08. nt

6/8/15
08. nt
  • Nếu như không thấy sức khoẻ tăng lên như ý muốn thì bạn hãy thử ăn cách cao hơn. Cách ăn số 7 là cách ăn dễ nhất và khôn ngoan nhất. Trước hết hãy thử ăn theo cách giản dị nhất trong 10 hôm và theo đúng những lời chỉ dẫn sau đây:


    1. Không được ăn uống các thứ gì do kỹ nghệ sản xuất như: đường, nước ngọt, đồ ăn nhuộm hoá học, nước đá lạnh, trứng không có trống, những thức ăn uống đóng hộp hoặc đóng chai.


    2. Sức khỏe tăng dần với sự am hiểu luật Âm Dương, bạn có thể ăn theo những cách dưới một cách thận trọng nếu như bạn muốn ăn hoặc ăn ẩu thử cho biết tuỳ ý.


    Tuy thế bạn có thể tiếp tục ăn trong thời gian lâu chừng nào thì ăn mà không có hại gì cả từ cách số 3 trở lên đến cách số 7. Nếu bạn không thấy khá hơn thì bạn thử ăn theo cách số 7 trong một hoặc hai tuần, hoặc hàng tháng, hàng năm càng tốt.


    3. Đừng ăn rau trái trồng bằng phân hoá học hoặc rẩy sát trùng.


    4. Đừng ăn những thức ăn ở các nơi xa đưa lại nhất là đồ hộp. Cốc loại và rau cỏ tốt hơn hết chỉ nên ăn thứ trồng trọt ở địa phương, không cách xa chỗ mình ở quá 50km (theo nguyên tắc “thân thổ bất nhị”, có nghĩa là “người và đất rau cỏ không lìa nhau”).



    5. Đừng ăn rau cỏ trái mùa.


    6. Tuyệt đối tránh những thức ăn cực Âm như khoai tây, khoai lang, măng tre, cà chua, cà dê, cà quả. Phương ngôn ta có câu: “Một miếng cà là ba chén thuốc”.


    7. Đừng ăn các chất gia vị hoá học, chỉ nên ăn muối biển thiên nhiên.


    8. Cấm uống cà phê, rượu, hút thuốc, nói chung là cấm dùng các loại có độc chất kích thích, hưng phấn. Không nên uống các thứ trà có nhuộm màu hoá học dễ gây ra bệnh ung thư. Chỉ nên uống chè già thiên nhiên không pha chế.


    9. Hầu hết các thức ăn động vật (gồm cả bơ, phomat, sữa) như gà, heo, bò (ở Âu Mỹ) đều được sản xuất và nuôi dưỡng bằng các chất hoá học. Nhưng phần nhiều chim chóc giữa trời, cá tươi và sò, hến thì khỏi cái nạn nhiễm các chất hoá học.


    10. Tuyệt đối đình chỉ việc dùng mọi thứ thuốc men hoặc bất kỳ loại thực phẩm nào khác ngoài các bữa ăn trong thời gian ăn uống để chữa bệnh theo phương pháp OHSAWA.


    11. Phải nhai thật kỹ, nhai cho đến lúc nào có cảm tưởng cơm đã biến thành sữa là được. Muốn mau lành bệnh chừng nào phải nhai nhiều chừng ấy. Mỗi búng cơm phải nhai ít là 100 lần. Thánh Gandhi thường dặn các môn đồ: “Các con phải nhai các thức uống và uống các thức ăn”.


    12. Uống nước ít lại để mỗi ngày chỉ đi tiểu 2 lần (đàn ông) hoặc 3 lần (đàn bà) là vừa.


    Hồi trung tuần tháng 5-1965, trong dịp đến Huế giảng dạy Dịch lý Âm Dương trong phép ăn uống, giáo sư OHSAWA có vạch một thực đơn hàng ngày thích nghi cho sức khoẻ dân chúng Việt Nam xứ nóng của chúng ta như sau:


    Cơm 60%


    Rau cỏ 30%


    Trái cây 10%


    Để sớm thu hoạch những kết quả mỹ mãn trong lúc ban đầu mới áp dụng phương pháp ăn uống theo nguyên lý Âm Dương của Giáo sư OHSAWA, chúng ta nên lưu ý chiêm nghiệm những nhận xét tỉ mỉ và những kinh nghiệm của bác sĩ Pierre Parodi đã đăng trong Nguyệt san “Joie de vivre” số 22 tháng 12 năm 1960 về cách ăn uống theo phương pháp OHSAWA như sau:


    I


    NHỮNG SAI LẦM THƯỜNG MẮC PHẢI TRONG PHÉP ĂN UỐNG THEO PHƯƠNG PHÁP OHSAWA


    - Nấu nhiều quá, nên nhớ mỗi người chỉ dùng nhiều nhất là 2 muỗng xúp dầu thôi.


    - Ăn nhiều quá mà không nhai kỹ nên càng khát nước.


    - Ăn nhiều rau sống quá: chỉ ăn độ 2 muỗng xúp mỗi bữa ăn, nên xem đó như đồ gia vị. Luôn luôn giữ tỷ lệ 70%-90% cốc loại nguyên chất.


    - Nấu đồ ăn cho vào nhiều nước quá. Thường thường cốc loại phải nấu cho hơi khô (nhưng thật chín) để nhai cho ngon miệng.


    - Vì có vài thứ rau sống được phép ăn, người ta ăn nhiều quá. Ví dụ: ăn luôn một đĩa to xà lách cresson hay bồ công anh mà đáng lẽ ra thì vài ba lá là đủ.


    - Vì muốn chóng lành bệnh, ban đầu người ta cố rán nhịn uống nước quá đáng, sau đó thình lình phá giới bằng cách uống hàng lít nước và ăn từng cân trái cây, rất nguy hiểm (dễ bị phù thũng như chơi).


