

    Định lệ xin nghỉ cho quan viên văn võ có tang ông bà. (Phàm cháu đích tôn thừa trọng thì nhất phẩm 9 tháng, nhị phẩm 6 tháng, tam phẩm 4 tháng, tứ phẩm 2 tháng, ngũ phẩm 1 tháng. Duy quan thống quản các quân Thị trung, Thị nội, Thần sách, chức vụ là hộ vệ, không thể nghỉ lâu, thì nhất phẩm 4 tháng, nhị phẩm; tam phẩm 2 tháng, tứ phẩm, ngũ phẩm 1 tháng).

    Sai thành thần Gia Định biên binh các đội Trung nghĩa, Trung thắng, Trung thuận của Trung quân, quê ở Gia Định (557 người) làm 11 đội vệ Gia Võ, theo thành sai khiến. Còn quê từ Bình - Thuận trở ra (60 người) thì cho về dân.

    Ký lục Quảng Đức là Nguyễn Văn Hưng về đinh ưu; lấy Thiêm sự Lễ bộ là Lê Đồng Lý làm Ký lục Quảng Đức.

    Triệu Hiệp trấn Lạng Sơn là Ngô Vị về Kinh; lấy Thiêm sự Hình bộ là Trương Công Vỹ làm Hiệp trấn Lạng Sơn.

    Lưu thủ Quảng Trị là Phan Tiến Quý, trước trấn thủ Bình Thuận, riêng cho người nhà làm thủ ngự, lấy của dân, tham tang đến hơn 500 quan. Đến nay việc phát, bị tội giảo giam hậu.

    Lấy Chưởng cơ chánh thống Hữu đồn Trung quân là Bùi Văn Thái lãnh Lưu thủ Quảng Trị.

    Tàu của Phú Lãng Sa [Pháp] đậu ở Đà Nẵng, đưa thư cho Nguyễn Văn Thắng nói vua nước ấy lấy lại được trước, sai treo cờ ở thuyền đi đến các cửa biển để các nước láng giềng biết, xin dâng sản vật địa phương, đến Kinh chiêm yết.

    Vua lấy cớ không có quốc thư mà khước từ. Sai Dinh thần Quảng Nam khoản đãi hậu, rồi bảo đi. Lại sắc cho tấn thủ Đà Nẵng rằng nếu thuyền người Phú Lãng Sa có treo cờ bắn súng mừng 21 tiếng thì ở trên đài Điện Hải cũng bắn trả lời đúng số ấy. Từ sau có thuyền buôn nước ngoài vào cửa biển, bắn súng dẫu nhiều, trên đài chỉ bắn 3 tiếng làm hiệu.

    Thuộc lại ở Bắc Thành có kẻ giả quan sai bắt người đòi chuộc. Thành thần nghĩ chiếu theo lệ “nấp trong cỏ rậm bắt người” của luật nhà Thanh mà xử trảm giam hậu. Đình thần xét lại, chiếu theo luật “mưu lấy của hại mạng người” mà xử chém ngay và đem án khải lên. Hoàng thái tử nói: “Lệ của thành thần dẫn, tuy đã gần phải, nhưng thuộc lại là người biết phép mà lại phạm phép, không ví như giặc cỏ, nên khép tội nặng để răn người khác”. Vua khen là phải.

    Đổi chức chánh tàu các hiệu thuyền lớn làm chánh đội trưởng, phó tàu làm đội trưởng, cai tàu làm thứ đội trưởng, phẩm trật cũng như các quân khác.

    Tháng 12, cho Thái bảo quận công Phạm Văn Nhân được liệt thờ ở miếu Trung hưng công thần.

    Thanh Hoa và Nghệ An đói kém, thổ phỉ nhung nhúc nổi lên. Vua nghe tin, sai Phó đô thống chế Hữu dinh quân Thần sách là Tôn Thất Bính đem lính kinh hơn 2.900 người đi kinh lược miền ấy. Lại sai trấn thần gọi thêm biền binh thuộc trấn sai phái đi bắt giặc.

