090. Trang [0980-0991] + thaole92 soát xong

26/5/16
090. Trang [0980-0991] + thaole92 soát xong
  • :rose:
    Ngày Mậu dần tế Chạp.

    Lấy Phó đô đốc chế Hữu dinh quân Thần sách là Nguyễn Văn Trí làm Phó đô thống chế Tả dinh, Tả tham tri Hộ bộ là Đoàn Viết Nguyên làm Hữu tham tri Công bộ.

    Trấn thủ Hà Tiên là Trần Văn Trinh chết, lấy Hiệp trấn là Mạc Công Du thay.

    Trần Chấn và Nguyễn Hựu Nhân từ Quảng Đông về. Vua hỏi về tình hình nước Thanh động tĩnh như thế nào. Thưa rằng : “Các tỉnh yên lặng cả, duy khoảng tháng 4 năm nay ở Yên Kinh có gió to nổi bay cát tung đá, trời đất tối đen, chỉ có việc ấy là lạ thôi”.

    Triệu bảo hộ Chân Lạp là Nguyễn Văn Thụy về thành Gia Định, sai Tham tri Trần Văn Tuân lãnh việc bảo hộ. Trước Thụy thay Nguyễn Văn Xuân làm bảo hộ, người Chân Lạp không thích Thụy mà xin giữ Xuân lại, gửi thư đến Gia Định. Thành thần tâu lên. Vua dụ rằng : “Triều đình làm việc, cần hợp lòng người, người đã không muốn, không nên cưỡng ép. Nếu cưỡng ép thì gây nên hiềm khích ở chốn biên cương, không phải là kế hay. Nhưng Văn Thụy là bảo hộ đã có mệnh lệnh rồi, nay nếu không có gì mà triệu về thì ra việc đổi đặt tướng ở biên cương hình như phải chiều theo tình ý người Man, sự lấn dần cũng không thể để cho lớn lên được. Nay nên lấy cớ khác mà triệu Thụy về mà cho Tuân thay, để cho việc quyền nghi thay đổi hình như là bởi thành thần, mà co hay duỗi, cho hay lấy thì mệnh lệnh vẫn ở triều đình, như thế thì lòng khinh nhờn của dân Man có thể ngầm bẻ gãy được”. Bèn sai Tuân đi, mật dò việc biên cương để tâu lên. Lại sắc cho thành thần từ nay chương sớ của vua Phiên dâng lên phải mở ra xem trước, có nên tâu sẽ tâu.

    Lấy Chưởng cơ Lương Văn Vân hành chức Quản cơ Trung kiên ở Quảng Ngãi, Cai cơ Đinh Công Tuyết làm Quản cơ cơ Hậu kiên.

    Hạ lệnh cho Gia Định và Bắc Thành từ nay tiền ba lễ(1) của thuyền buôn nước ngoài và tiền cai tàu đều đem chứa ở kho thành, hằng năm đến tháng cuối mùa đông đem sớ dâng lên, rồi xuất tiền ở kho Kinh chia cho các quan. (Tiền tễ cai tàu, hằng năm thu vào có khi đến hơn 8,9 nghìn quan; năm Gia Long thứ 4 [1805] chia làm 10 thành, cho riêng văn ban và võ ban 1 thành, quan cai tàu 2 thành, còn 6 thành thì chia cho hoàng tử, hoàng nữ, hoàng tôn, tả hữu cung tần, cho đến các quan văn võ lớn nhỏ trong ngoài, trường đà, công tính, người giám tự họ Lê họ Trịnh, gồm 10 bậc. Năm thứ 5 thì chia làm 10 thành, lấy 1 thành cho riêng quan cai tàu, còn 9 thành cứ theo bậc mà chia cho, về sau ghi làm lệ mãi mãi; hằng năm đến tháng cuối đông hai thành nộp tiền về Kinh. Đến đây mới ra lệnh để trữ ở thành, mà lấy tiền ở kho Kinh chia cấp).

    (1) Ba lễ: Lễ dâng hoàng thái hậu, lễ dâng vua, lễ dâng hoàng thái tử.

    Đốc học Sơn Nam thượng là Dương Vịnh vì ốm phải nghỉ việc. Lấy Tri phủ Nghĩa Hưng là Nguyễn Mậu Bách làm Đốc học Sơn Nam thượng.

    Dựng thêm kho Bình Định, sai dân đi lấy gỗ, một gian kho cấp tiền 180 quan.

    Trấn thủ Cao Bằng là Đặng Phúc Trung chết; lấy Án phủ sứ Hoài Đức là Nguyễn Bá Xuyến thay.