    - Người ta lành bệnh mau không phải vì cố rán quá độ mà thời gian là cần thiết:


    ... hai tháng rất nghiêm nhặt,... hai năm chú ý thận trọng và đừng ra ngoài lề lối quá... nhưng chỉ sau 10 năm người ta mới có thể muốn làm gì thì làm...


    Đối với người già và trẻ con, sự giảm nước phải nới hơn. Họ có thể ăn thêm một ít trái cây, mật ong và thức ăn làm bằng sữa và dùng ít muối hơn. Khi nào cần tăng thêm lượng muối thì phải ăn dưới hình thức trộn lẫn vừng (mè) với muối, và sau đây là cách làm:


    - Mua vừng (mè) nguyên vỏ, bỏ vào trách, đun lửa liu riu khuấy cho đều tay, rang vừa chín thì thôi.


    - Mặt khác rang muối biển cho mất nước đi rồi giã thật nhỏ.


    - Trộn lẫn nhau, bốn phần vừng, một phần muối bột.


    - Bỏ vừng vào cối, giã cùng với muối.


    - Bỏ vào lọ đậy thật kín.


    Người ta ăn lẫn với ít đồ ăn trong bữa cơm từ 1 đến 10 muỗng cà phê một ngày (3 muỗng cà phê mỗi ngày là vừa).


    II


    VÀI SỰ BẮT BẺ THÔNG THƯỜNG LIÊN QUAN ĐẾN PHÉP ĂN UỐNG NÀY


    1. Thiếu chất prôtêin súc vật: những chất prôtêin thảo mộc cũng đầy đủ các acitminê của cốc loại và rau đậu (đậu đỏ, đậu đen, đậu xanh) đủ để bổ túc.


    Vài thứ thảo mộc có một giá trị để bổ khuyết, các cốc loại còn tốt hơn thịt và sữa, thí dụ như khô dầu mè và hướng quỳ (công trình khảo cứu của bà Rondoin) chỉ có prôtein của trứng là hơn nó thôi.


    Những thức ăn bổ khuyết cốc loại là những thức ăn đem lại cho cơ thể những chất mà cốc loại không có.


    2. Thiếu sinh tố C: những khảo cứu mới đây của Nhật và Anh đã chứng minh rằng trong cám cốc loại có chất “nguyên sinh tố C”, có thể chịu nóng trên 150o và từ chất đó cơ thể có thể hoá hợp thành sinh tố C.


    Lại nữa, mỗi bữa ăn hàng ngày có chút ít rau mùi hoặc rau diếp, chẳng những nhiều sinh tố C hơn cam và cà chua, v.v... mà còn được nhiều sinh tố A nữa.


    Những sinh tố D thì ở trong mộng lúa nguyên chất, dầu olive, dầu lạc.


    Chú ý: Đừng ăn thêm mộng lúa mì nữa, đã đầy đủ trong cốc loại nguyên chất rồi.


    Sau hết là sinh tố trong nhóm F do các acit béo không bão hoà của dầu thảo mộc. Các acit béo đó cũng đặc biệt giúp sự biến hoá chất Cholesterol trong cơ thể. Những thứ dầu đáng tin cậy về phương diện đó là dầu mè, dầu olive, dầu hướng quỳ, dầu lạc. Trong phạm vi này dùng mỡ súc vật hoặc macgarin thì có hại - khảo cứu của bà Rondoin công bố năm 1957 trong “Kỷ yếu của Viện Vệ sinh thực phẩm”.


    3. Sự uống ít làm nhọc thận: Thật ra thì trái lại. Chúng ta thử nhắc nhở lại những kết quả tuyệt diệu của phép nhịn ăn khô của Volhard trong bệnh thận viêm cấp khuếch tán (người Đức đi đến mức 7 và 10 ngày phép ăn thật khô).


    Lại nữa, thận có một khả năng bài tiết chất NaCl (muối ăn) trên khả năng mà người ta thường tưởng (khảo cứu của những người Đức ở Buckenwali do bác sĩ Bayle tường trình trong “Croix gammé contre Caducée”. Volhard đã được chỉ định làm vị giám định ở toà án Nuremberg và tường trình kết quả của những công trình khảo cứu đó).


    Nhiều người có thể bài tiết 30gr và nhiều hơn nữa chất NaCl trong 1 lít nước tiểu.


    Nay với thực phẩm cốc loại cho dù có ăn một ngày 4-5 thìa muối vừng đi nữa thì cũng chưa quá 10gr đến 15gr NaCl là một việc rất thường.


    KẾT LUẬN


    Sau hết, nên luôn luôn để ý rằng những khảo cứu của vấn đề dinh dưỡng gồm một phần lớn những điều chưa biết và kẻ nào khôn ngoan hơn cả trong lĩnh vực này là biết trông cậy vào những quân bình thực phẩm cổ truyền đã tỏ ra có khả năng tạo ra được những nòi giống cường tráng.


    Nền tảng của phép OHSAWA đúng là nền tảng của sự dinh dưỡng truyền thống của nhiều dân tộc nông dân cường tráng ở Tây phương cũng như ở Đông phương và Cực đông. Những sự quân bình đó đều bị đảo lộn khắp Tây phương và hầu hết.


    Những yếu tố có thể thay đổi của phép dinh dưỡng này tuỳ theo khí chất hay là bệnh tình, trước hết là lượng nước và trọng lượng muối rồi sau đó tỷ lệ tương đối giữa lượng cốc loại, rau cỏ và tất nhiên cũng tuỳ từng lúc đối với cùng một người bệnh đó mà thay đổi tỷ lệ của các yếu tố nói trên.