    Sai quan Bắc Thành chọn dùng con cháu nhà Lê. Chiếu rằng: “Phép là của chung thiên hạ, mà ngoài phép gia ơn là thịnh đức của đế vương. Trẫm khi mới dẹp yên, rất nghĩ đến nghĩa nối đời đã dứt, tức thì phong Lê Duy Hoán làm Diên Tự công, cho tự điền tự dân, khiến giữ việc phụng tự nhà Lê; lại ân cấp gạo lương cho các chi con cháu nhà Lê, đều chu đáo khắp. Trẫm đối với họ Lê để tâm hậu đãi, vẫn mong cho đều nhờ Phước lớn, cùng nước cùng vui. Không ngờ Duy Hoán nổi lên, dụ dỗ đảng giặc, thầm mưu phản nghịch, đã giao đình nghị, đều xin xử cực hình và giảm bớt ân lệ để rõ phép nước. So với phép thường, vẫn phải nên thế. Trẫm để tâm lo việc thiên hạ, rất mang lòng thương xót, há lại vì tội nghiệt của một đứa tự làm mà bỏ cái lòng nhân nuôi nấng bao dung của nhà nước sao? Vậy đặc sai thành thần chọn người thừa tự họ Lê, ân điển cấp phát vẫn như cũ, khiến cho họ Lê hương khói có chỗ nương tựa, con cháu không đến thất sở, kẻ còn người mất đều được thấm ơn, để cùng hưởng phúc thái bình”.

    Biếm Tham tri Hộ bộ quản Nội đồ gia là Hoàng Văn Diễn làm Ký lục. Diễn ở Đồ gia, thấy đồ vật của công hư hỏng nhiều, nhân thế lấy quần áo rách cấp cho quân. Bộ Hộ hạch tâu. Vua giận, giáng Diễn làm Ký lục. Sắc từ nay các giám lâm chủ thủ phải để tâm xem xét, chớ để hư hỏng, làm trái thì trị tội.

    Trấn Thủ Quảng Ngãi là Nguyễn Cửu Khoáng chết, lấy Chưởng cơ chánh thống Tiền đồn Tiền quân là Nguyễn Văn Hưng lãnh Trấn thủ Quảng Ngãi, kiêm quản sáu cơ Kiên.

    Lấy Tả tham tri Hộ bộ là Nguyễn Hữu Thận làm Thượng thư Lại bộ. Vua từng bảo Nguyễn Văn Nhân rằng: “Trong sáu bộ duy bộ Lại việc rất quan trọng. Trẫm xem Nguyễn Hữu Thận là người cần mẫn cẩn thận và thuần hậu, có thể đương được”. Vì vậy có lệnh này. Hữu Thận dâng biểu xin từ. Vua dụ rằng: “Trẫm chọn ngươi có thể làm được, sao lại từ?”.

    Lấy Hiệp trấn Lạng Sơn là Ngô Vị làm Hữu tham tri Lại bộ, Hàn lâm viện thị giảng Nguyễn Đăng Tuân làm Thiêm sự Lễ bộ.

    Sai quan Bắc Thành chọn 5 người ở ty Thư tả đưa về Kinh, mỗi năm một lần thay đổi.

    Đúc ấn “Ngự tiền chi bảo” (dùng vàng 10 tuổi để làm).

    Hạ lệnh cho các địa phương từ Quảng Bình vào Nam thông dụng tiền kẽm. Chiếu rằng: “Trị nước không gì lớn bằng nuôi dân, nuôi dân phải trước hết là làm lợi việc dùng. Nay mở lò đúc tiền, tiền của đã đầy đủ rồi. Vậy chuẩn cho từ tháng giêng sang năm về sau, phàm các khoản chi dùng thì lấy tiền ấy cấp phát để cho dân thông dụng. Còn tiền đồng cổ hiệu và tiền ngụy hiệu chứa ở kho sở tại thì đợi kỳ vận tải đem nộp về Kinh.

    Dựng Văn miếu ở Sơn Nam hạ.

    Định lệ khóa đong lại thóc kho ở các thành (6 năm một khóa, Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Nghệ An, Thanh Hoa, Thanh Bình, thì lấy các năm sửu mùi; các trấn từ Bình Định vào Nam thì lấy các năm dần thân; các trấn ở Bắc Thành thì lấy các năm mão dậu. Về trình hạn thì Quảng Ngãi 2 tháng; Quảng Trị, Quảng Bình 2 tháng 15 ngày; Quảng Nam, Bình Hòa, Phú Yên, Thanh Bình 3 tháng; Bình Định, Bình Thuận, Hà Tiên, Nghệ An 3 tháng 15 ngày; Thanh Hoa 4 tháng; Bắc Thành 4 tháng 15 ngày; Gia Định 5 tháng 15 ngày).