    Chánh Tuần Hải đô dinh là Hoàng Trung Đồng bị miễn chức. Binh dinh Tuần Hải có người theo người Chà Và làm giặc, quan quân bắt được. Trung Đồng phải tội mất chức. Lấy Phó đô dinh là Thái Văn Quý (người Thanh theo Hà Hỷ Văn quy thuận) lãnh quân ấy.

    Bỏ thuế mỏ kẽm ở An Lãng trấn Hải Dương và thuế mỏ diêm tiêu ở Tường Phong trấn Hưng Hóa. (An Lãng mỗi năm nộp thuế kẽm 720 cân; Tường Phong mỗi năm nộp thuế diêm tiêu 500 cân. Năm nay hai mỏ không có người khai cho nên bỏ thuế).

    Gọi các đội thuyền Ngũ bính, Tuần thành, Tam tráng ở Quảng Bình và các vệ đội mới kén ở Quảng Trị, đến tháng giêng năm sau đều đến Kinh.

    Ấm thụ cho con cháu khai quốc công thần Nguyễn Hữu Tiến là Nguyễn Hữu Tài, và con cháu Nguyễn Hữu Dật là Nguyễn Hữu Đạt, đều làm đội trưởng để coi việc thờ tự.

    Nguyễn Văn Nhân và Phạm Đăng Hưng làm sách đăng sự trạng công thần Vọng Các và con trưởng, cháu trưởng cộng hơn 300 người. Vua mở xem kỹ càng, chia bậc thấp cao, ai được dự ơn tập ấm thì sai chua vào sách, đợi xét lại rồi sau thi hành.

    CHÍNH BIÊN

    ĐỆ NHẤT KỶ - QUYỂN LIX

    THỰC LỤC VỀ THẾ TỔ CAO HOÀNG ĐẾ

    Kỷ mão, Gia Long năm thứ 18 [1819] (Thanh - Gia Khánh năm thứ 24), mùa xuân, tháng giêng, ngày Tân sửu làm lễ xuân hưởng. Sai Hoàng thái tử nhiếp tế ở Thái miếu.

    Sửa đắp thành Thăng Long. Sai 5.300 người ở Ngũ quân và Tượng quân ở Bắc Thành sung làm việc, miễn cho năm nay không phải về Kinh, thưởng tiền 35.000 quan, gạo 35.000 phương.

    Hiệp trấn Sơn Nam hạ là Nguyễn Quang Huyên chết; lấy Hiệp trấn Sơn Tây là Dương Công Tòng là Hiệp trấn Sơn Nam hạ, Ký lục là Hoàng Văn Diễn làm Hiệp trấn Sơn Tây. Trước bầy tôi cử Diễn làm Hiệp trấn Sơn Nam hạ. Vua nói : “Trấn ấy nhiều việc, quân lính của cải xuất ở đấy, so với trấn khác lại quan trọng hơn. Diễn là người trong sạch có thừa mà tài năng không đủ, sợ không làm nổi, đổi cho Tòng làm Hiệp trấn Sơn Nam hạ mà lấy Diễn thay Tòng”.

    Trấn thần Nghệ An xin lấy Phó đội Nguyễn Văn Phê làm Quản châu châu Quy Hợp, Thủ hợp Nguyễn Đức Lệ làm Tri châu. Vua không cho. Hạ lệnh lấy Phê làm Án thủ đồn Quy Hợp, Lệ làm thủ hiệp.

    Sai trấn Vĩnh Thanh đắp hai bảo Tân Châu và Chiến Sai; lại ở thủ sở cũ Châu Đốc đắp một bảo gọi là bảo Châu Giang. Bảo đắp xong, điều động lính cơ bốn trấn hạt Gia Định, chia phiên đóng giữ. (Bảo Tân Châu 40 người, bảo Châu Giang, bảo Chiến Sai, mỗi bảo 30 người). Lấy Cai cơ Võ Văn Sáng giữ bảo Tân Châu kiêm quản bảo Chiến Sai, theo quyền quản hạt của Vĩnh Thanh. Cai đội Trần Văn Ngoan giữ bảo Châu Giang, theo quyền quản hạt của Châu Đốc.

    Đào kênh Thông ở Phiên An đến sông Mã Trường, [sông Ruột ngựa]. Sai Phó tổng trấn Gia Định là Hoàng Công Lý lấy dân Phiên An hơn 10.000 người, cấp cho tiền gạo mà sai làm việc. Khi công việc xong, cho tên là sông An Thông. (Sông ở phía tây nam trấn, trước có sông từ kênh Thông, qua Sài Gòn đến Lao Giang, xa xôi, nhỏ hẹp, quanh co, nông cạn. Đến nay đổi đường cũ, đào kênh mới, từ kênh Thông thẳng đến sông Mã Trường, dài hơn 9 dặm, ngang 7 trượng 5 thước, sâu 9 thước). Đường sông đã thông, thuyền bè đi lại ngày đêm nối nhau, bèn thành chỗ bến sông đô hội, người ta đều khen là tiện lợi.