    Bác sĩ Pierre Parodi


    LẠNH


    Căn cứ trên kết quả thu hoạch được, giáo sư OHSAWA chia tất cả các bệnh làm 7 loại và đặt theo thứ tự sau đây theo thời gian trung bình để chữa lành một cách hữu hiệu và chắc chắn.


    I. Mệt: Cảm, sổ mũi, ăn mất ngon, đau sơ sơ, kinh nguyệt không đều, v.v... Chữa lành trong 2 hoặc 3 ngày.


    II. Đau đớn: Đau nhức nửa đầu, buồn nôn, đau dây thần kinh, đau trong người và các khớp xương, v.v... Chữa lành trong 4 hoặc 5 ngày.


    III. Bệnh của khí huyết: bần huyết, bệnh huyết hữu (máu không đông hoặc chậm đông), bệnh bạch huyết sang thấp, biến ứng tính, ung sang, ung thư, đái đường, niệu huyết, nhiều chất urée trong máu, suyễn, tim đập chậm, phong hủi, sưng ruột thừa, sưng ruột già, chứng huyết thuyên tắc, tinh thần thác loạn, tính vô khuẩn vô dục (không sinh đẻ), liệt dương, v.v... Chữa lành bệnh trong 15 hoặc 20 ngày.


    *


    IV. Thần kinh mê tẩu cường và cường giao cảm: Chứng phong thấp, chứng đau hông, đau lưng, chứng đau thần kinh háng, sưng khớp xương, chứng ngạnh hoá, bệnh bại liệt, v.v... Chữa lành trong 1 hoặc 2 tháng.


    V. Tạng phủ bị hư hỏng: Bệnh tim, bệnh gan, bệnh thận, bệnh dạ dày, bệnh ruột, bệnh phổi, bệnh ở trong bóng, tử cung, v.v... Chữa lành trong vòng 2 hoặc 3 tháng.


    VI. Bệnh về thần kinh: Mất ngủ, hồi hộp, bải hoải, u bệnh, thần kinh suy nhược, u uất, bệnh hysteria, độc đoán, v.v... Chữa lành trong 3 hoặc 4 tháng.


    VI. Bệnh kiêu căng: Sợ hãi, thất vọng, điên cuồng, chịu đựng, ghen ghét, ích kỷ, hà tiện, tự phụ, cục, tự vận, giết người, v.v... Chữa lành trong 5 năm hoặc nhiều hơn.


    PHỤ LỤC: QUAN HỆ CỦA NHAI KỸ THỨC ĂN


    Tôi xin lưu ý mức cần thiết của sự nhai kỹ cơm cho đến khi nào có cảm giác búng cơm đã biến thành sữa ngọt. Đa số quần chúng không ngờ rằng sự nhai kỹ để thấm nhuần nước bọt các thức ăn cốc loại và có bột là giai đoại tiêu hoá đầu tiên quan trọng và chính do đấy mà sự tiêu hoá trong dạ dày và trong ruột được dễ dàng về sau. Các tuyến nước bọt mỗi ngày trung bình xuất tiết 1 lít rưỡi đâu phải không có công dụng của nó: chất ptyaline trong nước bọt thuỷ phân tinh bột chính thành glucốt và dextrốt theo công thức hoá học sau đây:


    2(C6H10 05)n + nH20 > nCHOn


    Đối với các thức ăn rau, củ, thảo mộc, nhai kỹ phá vỡ các màng cellulot của tế bào làm dễ dàng sự xúc tác các enzym và giúp tác dụng các dịch tiêu hoá được hữu hiệu và nhanh chóng hơn.


    Sự xuất tiết nước bọt càng được tăng gia nhờ sự nhai lâu và nhai kỹ. Người nào muốn được khoẻ mạnh và ăn uống dễ tiêu hoá nên nhẫn nại nhai lâu và nhai kỹ cho đến khi cơm biến thành sữa loãng hãy nuốt. Những người có thói quen vừa ăn vừa uống hoặc chan canh vào mà lùa thường rất lười nhai làm cơm không thấm nhuần nước bọt, cho nên công việc tiêu hoá ở ruột và dạ dày trở nên nhọc nhằn, khó khăn làm suy tổn rất nhiều sinh khí của các cơ quan này.


    Chính nhờ nơi miệng mà người ta chữa lành được các bệnh của dạ dày và ruột, rồi từ đấy ảnh hưởng tốt đẹp đến các tạng phủ khác trong người.


    Horace Fletcher mắc bệnh kinh niên, các y sĩ đương thời đều bó tay và kết luận là ông mắc phải bệnh nan y chưa biết sẽ chết khi nào trong sớm tối. Thấy y khoa tỏ ra bất lực, ông ta đành chiêm nghiệm căn bệnh của mình rồi quyết định nhai thật kỹ các thức ăn và lạ lùng thay sức khoẻ của ông càng ngày càng hồi phục, sinh lực được cải tạo hoàn mỹ đến nỗi về sau ông đã trở thành một nhà thể thao danh tiếng; trước đó ông ta là một con người bạc nhược, hấp hối, bị y khoa ruồng bỏ và khoanh tay kết án "nan y”.


    Sau đây ông Fletcher viết sách, chứng minh bằng những bằng chứng rằng ăn theo lượng thực phẩm thường xuyên và trầm trọng, nếu một khi biết nhai chậm và nhai kỹ thì có thể giảm bớt 50% các thực phẩm và độ 1/2 kg thức ăn khô cũng đã quá đủ để bảo tồn sinh lực và sức khoẻ của chúng ta rồi.


    Từ khi quyển sách của Fletcher ra đời ở phương Tây, các nhà dưỡng sinh mỗi khi nói đến sự nhai kỹ thức ăn thường dùng danh từ “Fletcher hoá” thức ăn và những người áp dụng phương pháp này đề xướng chủ nghĩa Fletcher (Fletcherisme) để cổ vũ sự nhai chậm và nhai kỹ các thức ăn hầu đem lại sức khoẻ và hạnh phúc cho con người.


    Từ xưa ở Ấn Độ, các hành giả Yogi đã thực hành và khuyên mọi người cách nhai kỹ và nhai chậm với mục đích thu hoạch tối đa sinh khí của thức ăn, rút lấy tất cả Prana của thực phẩm để tận dụng cho cơ thể. Theo các vị này, thức ăn một khi nhai mà còn có hương vị ấy là Prana đang còn phát tiết và vị giác đang đồng hoá nhờ các thần kinh vị giác, cho nên ta cứ phải tiếp tục nhai các thức ăn trong miệng cho đến khi không còn tiết ra mùi vị gì nữa và chỉ có như vậy mới khai thác trọn vẹn sinh khí của thực phẩm và có thể nuốt xuống để cho ống tiêu hoá tiếp tục công việc của nó mà bồi dưỡng cơ thể.


    Mukerji, trong quyển “Brahmane et Paria” kể câu chuyện một vị thánh tu khổ hạnh mà ông rất quen biết, mỗi ngày chỉ ăn một bữa cơm rất ít nhờ nhai rất kỹ.


    Trong tập sách “Traitement mental”, Caillet nhấn mạnh rằng: “Các nhà tâm linh học cần phải lưu tâm đến một vấn đề tối yếu mà người ta thường hờ hững xem như không mấy quan hệ: Sự nhai các thức ăn”.


    Đồng ý với các hành giả Yogi, Caillet công nhận rằng sự nhai chậm và nhai kỹ chẳng những có công năng giúp sự tiêu hoá dễ dàng cho dạ dày và ruột mà còn trực tiếp cung cấp khí lực cho các trung tâm thần kinh nhờ sự hấp thụ được sinh khí Prana của vũ trụ chứa trong thức ăn nhờ sự nhai kỹ.


    Tu sĩ Ramacharaka, với kinh nghiệm bản thân tuyên bố rằng một búng cơm nhai chậm và nhai kỹ bổ dưỡng bằng hai búng cơm nhai cẩu thả và cung cấp 3 lần nhiều hơn cả linh khí Prana thực phẩm.


    Đông y quan niệm rằng: “Dương ở hậu thiên mà hư thì phải bổ vị khí; Âm ở tiên thiên mà hư thì nên bổ chân Âm, bởi vị là con của nguyên Dương, lại là các bể chứa thuỷ cốc, cái nguồn để hoá sinh mà làm quản chủ cho chân Dương”.


    Người mà cầu sống khang kiện thì tất phải tìm ở chân Âm, chân Dương làm thuốc mà không biết rõ lẽ ấy có khác gì khắc dấu ở thuyền để tìm gươm thì làm sao có được.


    Nhận xét kỹ phương pháp ăn uống theo nguyên lý Âm Dương trên ta sẽ thấy rằng Giáo sư OHSAWA đã chữa lành bệnh bằng cách dùng thức ăn tự dưỡng tỳ vị, bồi bổ Âm Dương là căn cội con người và từ đó tuần tự giúp sức tương sinh các tạng phủ khác đến chỗ cường tráng khang kiện.


    Diện mạo muôn người dầu khác, nhưng Âm - Dương tạng phủ chỉ có một mà thôi. Danh xưng của vạn bệnh tuy nhiều nhưng chẳng ra ngoài khí huyết Âm Dương bốn chủ. Quan sát kỹ cách chữa bệnh của Giáo sư OHSAWA, ta sẽ thấy Người đã lấy các phép trị một chứng bệnh ấy rút lại căn bản cũng như trị một bệnh mà thôi. Bởi trong nhân loại ai ai cũng khí huyết ấy, tạng phủ ấy, Âm Dương ấy.


    “Nhất bản tán vạn thù, vạn thù qui nhất bản”, biết chỗ yếu ước một lời nói là đủ, không biết chỗ ách yếu thì lưu tán vô cùng...



    PHỤ LỤC IV. NHỊN ĂN THEO YOGA NHỊN ĂN THEO CÁC TUẦN TRĂNG - EKADASHI


    Trong chữ Phạn, Ekadashi có nghĩa là “ngày thứ 11" và chỉ thời gian sau lúc trăng tròn và trăng non khi mặt trăng được mặt trời hỗ trợ và tạo nên một sức hút mạnh đối với trái đất.


    Từ thời cổ, các nhà duy linh đã thực hiện việc nhịn ăn vào các ngày Ekadashi này vì sự bảo vệ thể chất, tâm trí và tinh thần. Do đó, Ekadashi được hiểu là nhịn ăn vào ngày thứ 11 sau lúc trăng tròn và trăng non.


    Giống như trái đất, cơ thể con người gồm 80 phần trăm chất lỏng và 20 phần trăm chất rắn. Đây là điều kiện sinh học căn bản giúp chúng ta thấu hiểu ý nghĩa khoa học của việc nhịn ăn Ekadashi.


    Chúng ta đều biết thuỷ triều lên vào những ngày trăng non và trăng tròn, thuỷ triều xuống vào những ngày thứ bảy của tuần trăng. Trái đất và mặt trăng hút lẫn nhau nhưng có những ngày sức hút này mạnh hơn vì chúng gần nhau. Chính sức hút này đã tạo ra thuỷ triều ở các đại dương và tất nhiên cũng phải có thuỷ triều sinh học lên, xuống do mặt trăng điều khiển. Sức hút của mặt trăng tạo nên tác động vào chất lỏng trong cơ thể con người cũng giống như tác động vào các đại dương của trái đất. Ông Arnold Lieber, một chuyên viên tâm thần ở Miami, Florida, đã khám phá rằng các dòng thuỷ triều sinh học đã tác động đến tâm tính và hành vi của chúng ta. Nhiều bệnh viện tâm thần cho biết vào các ngày trăng tròn và trăng non, hành vi của các bệnh nhân tâm thần càng lúc càng bị kích động và kỳ quái.


    Trong một bài viết có nhan đề “Mặt trăng có điều khiển tâm tính của bạn không?’’, Edga Ziegler cho biết sở Cứu Hoả Phoenix, tiểu bang Arizona báo cáo đã nhận được số lần gọi điện thoại tăng thêm từ 25 đến 30 lần vào những đêm trăng tròn.


    Có bằng chứng cho thấy những ngày thuỷ triều lên khi mặt trăng đến gần trái đất nhất, những người bị suy nhược cơ thể và tâm thần phải chịu nhiều tác động xấu hơn. Các cuộc nghiên cứu đã chỉ rõ ảnh hưởng của các thiên thể đối với chúng ta. Chúng đã gây ra những mất quân bình về kích thích tố và các chất lỏng và nắm một vai trò quan trọng trong việc tạo ra các bệnh thể xác và các hành vi bất bình thường về tâm lý. Các tuyến và kích thích tố sinh lý trong cơ thể chúng ta là nguyên nhân tâm - sinh - lý của một số biểu hiện tâm trí được gọi là “virttis” (vi-ti), chẳng hạn như sợ hãi, tham lam, thù hận, đam mê và giận dữ .v.v... Nếu những tuyến này bị mất quân bình, các chất nội tiết sẽ trở thành bất bình thường, thí dụ như các trạng thái cao hoặc thấp đưa đến các biểu hiện bất bình thường hoặc là “virttis”. Nhiều trạng thái virttis này có thể bị tác động bởi thuỷ triều sinh học của mặt trăng, chủ yếu là do những nhiễu loạn hấp lực.


    Còn có những lực khác cũng gây ra bất quân bình tâm - sinh - lý. Da của thân thể chúng ta là một màng bán thấm, cho phép các lực điện từ di chuyển theo hai chiều để tạo một thế cân bằng động lực. Licher đã nói “mỗi xung đột thần kinh sinh ra một lượng năng lực nhỏ, mỗi tế bào giống như một hệ thái dương cỡ nhỏ đều có điện từ trường mờ yếu của nó. Có thể các lực điện từ lớn phát sinh từ các thiên thể đã tác động đến thế quân bình của thế giới các tế bào vi-ti. Khi thuỷ triều lên rất cao, hoạt động điện từ ở vùng lân cận cũng gia tăng do các bức xạ điện từ được bắn đi từ mặt trăng. Tình trạng này kích thích hệ thần kinh và làm yếu các dây thần kinh. Khi nghiên cứu một số bệnh suy nhược thần kinh, Lieber đã ghi nhận việc tái xuất hiện các triệu chứng suy nhược, nôn nao, mất ngủ và tim đập nhanh trong các ngày thuỷ triều lên cao.


    Người ta cũng thường nhận thấy các cơn đau do sán kim gây ra nhiều nhất là vào các ngày thuỷ triều dâng cao và tác động xảy ra từ thời gian Ekadashi đến các ngày trăng non và trăng tròn.


    Trai giới trong thời kỳ Ekadashi bao gồm cả nhịn ăn và nhịn uống, như thế mới tạo ra được một khoảng trống trong đường tiêu hoá để chống lại sức thu hút của mặt trăng. Cũng cần để ý là tác động thuỷ triều mạnh nhất trong suốt thời gian từ kỳ Ekadashi đến lúc trăng tròn và trăng non. Phải mất ba ngày cơ thể mới lấy lại được mức chất lỏng bình thường sau một ngày nhịn ăn hoặc uống. Vì vậy, tác dụng đối kháng của trai giới kỳ Ekadashi sẽ tổn tại hầu như suốt giai đoạn thuỷ triều lên.


    Nhờ tác dụng quân bình này, việc nhịn ăn uống tạo được nhiều lợi ích cho cả cơ thể và tâm trí. Lợi ích đầu tiên và quan trọng nhất là duy trì thế quân bình của kích thích tố và các chất nội tiết khác trong các tuyến và tế bào giúp sự điều khiển chức năng của tất cả cơ quan, các thay đổi hoá học, sự tăng trưởng của các tế bào và các chuyển hoá sinh học khác.


    Mọi người trên 12 tuổi nên thực hiện trai giới vào thời kỳ Ekadashi. Trai giới vào các ngày trăng tròn và trăng non mang lại những kết quả tốt hơn. Việc bắn phá của các lực điện từ vũ trụ vào các tế bào nhỏ bé của chúng ta sẽ bị giảm hoặc không có tác dụng nào hết, nhờ vậy thế quân bình sẽ được đảm bảo hữu hiệu hơn.


    Qua các thử nghiệm, người ta đã thấy các bệnh nhân suy nhược thần kinh được chữa khỏi nhờ các kỳ trai giới có hệ thống này. Nhiều trạng thái bất bình thường của tâm trí mà nhiều người trên thế giới ngày nay vấp phải sẽ giảm bớt. Sự kích thích tính dục quá độ, giận dữ, sợ hãi, tham lam và đam mê v.v... sẽ được thăng hoa nhờ các kỳ trai giới này. Ngay cả bệnh huyết áp cao cũng có thể bị chế ngự một cách hữu hiệu. Nhiều người sợ rằng nhịn ăn sẽ làm họ suy nhược. Đây là một nỗi sợ hãi không đúng. Nhịn ăn một ngày sẽ làm cho bộ máy tiêu hoá được nghỉ ngơi, do đó sẽ giúp cho bộ máy này hoạt động tốt hơn trong tương lai.


    Hơn nữa, trai giới vào kỳ Ekadashi còn có ý nghĩa đặc biệt đối với những người tập Thiền. Nó giúp chuyển biến các hoá chất của cơ thể thành những chất tinh tế như phần ngoại chất (citta) của trí não và còn lên những mức độ cao hơn nữa.


    Ekadashi không phải chỉ có nghĩa nhịn ăn, uống mà còn có một ý nghĩa tinh thần nữa: sống tiếp cận với Đấng Thiêng Liêng. Muốn đạt được trạng thái này, ta phải lánh xa các hoạt động hướng ngoại của ngũ quan và trụ vào ý niệm Ý Thức Vũ Trụ. Nhờ triệt để trai giới vào ngày Ekadashi cùng với việc trụ vào những ý niệm thiêng liêng, một người khát vọng sẽ có thể giữ cho mình lành mạnh cả thể xác lẫn tâm trí hầu thành đạt được mục tiêu của cuộc sống.


    Sau đây là vài điểm thực tiễn cần ghi nhớ khi nhịn ăn:


    1. Không được ăn nhiều trước và sau khi nhịn ăn.


    2. Nhịn ăn quá độ cũng có thể nguy hiểm, mặc dầu có một số người cần nhịn ăn lâu để chữa bệnh.


    3. Cách tốt nhất để chấm dứt một kỳ nhịn ăn là uống một ly nước chanh có bỏ thêm chút muối. Kế đó ăn một trái chuối chín để làm trơn đường ruột, sau đó vài phút, có thể dùng một bữa ăn nhẹ gồm trái cây và sữa chua.


    Để nghiên cứu những bí ẩn về ảnh hưởng của mặt trăng lên quả đất và con người, ý nghĩa của ngày Ekadashi và việc nhịn ăn trong những ngày đó quan trọng như thế nào. Mời các bạn đọc phần tư liệu tham khảo mà chúng tôi mới nhận được:


    Từ ngàn xưa, các nhà chiêm tinh, các nhà sử học, các nhà triết học đều để tâm nghiên cứu về sự liên quan giữa các pha của mặt trăng và các sinh vật sống trên quả đất cũng như các hiện tượng trên quả đất. Ngày nay, khoa học đã chứng minh được sự liên quan ấy, dù rằng mặt trăng cách xa quả đất chúng ta ở khoảng 384 400 km. Từ lâu con người đã đặt ra tuần lễ. Tuần lễ quả thật là thần diệu, nó có thể xem như là1/4 phần của chu kỳ giao hội quay của mặt trăng hay của tháng. Mặt trăng bao gồm bốn pha chính, đó là trăng non, trăng đầu, trăng rằm và trăng cuối tháng. Điều kỳ lạ mà khoa nội tiết học đã khám phá mới đây là một số chất nội tiết trong cơ thể thường thay đổi theo nhịp của tuần lễ một cách hết sức chặt chẽ. Sự liên quan ấy theo các nhà nghiên cứu xưa và nay về vấn đề này đều quy vào mặt trăng. Mặt trăng có tác dụng thu hút (hấp lực) mạnh đối với quả đất hơn mặt trời vì mặt trăng gần quả đất hơn. Đối với thủy triều ở biển thì chính mặt trăng đã gây nên thủy triều dâng cao. Sức hút ấy chiếm 70 % (còn mặt trời chỉ 30% thôi).


    Ngày nay các nhà khoa học đã phải công nhận rằng quả thật là có nhịp hàng tháng hoặc sự tác động hàng tháng lên cơ thể sinh vật. Ở con người, phụ nữ là dễ thấy hơn cả. Từ năm 1890, một vị thầy thuốc dưới thời Nga Hoàng đã phát hiện ra rằng cơ thể phụ nữ có liên hệ mật thiết với mặt trăng và theo chu kỳ hàng tháng. Một thí dụ điển hình là chu kỳ kinh nguyệt xảy ra mỗi tháng ở cơ thể người phụ nữ và chu kỳ này cứ lặp đi lặp lại tháng này sang tháng nọ. Khi công nhận rằng có nhịp hàng tháng tức là công nhận có sự liên quan ảnh hưởng của mặt trăng lên cơ thể con người.


    Năm 1959, hai bác sĩ Hoa Kỳ là Manaker A. và Manaker V. đã đưa ra nhận xét rằng những ngày trăng tròn thường phù hợp với sự rụng trứng, sự thụ thai. Hai ông đã theo dõi và phân tích số liệu ngày tháng từ 250 000 ca sinh nở để đi đến kết luận ấy. Năm 1973, các nhà nghiên cứu khác của Hoa Kỳ cũng tiếp tục nghiên cứu về vấn đề này, và để kết quả được khá chính xác hơn, họ phân tích, nghiên cứu và theo dõi hơn nửa triệu ca sinh nở khác ở Hoa Kỳ. Kết luận sau cùng đưa ra là “sự rụng trứng phần lớn trùng vào lúc trăng tròn”.


    Mới đây, một số bác sĩ ở tiểu bang Florida đã khám phá ra rằng những ca mổ trùng vào ngày trăng rằm (trăng tròn) thường chảy máu nhiều sau mỗi lần mổ. Xác suất thống kê cho thấy trường hợp này chiếm tỷ lệ rất cao, đến 82%.


    Nhà khoa học Pháp là Liber và Sherin đã khẳng định rằng: các sinh vật sống trong môi trường luôn luôn bị môi trường tác động nhưng các sinh vật ấy còn bị mặt trăng (và cả mặt trời) tác động lên nữa. Ở trẻ sơ sinh, khi chúng bú sữa xong nếu ảnh hưởng của lực tác động của mặt trăng lên quả đất mạnh thì dễ gây nên hiện tượng “ọc sữa” vì sức hút của mặt trăng sẽ nâng, hút sữa trong dạ dày đứa bé lên giống như tạo sức hút lên nước biển vậy. Hiện tượng “triều lên”, “triều xuống” ở quả đất ngày nay ai cũng biết là do ảnh hưởng sức hút của mặt trăng gây nên.


    Riêng về sự ion hoá khí quyển cũng như hiện tượng điện từ ngày nay đã cho thấy có sự đổi thay tuỳ theo pha của mặt trăng.


    Ảnh hưởng của mặt trăng lên quả đất và con người nay đã thấy rõ, nhưng điều làm mọi người lo ngại nhất ấy là vấn đề tội ác. Cho đến nay, các nhà nghiên cứu vũ trụ đã cho rằng: sự hung bạo ở con người thường phát sinh mạnh hơn do tác động của một số hành tinh trong vũ trụ lên cơ thể các sinh vật trên quả đất. Theo A. Liber thì cơ thể con người có đến 80% là nước, khi trăng tròn, lực tác động mạnh của mặt trăng lên lượng nước ấy làm xáo trộn mọi hoạt động sinh lý và tâm tính ở con người. Vì thế sự suy nghĩ, cân nhắc bị lệch lạc, dễ gây ra những hành động sai lầm. Riêng về não bộ, dịch não tuỷ cũng bị sức hút của mặt trăng tác động khiến cho trung tâm thần kinh dễ bị tổn thương sai lệch. Từ lâu các nhà viết tiểu thuyết thường mô tả những cảnh rùng rợn dưới ánh trăng, có thể đây là một sự trùng hợp. Tuy nhiên qua sự tính toán của cảnh sát Nhật và ở Hoa Kỳ thì bạo lực và tội ác thường xảy ra vào những đêm trăng tròn.


    Các dữ kiện khoa học cho thấy việc nghiên cứu những ảnh hưởng chiêm tinh học này (thông qua sự ảnh hưởng của mặt trăng, mặt trời...) rất đáng được các nhà thực vật học cũng như động vật học quan tâm. Hàng ngàn năm nay con người đã nhìn thấy ảnh hưởng của kỳ trăng khuyết và trăng tròn đến cuộc sống của con người và thực vật. Người nguyên thuỷ làm lễ thờ cúng mặt trăng vào thời điểm đó họ tổ chức lễ hội linh đình và nhảy múa cuồng nhiệt. Nhiều điều và những hiện tượng siêu nhiên được coi là có liên quan tới ngày này, hiện nay trên thế giới vẫn còn nhiều nông dân chỉ gieo hạt vào những ngày trăng tròn.


    Một số hiện tượng sinh học hấp dẫn cũng có thể giải thích bằng chiêm tinh học. Ví dụ, các nhà nghiên cứu về biển tìm thấy một giống trai có hai mùa sinh sản mỗi năm vào kỳ trăng tròn tháng năm và trăng tròn tháng mười một. Một giống san hô ở Úc Châu có ba giai đoạn sinh sản, giai đoạn thứ nhất vào lúc trăng non (thượng tuần) của các tháng từ tháng mười hai đến tháng tư, giai đoạn thứ nhì vào lúc trăng tròn của tháng bảy và tháng tám, giai đoạn thứ ba vào kỳ trăng mới chuyển sang tròn của tháng năm và sáu. Loài giun biển Palolo, được người dân đảo Samoa và đảo Fyi dùng làm thực phẩm, rời quê hương của chúng trong các rặng san hô bơi vào bờ của hai đảo này thành những đàn đông vô kể hai lần mỗi năm, trong tháng mười và trong tháng mười một, và trong hai ngày liền, “vào bình minh ngày có trăng bán nguyệt hạ tuần và vào bình minh ngày hôm trước.” Trong năm nhuận âm lịch loài giun này cũng biết điều tiết cho đúng tháng dương lịch, và các nhà nghiên cứu không thể giải thích được những điều kỳ lạ này.


    Mặt trăng cũng có ảnh hưởng đối với các sinh vật biển khác như loài cá vùng biển sâu đi vào vùng bờ biển cạn hay vùng nước ngọt ở cửa sông và trong sông để sinh sản theo chu kỳ trăng. Chu kỳ sống của các loài động vật khác cũng cho thấy có ảnh hưởng chiêm tinh học. Mỗi năm vào ngày mười chín tháng ba, một loài chim én ở California bay về tổ sau thời gian trú đông ở miền nam, và chúng sẽ bay đi vào ngày hai mươi ba tháng mười.


    Loài người ngày nay không nghi ngờ gì hiệu ứng của các vết đen trên mặt trời đối với từ trường và khí hậu trái đất, hay sức hút của mặt trăng gây ra thủy triều và có ảnh hưởng tới mặt đất. Người Phương Đông, cụ thể là người Việt Nam ta đã từ lâu kết luận được sự ảnh hưởng của mặt trăng và chu kỳ con nước tới việc làm ăn và sinh sản thế nào qua lời ca dao:


    Phải ai buôn bán trăm nghề. Phải ngày con nước đi về hay không. Phải ai giao hợp vợ chồng. Phải ngày con nước khó lòng nuôi con.


    Hay trong câu sau cho thấy việc sinh sản của người bị kỳ trăng tác động sẽ như thế nào:


    Trai mùng một, gái hôm rằm. Nuôi thì nuôi vậy nhưng căm dạ này.


    Nghĩa là những cô gái chàng trai nào sinh vào ngày mùng một hoặc chính vào ngày rằm thì thường là ghê gớm, đáo để và khó nuôi!


    Theo sự nghiên cứu của giáo sư OHSAWA thì những nhà cách mạng hay sinh vào tháng 5. Còn những nhà triết học, tư tưởng hay sinh vào tháng 10.


    Người Roman cổ xưa biết rõ rằng bệnh điên thường gây ra bởi mặt trăng “lunancy” (chứng điên rồ) xuất xứ từ tiếng Latinh “luna” (mặt trăng). Các nhà Yoga đã sớm khám phá ra những ngày này gọi là ngày Ekadashi (ba ngày trước khi trăng khuyết và trăng tròn, tức là 3 ngày trước rằm và mùng một), và cho rằng người ta dễ bị rối loạn cảm xúc vào những ngày này. Các nhà khoa học Anh chỉ ra rằng trong tháng có hai ngày mà sự rung động điện tử của cơ thể thay đổi tận gốc, đó là thời điểm trước trăng tròn và trước trăng mọc ba ngày, hai thời điểm này trong tháng có sự khác biệt rõ rệt về điện lực giữa sự dao động điện tử ở rốn và não. Các nhà khoa học thắc mắc tại sao hai ngày đặc biệt đó lại có sự thay đổi như vậy. Nhưng những bậc thầy Yoga đã hiểu rõ ý nghĩa của những ngày này và thường nhịn ăn vào thời gian đó. Nhiều người trong suốt giai đoạn này có thể bị kích thích, bồn chồn, bực tức, còn những người nhịn ăn không uống nước trong ngày đó sẽ thấy rằng trí não của họ trở lại thăng bằng và bình tĩnh.


    Tìm đọc “Thai giáo quan trông như thế nào” NXB VHDT, các bạn có thể thấu hiểu hơn giá trị của thức ăn liên quan đến phẩm chất đời sống của một con người ngay từ trong bào thai.


    THỨC ĂN VÀ SỰ CHỌN LỰA


    Chúng ta ăn những thức ăn gì thì con người chúng ta cũng tương ứng như vậy. Cách đây hàng ngàn năm, các nhà hiền triết Yoga đã nhận thấy thức ăn ảnh hưởng quan trọng đối với trạng thái cơ thể và trí óc ta. Qua phương pháp nội tâm sâu nghiên cứu bản chất của vũ trụ, các đạo sĩ Yoga cổ xưa đã nhận ra điều mà khoa học hiện nay bắt đầu phát hiện là: toàn bộ vũ trụ biểu hiện ra đều bao gốm các rung động, rung động của năng lượng và cuối cùng là rung động của ý thức. Trong vũ trụ của nhiều sóng khác nhau, cái mà chúng ta gọi là vật chất (chất đặc, chất lỏng, khí), tiếng động, ánh sáng, tư tưởng, tất cả chỉ là sóng rung động ở các tần số khác nhau, từ thô thiển đến “tinh tế”. Tất cả các loại thức ăn cũng tràn ngập những rung động tinh tế của riêng mình ở các tần số khác nhau, nó ảnh hương tới cơ thể và tâm trí người. Do đó, chúng ta cần hiểu các loại thức ăn, để biết cách lựa chọn nó để giúp cơ thể khoẻ mạnh, tinh thần thoải mái và tâm linh khai mở.


    1. Lực tri giác và các thức ăn tri giác:


    Đó là lực đầu tiên của vũ trụ về sự nhận thức, tình thương, sự bình an, sự trong sáng và niềm vui. Các thức ăn tri giác (có sự hiểu biết trong khi lựa chọn và hiểu biết về cách thức ăn uống) tạo sức khoẻ cho cơ thể và sự thanh thản nhất cho tâm trí. Nhóm này gồm các loại trái cây, phần lớn các loại rau đậu, ngũ cốc, sữa, sản phẩm của sữa. Chúng cung cấp nhiều dinh dưỡng, prôtêin, đường chất béo, các loại vitamin và các chất khoáng thiết yếu. Trong đó đậu nành là thức ăn kỳ diệu nhất vì cung cấp 8 acid amin cần thiết cho cơ thể và chứa lượng protein cao hơn gấp đôi so với thịt cá, chất lecithin trong đậu nành là thành phần tạo ra sức thanh xuân thần kỳ: nó làm tăng cường trí nhớ và khả năng của trí tuệ nhờ nuôi tế bào não, thần kinh, làm vững chắc các tuyến, tái lập các mô của cơ thể, cải thiện tuần hoàn, hô hấp, củng cố xương và tăng cường sức đề kháng đối với sự thương tổn, hồi phục năng lượng và sức lực đã mất.


    2. Lực biến dịch và thức ăn biến dịch :


    Lực biến dịch là lực của sự chuyển động không ngừng hoạt động hoặc biến đổi. Nó làm chúng ta dễ bị kích động, bồn chồn, thao thức, không yên, không thoải mái. Nhóm thức ăn này có catein như cà phê, trà, các thức uống có cacbonat, chocolat, các đồ gia vị cay như ớt, các đồ ăn lên men và một số thuốc tân dược.


    Là lực của sự đần độn, trì trệ, thối rữa và chết chóc. Lực này hoạt động làm chúng ta thấy buồn ngủ, uể oải, lờ đờ, thiếu sinh lực và sáng kiến. Các thức ăn nhóm này có: thịt, cá, hành, tỏi, trứng, các loại nấm, rượu, thuốc lá, ma tuý và thức ăn đã lên men thối, ôi và ươn thối. Nhũng ai mưu cầu có được sức khoẻ cho cơ thể và nâng cao tâm trí phải tránh các thức ăn này.


    Để luyện tập cơ thể với hiệu quả tốt, chúng ta nên chọn chế độ ăn chay với các loại thức ăn thích hợp, bổ dưỡng và có lợi ích cho việc khai mở tâm linh.