    Lấy Vệ úy vệ Cường uy là Võ Văn Châu, Phó vệ úy vệ Túc võ là Hồ Văn Trương làm Chánh phó vệ úy vệ Túc bảo nhất.

    Ngày Nhâm ngọ, sai Hoàng thái tử yết lăng.

    Ngày Quý mùi, tế Chạp.

    Nước Vạn Tượng sai sứ đến cống.

    Lấy Khâm sai Chưởng cơ vệ úy vệ Thiện võ Hữu quân là Nguyễn Văn Tứ lãnh Quản thủ nguồn Cầu Bông (thuộc tỉnh Bình Định). Tứ là người ấp Tây Sơn sau đổi là An Tây trấn Bình Định. Năm Gia Long thứ 8 [1809] nhân già nghỉ việc. Vua nghĩ là người có công, muốn cho ăn lộc chọn đời, nhân ở gần chỗ nên cho lãnh chức ấy.

    Bổ dùng cháu Lại bộ Nguyễn Bảo Trí là Nguyễn Bảo Lộc làm Huấn đạo, tha phú dịch cho.


    CHÍNH BIÊN

    ĐỆ NHẤT KỶ – QUYỂN LVII

    THỰC LỤC VỀ THẾ TỔ CAO HOÀNG ĐẾ


    Mậu dần, Gia Long năm thứ 17 [1818] (Thanh - Gia Khánh thứ 23), mùa xuân, tháng giêng, ngày Bính ngọ, tế xuân hưởng. Sai Hoàng thái tử nhiếp tế ở Thái miếu.

    Định lộc hằng năm cho các tước công (Tiền 2.500 quan, gạo 1.500 phương).

    Định bổng hằng năm và áo mùa xuân cho các quan văn võ và lệ dưỡng liêm cho tri phủ, tri huyện. Chiếu rằng: “Cho bổng lộc hậu là để khuyên kẻ sĩ. Lúc mới yên định, lệ lương bổng và lệ áo mùa xuân của quan viên thì tùy tiện chuẩn cấp, chưa kịp châm chước bàn định. Nay thiên hạ đã yên, phải nên chế định bổng lộc cho có định tắc. Đến như phủ huyện ở gần nhân dân, chức nhỏ nhưng việc nhiều, ngoài bổng chính ra, cấp thêm tiền gạo dưỡng liêm, để tỏ đặc cách. (Chánh nhất phẩm, hằng năm tiền 600 quan, gạo 600 phương, đồ mặc mùa xuân 70 quan; tòng nhất phẩm, tiền gạo đều 360, đồ mặc mùa xuân 60 quan; chánh nhị phẩm, tiền gạo đều 300, đồ mặc mùa xuân 50 quan; tòng nhị phẩm, tiền gạo đều 150, đồ mặc mùa xuân 30 quan; chánh tam phẩm, tiền gạo đều 120, đồ mặc mùa xuân 20 quan; tòng tam phẩm, tiền gạo đều 90, đồ mặc mùa xuân 16 quan; chánh tứ phẩm, tiền gạo đều 60, đồ mặc mùa xuân 10 quan; tòng tứ phẩm, tiền gạo đều 50, đồ mặc mùa xuân 10 quan; chánh ngũ phẩm, tiền gạo đều 35, đồ mặc mùa xuân 9 quan; tòng ngũ phẩm, tiền gạo đều 30, đồ mặc mùa xuân 8 quan; chánh lục phẩm, tiền gạo đều 25, đồ mặc mùa xuân 7 quan; tòng lục phẩm, tiền gạo đều 22, đồ mặc mùa xuân 6 quan; chánh tòng thất phẩm, tiền gạo đều 20, đồ mặc mùa xuân 5 quan; chánh tòng bát phẩm, tiền gạo đều 18, đồ mặc mùa xuân 4 quan; chánh tòng cửu phẩm, tiền gạo đều 16, đồ mặc mùa xuân 4 quan. Quan được bổ từ năm Gia Long thứ 16 [1817] về trước, ai dự lệ có bổng và đồ mặc mùa xuân, theo lệ cũ được nhiều mà theo lệ mới được ít, thì chi theo lệ cũ; theo lệ mới được nhiều mà theo lệ cũ được ít, thì chi theo lệ mới; từ tháng giêng năm nay trở về sau đều theo lệ mới. Ai có lỗi bị phạt thì chỉ phạt vào lương chính, tiền đồ mặc mùa xuân thì tha. Lệ dưỡng liêm của các phủ huyện thì chiểu theo bổng chính).