    Sai Chưởng Tả quân Lê Văn Duyệt đi kinh lược địa phương các xứ Nghệ An, Thanh Hoa. Lấy bọn Phó đô thống chế Nguyễn Văn Trí và Vệ úy Tôn Thất Huy lệ theo việc binh, Tham tri Lê Bá Phẩm giúp việc quân cơ, Tham bồi Nguyễn Hựu Nghi sung làm giấy tờ trong quân.

    Vua thấy hai trấn ấy hằng năm bị đói, dân xiêu dạt phần nhiều họp nhau làm giặc cướp, quan sở tại không thể ngăn được, bèn sai Duyệt đi, việc thường đều cho tùy tiện xử đoán, duy việc lớn thì mới tâu lên.

    Chiếu dụ quan hai trấn rằng : “Địa phương các ngươi gần đây giặc cướp hay nổi, nhân dân mắc khổ. Cần phải một phen xếp đặt để dẹp yên cho dân được yên ổn làm ăn. Đặc sai Chưởng Tả quân bình tây tướng quân quận công Lê Văn Duyệt đổng lĩnh đại binh đi kinh lược địa phương, phàm mọi cơ nghi đánh bắt chế ngự đều cho tùy nghi điều độ; tình hình của quân lính, đau khổ của nhân dân, điều lợi đáng làm, điều hại đáng bỏ, cùng những việc quan lại tham ô, tiểu dân oan uổng, cũng đều tùy việc tâu lên. Vậy bảo cho nha môn lớn nhỏ ở địa phương các ngươi nên cẩn thận chức vụ mà làm việc như cũ”.

    Lại dụ dân chúng hai trấn rằng : “Một ấp mười nhà, tất có người trung tín huống chi là hai trấn lớn ! Thanh Hoa vốn tiếng là hiếu nghĩa, lại là nơi quê hương của nhà vua. Nghệ An tục chất phác, dân thuần hậu, cũng là quận tay chân của trẫm. Gần đây lụt hạn luôn luôn mà sinh đói kém, tuy triều đình đã nhiều cách cứu chữa, thường ban ơn xá miễn, nhưng mà cùng khốn chưa lâu, dân đau chưa lại, đến nỗi dân hèn nghèo ngặt qua họp nhau làm trộm cướp, quấy rối xóm làng, trẫm nghĩ rất thương. Vậy đặc sai kinh lược đại thần đi kiểm xét quan lại, thăm giúp nhân dân, gọi họp dân xiêu dạt, xét xử nổi oan uổng, ai quy phục theo mệnh thì không bắt tội chết, ai thuận lòng ra sức thì khuyên để hưởng vui, cốt sao yên ủi vỗ về, uốn nắn giúp đỡ, để đưa đến chốn an toàn mà thôi”.

    Cho con Cai bạ Biên Hòa Võ Công Chấn là Võ Công Tân sung Cống sĩ viện.

    Tiết Vạn thọ, cho Hoàng thái tử và các tước công hoàng tử hoàng thân ăn yến ở điện Cần Chánh, các quan văn võ ăn yến ở nhà tả vu hữu vu.

    Vua thung dung cùng Hoàng thái tử bàn về chính sự của đế vương các đời, đến khi mặt trời xế bóng mới thôi.

    Lấy Phó vệ úy vệ Hùng cự nhị Tượng quân là Tống Văn Sở làm Vệ úy, Cai đội Thị nội là Trương Công Tuyên làm Phó vệ úy vệ Trung hầu, quản tám đội Trung hầu (từ đội 2 đến đội 9), kiêm quản ba đội Chấn uy.

    Biên bổ đội Tân nhất làm mười đội của vệ Trung cần Thị nội.

    Cho Vệ úy ba vệ Thị tượng nhất nhị tam quân Thị nội trật tòng nhị phẩm, Phó vệ úy trật chánh tam phẩm, cũng như chánh phó vệ úy quân Thị trung.

    Cho con cháu nhà Lê là Lê Duy Thản (con Lê Hiển Tông) làm Cai cơ giám thủ việc thờ tự nhà Lê. Duy Khải ốm chết nên lấy Thản thay.

    Lấy Phó vệ úy vệ Hữu bảo nhị Hữu quân là Nguyễn Văn Xuân làm Vệ úy, Phi kỵ úy Ngô Công Chính làm Phó vệ úy, Cai đội Tượng quân Nguyễn Văn Chức làm Quản cơ cơ Bình tượng, Nguyễn Văn Thị làm Quản cơ cơ Thịnh tượng, Trương Văn Hán làm Quản cơ cơ Trung tượng, Cai cơ Nguyễn Văn Bàn làm Quản cơ cơ Tiền kích, Trưởng hiệu Nguyễn Sĩ Lịch làm Phó quản cơ, Lê Công Trực là Phó quản cơ cơ Trung kích, Nguyễn Hữu Diễn làm Phó quản cơ cơ Tả kích.