    Hoãn thu thuế thiếu của dân mới về ở năm trấn thuộc Bắc Thành. Thành thần tâu nói: “Dân xiêu dạt ở các trấn mới về trong 42 xã thôn, thuế thiếu dồn nhiều năm, chưa thể nộp đủ được, xin hoãn thu để dân đỡ khổ”. Vua y cho.

    Định lệ tuyển bổ thuộc ty. Đình thần tâu nói: “Tước mệnh là đá mài (1. Đá mài : Đá mài so với đá thường, tức là vật quý so với vật thường. 1) của nhà nước, chỉ ai có tài thì cho, để tỏ ý khuyến khích. Từ trước đến giờ, thư ký, cai án, câu kê, cai hợp, thủ hợp ở các nha đều do quan cai quản lần lượt cử lên, 3 năm không có lỗi mới dâng sớ xin thực thụ. Đó là phép thường thăng bổ, vẫn phải nên thế. Nhưng bọn ấy còn ở hàng thấp kém thì người có giỏi hay không, triều đình bởi đâu mà biết hết được! Nếu cứ lấy lần lượt mà cử lên, thì người được thăng lại là kẻ yếu đuối không tài, chỉ ngồi ăn không mà người làm được việc lại bị hạn về đường tư cách. Không tự tỏ ra được, sợ không phải ý nghĩa tùy tài giao việc. Vậy xin ra lệnh cho thượng ty cai quản các nha trong ngoài, từ nay cử người lên, đều phải chọn tài năng của người sở thuộc. Không câu nệ về tư cách để phân biệt được người hay người dở, bớt sự lẫn lộn phức tạp”. Vua y lời tâu.

    Đổi vệ Túc bảo nhất làm vệ Trang võ, vệ Túc bảo nhị làm vệ Nghiêm võ.

    Các đội mới mộ thuộc điện Thanh Hòa dồn bổ làm vệ Tuyên võ.

    Chưởng cơ lãnh Trấn thủ Định Tường là Nguyễn Thụy chết. Thụy có công Vọng Các, cấp cho 4 người mộ phu.

    Lấy Vệ úy vệ Hùng cự nhị là Nguyễn Văn Phong làm Trấn thủ Định Tường.

    Hiệp trấn Yên Quảng là Nguyễn Viết Ky về đinh ưu. Lấy Thiêm sự Binh bộ Lê Văn Quyền làm Hiệp trấn Yên Quảng.

    Xét tù bị giam ở các địa phương. Hoàng thái tử tâu nói: “Từ trước đến nay, luật lệ chưa thi hành, các nha xét hình, có nhiều án tích lại. Người tù tội đến nỗi có kẻ lưu giam đến chết, tình rất đáng thương. Xin ra lệnh thẩm xét để thanh lý các án ứ đọng”. Vua cho là phải. Sai các thành dinh trấn lục hết tội trạng của tù bị giam, đợi chỉ định đoạt.

    Định lại lệnh cấm thuốc phiện ở Gia Định.

    Cho Lê Chất làm Tổng trấn Bắc Thành. Chất dâng sớ xin từ, và xin về Kinh để vào chầu. Vua dụ rằng: “Thăng Long là đất lớn ở Bắc Thành, giao cho ngươi ở đấy là tự trẫm kén chọn, ngươi chớ từ. Nhưng nghĩ đến công lao đi thú biên phương đã lâu, còn đương chọn người có công lao tài năng cho làm chức phó. Vậy đợi có Phó tổng trấn đến thành, ngươi muốn về Kinh vào chầu thì sẽ theo lời ngươi xin”.

    Thổ phỉ ở Nghệ An quấy nhiễu. Phó đô thống chế Tôn Thất Bính cùng Trấn thủ là Hoàng Viết Toản thân mang binh và voi chia nhau đi tuần bắt. Giặc đều trốn nấp. Nhân tâu xin đóng quân không đánh, để cho giặc tự ra thú.

    Vua dụ rằng: “Đảng giặc tụ họp, nhiều đến hàng nghìn, phỏng có một hai tên ra thú, thì có hết được cả bọn không? Vả giặc lấy núi rừng làm sào huyệt, khi nghe tiếng quân thì tạm lẩn đi. Nếu phòng bị hơi lơi, thì thói cũ lại nẩy. Tất phải đánh một phen kịch liệt để dứt hết gốc, còn thú hay không thú, không cần tính đến. Nay nên hết lòng bàn mưu vạch chước, chọn thuộc hạ ở trấn người nào quen biết đường lối thì ủy cho dẫn lính kinh đi tuần dò các xứ ở thượng du, góp sức tiễu trừ để sạch mặt đất”.

    Thượng thư Hộ bộ là Nguyễn Đình Đức chết. Tặng Tham chính.

    Tháng 2, lấy cựu Đốc học Sơn Tây là Nguyễn Lý làm Đốc học Hải Dương.

    Định lệ cấp lương ăn cho tù. (Tù bị đồ, mỗi người mỗi tháng cấp 11 thăng gạo; tù bị lưu, mỗi người mỗi tháng 10 thăng; tù giam cấm và tù giam xét ở ngục chưa xử đoán xong mà không người cấp dưỡng, không kể nam hay nữ, 18 tuổi trở lên thì mỗi người 9 thăng, 11 tuổi trở lên thì mỗi người 7 thăng, 10 tuổi trở xuống thì mỗi người 5 thăng. Tù tội lưu, vợ con có xin theo đi thì cấp y theo lệ tù giam cấm).

    Sửa nhà công cho sáu bộ.

    Cho con cháu nhà Lê và Lê Duy Khải (là con Lê Hiển Tông) làm Cai cơ, trật chánh tam phẩm, coi giữ việc thờ tự nhà Lê, cho mũ áo đại triều.

    Lấy Tôn Thất Phong làm Cai đội, trật tòng tứ phẩm, coi giữ đền Dục Đức; miễn cho binh và thợ làng Kim Long để sung từ phu; để 200 mẫu tự điền, hằng năm lấy hoa lợi để cung việc tế tự. (Quan đồn điền ruộng bậc nhất 64 mẫu 7 sào, ruộng bậc nhì 13 mẫu 4 sào, ruộng bậc ba 121 mẫu 9 sào. Phẩm vật để tế trong một năm chi hơn 400 quan tiền).

    Hạ lệnh cho ruộng núi, ruộng cỏ và dân đồn điền ở Gia Định phải nộp phụ vỏ đay, thu miễn thuế thân theo thứ bậc khác nhau. (Ruộng núi, ruộng cỏ, mỗi mẫu thóc một hộc, nộp vỏ đay một cân, tha bớt tiền thuế 30 đồng. Dân đồn điền mỗi người nộp vỏ đay 3 cân, tha bớt tiền thuế 1 tiền 30 đồng).

    Lại lấy Lê Công Lý làm Trấn thủ Sơn Nam thượng, Nguyễn Bá Xuyến làm án phủ sứ Hoài Đức.

    Xây gạch Kinh thành. Vua sai bọn Hoàng Công Lý, Trương Phước Đặng, Nguyễn Đức Sĩ, trông coi công việc. Làm 24 đài ở trên thành, phía trước là các đài Nam Minh, Nam Hưng, Nam Thắng, Nam Chính, Nam Xương, Nam Hanh, ở bên tả là các đài Đông Thái, Đông Trương, Đông Hoa (nay là Đông Gia), Đông Phụ, Đông Vĩnh, Đông Bình, phía sau là các đài Bắc Cung (nay là Bắc Định), Bắc Hòa, Bắc Thanh, Bắc Trung, Bắc Thuận, Bắc Điện, bên hữu là các đài Tây Thành, Tây Tuy, Tây Tĩnh, Tây Dực, Tây An, Tây Trinh.

    Lấy Tôn Thất Khôi làm Cai đội, coi giữ viên tẩm của Tuyên vương và Mục vương.

    Thượng thư Hình bộ là Phạm Như Đăng chết. Tặng Tham chính.