    Tổng trấn Bắc Thành là Lê Chất lại xin về Kinh để vào chầu. Vua dụ rằng : “Công việc ở thành còn nhiều, hãy để cho ngươi vài tháng mưu tính xếp đặt, sẽ cho triệu cũng chưa muộn”.

    Đào cho Vũng Cù [Cù áo] ở Định Tường thông với sông Mỹ Tho. Sai Trấn thủ Nguyễn Văn Phong lấy hơn 9.000 dân làm việc, hàng tháng cấp cho tiền gạo đầy đủ. Vài tháng công việc xong, cho tên là sông Bảo Định (Cửa sông gối vào sông Hưng Hòa, cách phía đông bắc trấn thành 47 dặm rưỡi. Năm trước sông nhỏ Vũng Cù chảy đến quán Gai, sông nhỏ Mỹ Tho chảy đến chợ Phú Lương, quãng giữa hai sông ruộng đất Nam Bắc nối liền. Triều Hiển Tông, Thống suất Nguyễn Cửu Vân đi đánh Chân Lạp đã từng đóng quân ở đấy. Đắp lũy dài từ quán Gai đến chợ Phú Lương, đào chỗ tận cùng của sông Vũng Cù và sông Mỹ Tho cho liền nhau dẫn nước làm hào bên ngoài, sau nhân dòng nước khơi sâu xuống, cho thành đường kênh. Nhưng đông tây dài xa nhiều chỗ quanh co nhỏ hẹp, bùn cũ ứ đọng lâu ngày cạn lấp, thuyền không đi được. Đến nay mới nhân lối cũ mà đào sâu rộng thêm, hoặc khai kênh mới cho liền nhau, dài chừng 14 dặm, ngang 7 trượng 5 thước, sâu 9 thước). Từ đấy dòng sông thông cả, người đều được tiện lợi.

    Tháng 2, ngày Tân mùi, tế Trời Đất ở đàn Nam giao. Sai Hoàng thái tử nhiếp tế.

    Cho Tham hiệp Hà Tiên là Phạm Nhữ Đằng làm Hiệp trấn.

    Tham hiệp Sơn Tây là Trần Văn Phận ốm phải nghỉ việc. Lấy Tri phủ Quảng Oai là Phan Hữu Nhượng làm Tham hiệp Sơn Tây.

    Triệu Ký lục Quảng Nam là Nguyễn Xuân Tình về Kinh. Lấy Cần Chánh điện học sĩ Hồ Công Thuận làm Ký lục Quảng Nam.

    Ngày Đinh sửu sửa lại Thái miếu. Sai bọn Trương Tấn Bửu, Nguyễn Văn Vân, Nguyễn Khoa Minh trông coi công việc. Thưởng lính và thợ 5.000 quan tiền. Quan thì thưởng tiền bổng 1 tháng.

    Sửa đồ thờ ở các miếu.

    Lê Văn Duyệt đã đến Nghệ An, tuyên bảo uy đức của triều đình, hỏi thăm nỗi khổ của nhân dân. Bọn giặc cướp nghe tin tan vỡ, hoặc đến cửa quân xin thú, hoặc bị quan quân bắt giết, trong cõi nghiêm hẳn.

    Duyệt dâng sớ nói : “Dân Nghệ An điêu hao quá lắm. Xét về cớ đến nỗi như thế thì có hai mối là quan thì không có tài năng vỗ trị, lại thi đua nhau tham lam tàn ngược. Dân đi trộm cướp là do đấy cả. Xin chọn quan trấn khác để vỗ yên dân. Lại tha cho thuế đã giục, dừng hẳn công dịch, để thỏa lòng mong mỏi của dân”. Vua đều theo lời. Chiếu tha thu thuế năm nay và thuế thiếu năm trước. Phàm ở trấn những công việc không cần kíp, hết thảy đều thôi. Chiếu ban xuống dân rất vui mừng. Rồi sai Trấn thủ Trần Văn Năng theo Duyệt làm việc quân, triệu Hiệp trấn Nguyễn Văn Lễ về kinh, lấy Nguyễn Văn Trí, Lê Bá Phẩm quyền làm việc trấn.

    Duyệt lại nói : “Một cõi Nghệ An, thổ phỉ tuy đã quét sạch, mà dân cũng còn nhiều người xiêu tán, xin ra lệnh miễn cho lính trốn không phải điền, miễn cho thợ thuyền khỏi phục dịch thì dân sẽ yên”.

    Vua giao sớ chương ấy xuống, đình thần bàn cho rằng: Binh và thợ, hai việc ấy nhà nước đã có phép sẵn, không nên nhất khái cho miễn cùng với tô thuế.

    Vua cho là phải. Chiếu bảo Duyệt rằng : “Xem việc ngươi đã trình bày, thật biết thể tất ý chăm lo thương xót của trẫm. Nhưng việc dùng binh và thợ không thể thiếu được, nếu dùng mà không hại dân thì cũng không tổn hại gì đến nhân chính”.

    Lưu Phúc Tường, Lê Đức Tần, Trần Bá Bảo có tội bị giết.

    Chiếu dụ quân dân Vĩnh Thanh rằng : “Trấn các ngươi ở nơi biên giới, làm phên giậu cho nước. Khi quân mới dấy, thật là nơi chịu chiến tranh. Trẫm lấy việc yên dân làm trọng, cho nên không xem việc dùng người là nhẹ. Phàm các quan giữ việc chăn dân đều kén chọn thận trọng cả. Không ngờ lũ Tường lại chăm làm lợi riêng, phá nát phép chung, khinh bỏ đạo làm quan, tội ác có trong luật định, mưu gian ra ngoài ý nghĩ. Trẫm nghĩ một phương các ngươi gặp bọn quan lại hư hỏng ấy làm hại, lấy làm bùi ngùi lắm. Tiền dân có thể đền được mà khổ sở lâu ngày khó chữa; sức quân có thể thư được mà lòng giận chúng khó hết; việc đã như thế duy có thi hành phép nước để nghiêm quy chế làm quan, trừ bọn mọt gian để thỏa tâm trí dân chúng. Nay bọn Tường đã bị chịu tội ở dưới búa rìu, đã sai thành thần tịch thu gia sản, thu tang trả lại dân. Pháp luật 3 thước(1), trẫm cùng trăm họ các ngươi cùng theo chưa từng dung túng kẻ gian, để làm hại các ngươi. Vậy nay bá cáo để biết ý trẫm”.

    (1). Pháp luật xưa biên ở cái thẻ 3 thước.

    Tháng 3, xây mặt sau Kinh thành, lấy các quân làm việc.

    Dụ rằng : “Việc xây thành là quan trọng lớn lao, của công tiêu tốn rất nhiều. Trong lúc xuất ra thu vào, kẻ thuộc lại không tốt dễ nhân đấy làm tệ. Trước đây phát ra cái án lại dịch xâm phạm lấy trộm của công, tội tự nó làm ra, phép không thể dung được. Nay phải răn bảo nghiêm ngặt, các người quản suất và giám lâm chủ thủ đều phải răn bảo người thuộc quyền mình. Phàm tất cả vật liệu, cần phải thực chi, thực dùng, ai dám thông đồng phù lạm gian dối, tuy tội hao thiếu của công là nhỏ, mà tội tổn hại việc xây thành là lớn, người phạm không kể số tang nhiều hay ít, đều theo quân luật trị tội nặng”.

    Sai Tham tri Hình bộ là Võ Đức Thông sung Đề điệu trường thi Nghệ An; Ký lục Quảng Bình là Hoàng Kim Hoán sung Giám thí, Tham tri Lễ bộ là Bùi Đức Mân sung Đề điệu trường thi Thanh Hoa, Tham bồi Hình bộ là Nguyễn Huy Trinh sung Giám thí. Lấy đỗ hương cống 30 người. (Trường Nghệ An, Nguyễn Công Trứ, Đặng Huy Thuật, Hồ Minh Tĩnh, Nguyễn Năng Tĩnh, Hồ Sĩ Lâm, Lê Sĩ Thường, Nguyễn Chương Đạt, Bùi Văn Tán, Nguyễn Huy Triêm, Nguyễn Hữu Tố, Lê Hữu Tuệ, Nguyễn Đức Hiển, Phan Bá Đạt, Nguyễn Bùi Nhã cộng 14 người. Trường Thanh Hoa, Trần Lê Hiệu, Trịnh Tần, Nhữ Đình An, Lê Quốc Thạc, Lê Dục Đức, Trần Văn Tự, Bùi Trịnh Dự, Trần Thố, Thang Huy Thận, Hà Duy Phiên, Nguyễn Ái, Nguyễn Phổ, Văn Như Kỳ, Lê Thanh, Lê Cảnh, Nguyễn Biểu cộng 16 người).

    Dồn bổ ba đội Thường hầu, sáu đội Túc trực làm các đội Nội hầu, đổi cho lệ vào quân Thị nội. (Thuộc nội Nội hầu trước đặt bốn đội, đến nay lấy ba đội Thường hầu bổ làm các đội Nội hầu ngũ, lục, thất, sáu đội Túc trực làm các đội Nội hầu bát, cửu, thập, thập nhất, thập nhị, thập tam).

    Hạ lệnh cho Bắc Thành hằng năm cấp tiền thóc cho họ Trịnh. Trước đây ân cấp tự điền 500 mẫu, khiến thu thóc 333 hộc, tiền 75 quan. Đến nay họ Trịnh xin khiến dân đúng theo số ấy nộp vào nhà nước, rồi nhà nước cấp riêng cho. Vua y lời xin.

    Dinh thần Quảng Đức tâu rằng lính dinh có ít, xin mộ ba đội thuộc binh, để sung sai phái. Vua y cho.

    Sửa viên tẩm của Anh Duệ hoàng thái tử.

    Lấy Ký lục Quảng Nam là Nguyễn Xuân Tình làm Cần Chánh điện học sĩ sung chánh sứ đi cống nước Thanh (hai lễ cống năm Đinh sửu và năm Kỷ mão), Đốc học Quảng Nam là Đinh Phiên làm Đông Các học sĩ, Tri phủ Nam Sách là Nguyễn Hựu Bình làm Hàn lâm Thị độc, sung Giáp ất phó sứ.

    Tổng trấn Bắc Thành là Lê Chất đi kinh lược Kinh Bắc, Cai đội bảo Mỹ Nương là Hồ Tiến Lộc cho quân nghỉ việc. Chất biết được tình trạng, đem chém rồi đem việc ấy tâu lên. Vua nói rằng: “Phép là như thế”, rồi để đấy.

    Hiệp trấn Thái Nguyên là Trần Đình Trưng ốm phải nghỉ việc. Lấy Thiêm sự Hình bộ là Nguyễn Kim Phương thay.

    Lấy hương cống đời Lê là Nguyễn Quốc Bảo làm Đốc học Quốc Tử Giám, Nguyễn Huy Tá làm Phó đốc học, Nguyễn Tiêm làm Đốc học Quảng Nam.

    Triệu phó tướng Tả quân lãnh Trấn thủ Vĩnh Thanh là Nguyễn Văn Xuân về Kinh; lại lấy Thống chế Nguyễn Văn Thụy lãnh Trấn thủ Vĩnh Thanh. Trước đây Bảo hộ Chân Lạp là Trần Văn Tuân đã đến thành Nam Vang, thấy vua Phiên là Nặc Chăn bỏ trễ nhiều việc, quan Phiên mang lòng ngờ nhau, dâng biểu tâu lên. Vua thấy Xuân đã từng làm bảo hộ, biết kỹ tình hình người Man, triệu vào chầu. Khi hỏi đến việc Chân Lạp, Xuân thưa rằng : “Nặc Chăn nhu nhược, chính sự do ở chức Chiêu Chùy. Nay Chiêu Chùy chưa được người giỏi, bọn Ốc Nha không thể sai bảo nhau, cho nên ngờ nhau. Nếu sai chọn một người Ốc Nha làm Chiêu Chùy để cho việc có đầu mối thì nước sẽ yên”.

    Vua cho là phải. Sắc cho thành thần Gia Định viết thư đem ý ấy dụ Nặc Chăn. Rồi Nặc Chăn dâng biểu cho Ốc Nha Tôn La Kha Đồng Phù làm Chiêu Chùy.

    Người Sơn Tây là Nguyễn Mão giả xưng là con cháu nhà Lê, mưu nổi loạn. Thổ hào là Võ Đăng Quỹ dùng kế bắt được. Sai giết đi. Thưởng Đăng Quỹ 200 quan tiền.

    Lê Văn Duyệt đến Thanh Hoa, dâng sớ nói về nỗi khổ của dân gian. Vua bèn sai tha thuế thiếu cho Thanh Hoa và Thanh Bình. Chiếu rằng : “Trấn đạo các người liền năm bị tai dịch, đói kém dồn dập; lại thêm giặc cướp tứ tung, thường làm hại dân. Trẫm nghĩ đến chỗ nương tựa của dân, thường để tâm giữ gìn yên vỗ, còn sợ trong đó chưa làm hết việc lợi, chưa trừ hết việc hại, cho nên sai trọng thần đi kinh lược, để định yên chỗ ở của các ngươi. Nay xem tâu bày bệnh khổ của dân gian, rất lấy làm thương xót. Vậy thuế ruộng, thuế thân, thuế sản vật còn thiếu từ năm Mậu dần về trước, hết thảy đều tha. Dân sở tại xiêu tán trở về thì miễn thuế ruộng, thuế thân và binh dao trong ba năm”.

    Mùa hạ, tháng 4, ngày mồng 1, tế hạ hưởng. Sai Hoàng thái tử nhiếp tế ở Thái miếu.

    Quảng Nam, Quảng Ngãi hạn. Giảm thuế ruộng năm nay cho Quảng Nam 8 phần 10, Quảng Ngãi 5 phần 10.

    Triệu Tổng trấn Bắc Thành là Lê Chất về Kinh. Chất đến vua hỏi về việc ở thành, yên ủi vỗ về giờ lâu. Chất nhân lấy cớ có mẹ già xin về thăm. Vua y cho.

    Bắt đầu đắp lũy dài ở đạo Bình Man thuộc Quảng Ngãi. Lính sáu cơ Kiên đóng thú thì cấp cho lương tháng. (Ngoài lũy trồng tre, dưới ngăn bằng hào, phía bắc đến Già Tiển, giáp phủ Thăng Bình dinh Quảng Nam; phía nam đến Đồng Xanh, giáp phủ Hoài Nhân trấn Bình Định. Địa giới dài 37.479 trượng. Lính cơ đóng thú giữ 115 bảo, mỗi bảo 10 người, cộng 1.550 người, mỗi người cấp lương tháng 1 phương gạo).

    Lấy Tôn Thất Điêu và Tôn Thất Hoan làm đội trưởng hai đội Tư phụng.

    Chuẩn định từ nay phàm thuyền nhà nước từ ngoài biển sắp vào cửa biển Thuận An, nếu gió nước không tiện thì người án thủ Trấn Hải đài giương treo cờ đỏ ở trên đài trước và bắn hai tiếng súng để bảo cho phóng thẳng đi. Định làm lệ mãi mãi. Lại sai truyền khắp cho các thuyền hiệu của Thủy quân biết.

    Tháng 4 nhuận, hạ lệnh cho Nghệ An, Thanh Hoa, Thanh Bình làm hộ tịch.

    Chiếu rằng : “Sửa sang việc nước, giữ gìn nhân dân, tự có sổ sách. Người đến tuổi thì vào sổ, người già yếu thì thải ra, như thế là để biết rõ nhiều người hay ít người, chia đều thuế má và dao dịch. Trước đây năm Đinh mão đã ra lệnh cho các trấn Bắc Thành đổi sổ thường hành cũ mà làm sổ đinh, duy trấn đạo các ngươi chưa kịp làm. Nếu nay cứ nhân tuần không đổi thì dân phải chịu nặng riêng, lấy gì sinh sống yên nghỉ ! Vậy ra lệnh cho các phủ huyện xã thôn, đều xét số người, từ chức sắc đến quân dân, đăng hết vào sổ. Đến như bốn huyện Tương Dương, Vĩnh Hòa, Hội Nguyên, Kỳ Sơn thuộc phủ Trà Lân, bốn huyện châu Thọ Xuân, Lang Chánh, Quan Gia, Tàm Châu thuộc phủ Thanh Đô, hai huyện Thạch Thành, Cẩm Thủy thuộc phủ Thiệu Hóa, động Hàm Man thuộc hai châu Trình Cụ và Sơn Thôi, huyện Lạc Thổ thuộc phủ Thiên Quan, cùng bảy tổng miền thượng đạo huyện Quỳnh Lưu, sáu vạn ở mặt nước thuộc huyện Đông Thành, đều cho vẫn để sổ cũ, không phải đổi làm sổ mới”.

    Lại chiếu dụ dân chúng rằng : “Đinh lấy sổ mà định, là muốn những người dân đinh cùng khổ đều được trên soi xét suốt, chứ không phải lấy đấy để thêm bớt thuế khóa đâu. Trăm họ các ngươi phải nên theo sự thực đăng vào sổ, chớ có cứ quen thói cũ, lấy bớt số đinh làm lợi mà làm gian dối, hại chính trị. Điều cấm rất nghiêm, thêm bớt một suất đinh rất nhỏ, nhưng có hình pháp ba thước ở đấy, phải răn bảo nhau, chớ phạm pháp luật”.

    Lê Văn Duyệt dâng sớ nói : “Làm sổ đinh là việc lớn của nhà nước, hễ dùng được người thì là tốt, dùng không được người thì sinh tệ. Nay theo pháp lệnh, dân mà dối trá ẩn lậu thì có tội, ai đem tố giác thì có thưởng, khuyên răn rõ lắm. Nhưng tránh nặng cầu nhẹ, là thường tình của người. Điều cấm dẫu nghiêm, nhưng thế tất không ngăn hết được. Nếu có thú lệnh hiền để vâng làm mệnh lệnh thì còn khá; nếu không thế thì sổ thường hành cũ đã lo rằng không đều, mà sổ mới làm này lại có thể không đều hơn nữa. Nay các quan trấn đạo phủ huyện lại có nhiều người già ốm yếu đuối cầu thôi việc, xin xét nơi nào khuyết thì chọn bổ ngay”. Tờ sớ dâng lên. Vua y lời tâu.

    Thổ tù ở Thanh Hoa và Thanh Bình là bọn Nguyễn Đình Giá, Quách Tất Thúc và Đinh Thế Đội đến quân thứ Lê Văn Duyệt đầu thú. Duyệt làm sớ tâu lên, lại nói : “Sơn man ở chỗ đất xấu, dấu người ít đến, bọn trốn tránh lấy chỗ ấy làm nơi đi về. Muốn cử đại binh đến tiễu trừ, thì khi quan quân đến bọn nó đã trốn mất rồi. Muốn đóng thú để giữ đất, thì núi khe lam chướng, không thể ở lâu được, cho nên các triều trước đều cho là mọi rợ mà để cách ra. Nay uy trời lừng lẫy đến mọi nơi, bọn nó tự bó thân về theo mệnh, xin nhân lúc chúng thay đổi ngoài mặt mà vỗ yên bằng đức, khiến cho chúng đổi cả lòng. Lại các tên giặc đầu hàng, đều xin ra sức làm việc để chuộc tội. Xin chia ra cho lệ vào thuộc quân để sai vát (sai bát) điều đi làm việc binh, ai có công thì dùng, ai quen thói xấu thì giết. Đó cũng là một chước chế ngự quyền nghi”.

    Vua xem biểu khen là phải. Hạ lệnh tha tội cho bọn Đình Giá. Chiếu rằng : “Bọn các ngươi trái giáo hóa đã lâu, vốn đáng trừng phạt. Nhưng nghĩ các ngươi là mọi rợ, không dùng uy ngay, khoan cho các ngươi tự tân khiến cho đều được nuôi nấng. Gần đây sai quan đại thần đi kinh lược, chuyên việc vỗ yên dân chúng, chứ bọn tù trưởng nhỏ mọn như các ngươi vốn không cần hỏi đến. Nay đã hối tội đầu hàng, tình cũng đáng tha, đặc biệt chuẩn cho rửa sạch lỗi trước, cố gắng mưu sự lành sau, để giữ sau này chọn vẹn”. Lại cho Đình Giá làm Phòng ngự sứ, Tất Thúc làm Phòng ngự đồng tri, bọn Thế Đội 9 người làm Phòng ngự thiêm sự; thưởng cấp áo tiền đều theo thứ bậc.

    Trấn thủ Thái Nguyên là Nguyễn Công Đát ốm phải nghỉ việc. Lấy Quản phủ Ứng Hòa là Phan Văn Hài làm Trấn thủ Thái Nguyên.

    Triệu Đô thống chế lãnh Trấn thủ Nghệ An là Trần Văn Năng và Tham tri quyền biện trấn vụ là Lê Bá Phẩm về Kinh. Lấy Phó tướng Tả quân là Nguyễn Văn Xuân lãnh Trấn thủ Nghệ An, Tham bồi Hình bộ là Nguyễn Huy Trinh làm Hiệp trấn.

    Lấy Vệ úy vệ Nghiêm uy quân Thần sách là Lê Viết Quý làm Trấn thủ Kinh Bắc, Phó thống Tả đồn Tiền quân là Hoàng Văn Nhị làm án phủ sứ Hoài Đức, Thuộc nội cai đội Lê Tiến Kế quản Đồ gia ở Bắc Thành.

    Dời thủ sở Phong Kha Minh (ở hạ lưu sông Bát Chiên, cách đạo Tuyên Uy 37 dặm) đến Thông Bình (cách đồn Phong Kha Minh 101 dặm), thủ sở Thông Bình đến Da Giang (ở thượng lưu sông Bát Chiên, làm giới hạn cực tây của Định Tường). Dụ trấn thần Định Tường rằng : “Buổi quốc sơ mở đất, nhân dân còn ít, đặt ra thủ Phong Kha Minh là để làm giới hạn giữa người Hán [Việt] và người Di. Nay nhân dân sinh tụ ngày nhiều, ruộng đất khai khẩn hơn hẳn đạo Tuyên Uy. Nếu cứ nhân cũ mà đặt thủ sở xét hỏi người đi lại thì lại làm nhiễu cho dân. Vậy đã bàn dời đi, khiến cho cùng ứng với đạo Tân Châu ở Tiền Giang để tiện việc thông báo”.

    Người Man bảy sách Cam Lộ vào cống. Hạ lệnh từ nay bảy người sa trưởng chia làm hai ban, đều lấy kỳ tiến cống vào chầu.