    Sai Thiêm sự Hộ bộ là Nguyễn Công Vị quản Nội đồ gia. Vua cho rằng Nội đồ gia là nơi họp chứa của cải, Tham tri Hộ bộ Nguyễn Công Tiệp kiêm quản sợ có khi không khắp được, dụ rằng: “Công việc bộ Hộ có nhiều, Công Tiệp làm một mình ngày còn không rảnh, sao có thể kiêm coi cả việc Nhà đồ nữa ?”. Bèn sai Công Vị chuyên quản.

    Dựng nhà học ở Quảng Nam.

    Hạ lệnh cho Gia Định dâng thóc tiến, mỗi năm chở 100 hộc (Lệ trước hằng năm chở 500 hộc).

    Định lệ bắn ống lệnh trong các lễ tự hưởng và triều hạ. (Về lễ lớn ở đàn Nam giao, khi vua ra đi và khi về đều bắn 9 tiếng ống lệnh; về các lễ tế hưởng ở miếu, tế đàn Xã Tắc, tế Văn miếu, khi vua ra đi và khi về đều bắn 5 tiếng; về 3 tiết lớn Chính đán, Đoan dương, Vạn thọ, khi vua ngự điện và lên ngai đều bắn 9 tiếng; ngoài ra các lễ tạ triều, khi vua ngự điện và lên ngai đều bắn 5 tiếng).

    Người Kinh Bắc bắt được ấn đồng cổ (mặt ấn khắc chữ “Lục Ngạn huyện ấn”, sau lưng khắc chứ “Cảnh Trị nguyên niên tạo”. Thành thần đem nộp. Sai thu cất đi.

    Chở 30.000 phương gạo lương ở Bắc Thành chứa ở kho Quảng Bình.

    Ngày Đinh hợi, tế trời đất ở đàn Nam giao. Sai Hoàng thái tử nhiếp tế. Làm lễ xong, dâng thịt tế. Vua ngự điện Cần Chánh nhận lễ mừng theo như nghi tiết ở Trai cung.

    Hạ lệnh cho Gia Định và Bắc Thành mỗi năm chở 500 hộc gạo nếp.

    Tháng 3, cho con Lưu thủ Nguyễn Đức Thịnh là Vệ úy Nguyễn Đức Long lấy công chúa Ngọc Trân, con Tổng trấn Gia Định Nguyễn Hoàng Đức là Kiêu kỵ đô úy Nguyễn Hoàng Toán lấy công chúa Ngọc Xuyến, con Đô thống chế Mai Đức Nghị là Kiêu kỵ đô úy Mai Đức Nho lấy công chúa Ngọc Ngoạn, con Chưởng Tượng quân Nguyễn Đức Xuyên là Kiêu kỵ đô úy Nguyễn Đức Thiện lấy công chúa Ngọc Nga.

    Thổ phỉ ở Nghệ An trộm nổi ở địa hạt Đông Thành, Quỳnh Lưu. Biền binh do trấn phái đánh có kẻ bị thua. Tôn Thất Bính nghe tin đem quân đến thì giặc đã tan đi. Bèn đóng quân ở bảo Tiên Lý, đem việc tâu lên.

    Vua dụ rằng: “Bọn giặc dựa vào núi mà tụ họp, ra vào không thường, mà quản quân ở trấn thì động có giặc là chia đường để đánh, số quân đã ít, đường núi lại không quen, cho nên phải thua. Phàm phép dụng binh hợp thì mạnh, chia thì yếu. Nay nên hợp quân đóng đồn, sai dò thám cho được thực tình, rồi sau mới tiến đánh, chớ nên hễ nghe tin báo thì sai khiến ngay đi nhiều ngả, khiến cho quân ít sức chia, giặc được hoành hành, trở lại thành thất sách đấy”. Rồi thấy lính kinh không quen thủy thổ, ra lệnh phàm lính phái đi đóng giữ ở miền thượng du thì rút về trấn, ai ốm thì chữa.

    Triệu Đô thống chế lãnh trấn thủ Nghệ An là Hoàng Viết Toản về Kinh. Lấy Đô thống chế Hậu dinh quân Thần sách là Nguyễn Văn Năng lãnh trấn thủ Nghệ An.
    :rose: