091. Trang [0991-1003] - @rito_1522 (done)

27/10/15
091. Trang [0991-1003] - @rito_1522 (done)
  • Huyện Quỳnh Lưu trấn Nghệ An đất sụt. (Ngày hôm ấy giờ mão sắc trời tạnh sáng, bỗng nhiên trên không có tiếng như sấm, đất ruộng thụt xuống, nước mặn vọt ra, chu vi 60 thước, sâu 6 thước).

    Ngày Tân sửu, vua ra cửa biển Thuận An; ngày Quý mão ra cửa biển Tư Dung; ngày Bính ngọ trở về.

    Tháng 5, sửa điện Hoàng Nhân.

    Khởi phục cho Trần Văn Thìn làm Cai cơ. Thìn trước làm Trấn thủ Thái Nguyên, có tội mất chức. Vua thấy Thìn là người lão luyện về việc quân, nên lại dùng khiến theo Bắc Thành sai phái.

    Sổ đinh ở Nghệ An, đinh số kém đi nhiều. Sổ thường hành cũ thì đinh số 130.000 người, năm ngoái dân xiêu tán nhiều, hiện dân số là 110.000 người, đến nay lại giảm hơn 20.000 người. Lê Văn Duyệt ở Thanh Hoa nghe tin đem việc tâu lên trước.

    Chiếu trả lời rằng : “Làm lại sổ đinh là triều đình muốn biết rõ số dân nhiều lên hay hụt đi mà thôi, không bắt buộc phải nhiều thêm. Nhưng Nghệ An là một trấn lớn, sao đến nỗi điêu hao lắm như thế ? Đấy là thường tình của dân tránh chỗ nặng đến chỗ nhẹ, mà quan lại phụng hành thì bất lực thôi. Ngươi nên đốc thúc cho xứng ý trẫm”.

    Việc xây mặt sau Kinh thành làm xong. Thưởng các quân hơn 143.000 quan (binh 14.336 người, mỗi người thưởng tiền 10 quan). Quan thì thưởng 5 tháng bổng.

    Sửa điện Thái Hòa, điện Cần Chánh, điện Trung Hòa, nhà Quang Minh, nhà Trinh Minh.

    Dựng thêm hai kho Quảng Thịnh, Quảng Chừ.

    Hiệp trấn Sơn Nam hạ là Dương Công Tòng chết; lấy Hiệp trấn Sơn Tây là Hoàng Văn Diển làm Hiệp trấn Sơn Nam hạ, Hiệp trấn Sơn Nam thượng là Ngô Huy Viên làm Hiệp trấn Sơn Tây, Hiệp trấn Lạng Sơn là Trương Công Vỹ làm Hiệp trấn Sơn Nam thượng, Thiêm sự Hình bộ là Nguyễn Thận Ngôn làm Hiệp trấn Lạng Sơn.

    Lấy Tri phủ Quốc Oai là Trần Nhật Vĩnh và Câu kê Nguyễn Hữu Hiệu làm Hình bộ Thiêm sự sung biện Hình tào Bắc Thành.

    Lấy Cai cơ Vọng Các là Phan Văn Hóa làm Quản thủ đạo Đông Khẩu.

    Lấy Phó vệ úy vệ Hậu bảo nhất Hậu quân là Phạm Tiến Thụy làm Vệ úy, Cai cơ Nguyễn Công Khương làm Phó vệ úy, Cai đội Nguyễn Văn Truyền làm Phó vệ úy vệ Hậu bảo nhị, Cai cơ Phạm Văn Lượng làm Phó vệ úy vệ Hùng dũng.

    Lại cho Cai cơ Nguyễn Văn Hưng làm Chưởng cơ, vẫn thống quản 10 cơ Hùng dũng của Tả quân.

    Tháng 6, dựng Phu Văn Lâu. (Trước đặt bảng đình, các chiếu thư dụ chỉ đem bá cáo thì treo yết ở đó, đến nay mới dựng lầu).

    Phước Long công là Tôn Thất Thăng mất. Thăng là người rất thân của vua, kính yêu không ai bằng, vua gọi là quốc thúc công, mỗi khi đến ra mắt riêng, vua đứng dậy mời ngồi sập ngự. Thăng cố từ nói rằng : “Trời không có hai mặt trời, thần Thăng sao dám đương”. Vua sai giải chiếu xuống đất cùng ngồi. Khi ra vua đứng dậy đưa chân. Vua đối với Thăng đãi ngộ càng long trọng, Thăng giữ lễ lại càng cẩn thận, trước sau hơn hai chục năm thường như một ngày. Bầy tôi là bọn Nguyễn Văn Nhân, Lê Văn Duyệt thường cùng nói với nhau rằng : “Ơn thân người thân của hoàng thượng ta, đức khiêm tốn của Quốc thúc công, xưa nay ít thấy”. Đến nay Thăng mất, vua đau thương mãi. Dùng lễ tang thân vương của nhà Tống, nghỉ chầu năm ngày, cho thụy là Hòa Tĩnh, chi của công để trị tang, sai hoàng tử Định Viễn công là Bính dụ tế. Lại bảo bộ Lễ rằng : “Quốc thúc công ở trong nhà là người tuổi già có đức, ở ngoài nước là bề tôi công đầu, nay chẳng may tạ thế, con hãy còn nhỏ, đợi khi tuổi lớn, bàn cho tập tước sẽ nối việc thờ tự”.

    Đổi sách Thanh Lãng ở Nghệ An cho lệ vào dinh Quảng Bình. (Thanh Lãng lệ chịu thuế nguồn là 3 cân sáp ong, 3 cân mật ong, 8 quan tiền, 6 người lính thổ. Đất ấy phía bắc đến châu Quy Hợp trấn Nghệ An, đường núi hiểm xa, phía đông đến châu Bố Chính ngoại dinh Quảng Bình, đường thủy đường bộ đều đi thông được).

    Lấy Ký lục Phiên An là Ngô Văn Đức làm Thiêm sự Hộ bộ, sung làm việc Hộ tào thành Gia Định.

    Châu Sầm Tớ xin nội thuộc, châu có 10 động (Sầm Man, Phật Trình Di Man, Bang Man, Bao Man, Nhãn Man, Phụng Ban Man, Quyên Man, Cân Man, Tụ Cổ Man, Trình Man), trước thuộc nước Vạn Tượng, nhân Lê Văn Duyệt đi kinh lược Thanh Nghệ, Thống lĩnh thượng đạo Hà Công Thái sai người đến dụ. Bấy giờ tù trưởng Man là Phìa (quan man) Xỉ (họ mán) Vu Hâm (tên người) tự đến quân thứ của Duyệt xin quy phục. Duyệt đem việc tâu lên. Vua y cho. Rồi cho con Công Thái là Công Quỳnh làm cai đội, trật tòng ngũ phẩm.

    Đặt ký phủ, tư huyện, tư châu ở Gia Định. Phàm người buôn ngoại quốc đến ở Gia Định thì biên mà cai quản.

    Chuẩn dinh từ Quảng Bình về Nam phàm thuyền dân đi buôn ở Hạ Châu [Tân Gia Ba] thì đánh thuế, lấy thuyền lớn nhỏ làm bậc. (Thuyền ngang 9 thước, mỗi thước tiền thuế 20 quan; 10 thước trở lên, mỗi thước tiền thuế 30 quan; 1 tấc trở lên thì tính chiết mà thu, phân ly trở xuống đều miễn).

    Sửa đền Hiển Trung ở Gia Định.

    Lấy Đỗ Phúc Thịnh làm Giám thành Phó sứ, quản suất vệ Giám thành và cục Hội thành.

    Bồi đắp đập Hà Trung (tên xã), miễn 3 tháng dao dịch cho dân xã ấy.

    Bãi lính trú phòng ở các bảo ven núi thuộc Quảng Bình, lấy lính thổ để đóng thú.

    Đặt chi Thanh Thuận ở Thanh Hoa, cơ An Thuận ở Nghệ An. Bọn giặc cướp ở Thanh Nghệ ra thú hơn 900 người. Lê Văn Duyệt tâu xin tha tội, biên bổ làm lính, quê ở Thanh Hoa hơn 420 người làm chi Thanh Thuận, quê ở Nghệ An hơn 480 người làm cơ An Thuận, lệ vào hai trấn.

    Lấy Quách Tất Công, Quách Tất Tại làm phòng ngự Thiêm sự. Công Tại đều là con Quách Tất Thúc, theo quân thứ của Lê Văn Duyệt. Duyệt nhân xin cho quan chức, sai coi dân bốn xã Sơn Âm, Chân Lại, Trường Môn, Bằng Lương, phụ giữ bảo Chi Nê.

    Lấy Câu kê Thị hàn viện là Trần Chính Đức làm Thiêm sự Hộ bộ, cựu Tri huyện Lê Đại Cương làm Thiêm sự Binh bộ, sung biện Hộ tào và Binh tào Bắc Thành. Lại sai Chính Đức kiêm quản cục Bảo tuyền, Đại Cương kiêm làm giấy tờ ở thành.

    Tù trưởng man Thỏ Lỗ là Chiêu Ngọa cầu nội phụ. Dinh thần Quảng Bình dịch thư để tâu lên. (Trong thư nói rằng tiên tổ trước ở Mộng Sơn, lúc quốc sơ vẫn giữ chức cống, gần đây vì tù trưởng Lào là Phạn A xâm lấn, mới bỏ đất ấy mà đi, đến nay lại về, xin giữ lễ cống của người Man như cũ).

    Vua cho là Man núi xa xôi, hạ chiếu khước đi.

    Chính biên

    Đệ nhất kỷ - Quyển LX
    THỰC LỤC VỀ THẾ TỔ CAO HOÀNG ĐẾ

    Kỷ mão, Gia Long năm thứ 18 [1819], mùa thu, tháng 7, ngày mồng 1, tế thu hưởng. Sai Hoàng thái tử nhiếp tế ở Thái miếu.

    Sai Thượng thư Lại bộ là Nguyễn Hữu Thận, làm Đề điệu trường thi Quảng Nam, Cai bạ Bình Định là Võ Xuân Cẩn làm Giám thí, Tham tri Lại bộ là Ngô Vị làm Đề điệu trường thi Gia Định, Cai bạ Phú Yên là Trần Vân Đại làm Giám thí. Lấy đỗ hương cống 29 người (Trường Quảng Nam: Nguyễn Đăng Ngạn, Đoàn Bá Trinh, Nguyễn Thành, Phan Nhật Thạnh, Lê Huệ, Thân Văn Duy, Trần Văn Nhiễm, Phạm Đình Học, Trương Đăng Quế, Đinh Doãn Trung, Nguyễn Khắc Biểu, Doãn Văn Xuân, Võ Đĩnh, Nguyễn Xuân Hải, Nguyễn Văn Điển, Ngô Trọng Vỹ, Nguyễn Nhân Lý, cộng 17 người. Trường Gia Định : Trương Bảo Hợp, Đặng Văn Nguyên, Đặng Văn Mô, Trương Minh Giảng, Ngô Phúc Hội, Mai Thăng Đường, Nguyễn Công Hoán, Hoàng Văn Tú, Hồ Hựu, Bùi Tăng Huy, Chu Kế Thiện, Trần Vĩnh Lại, cộng 12 người).

    Học trò trường Gia Định, mới thi kỳ đệ nhất, cho đầu bài khó, làm náo động vi (1) muốn ra. Quan trường là Ngô Vị và Trần Vân Đại ra đầu bài khác, mới lại yên. Đến lúc thi xong, học trò kiện ở thành nói hạng trúng tam trường có người giấu tang đi thi, có người mướn người làm bài. Các lại phòng thể sát mật sát lại vạch ra việc Vị và Đại chia quyển chấm riêng, và cùng hợp nhau với bọn sung biện trường vụ là Ký lục Lê Chấn, Đốc học Cao Huy Diệu, Phước khảo Vũ Hành để đánh bạc. Thành thần đem việc tâu lên. Giao xuống đình thần bàn. Bọn Vị vì cố ý trái trường quy, đều phân biệt phải đánh trượng; Huy Diệu phải đổi. Người học trò giấu tang đi thi phải tội đồ; người mượn làm bài và người làm thay đều phải sung quân.

    Chưởng cơ quản tàu Thụy phượng là Nguyễn Văn Thắng xin nghỉ về Tây. Thưởng cho bổng hai năm mà về.

    Tha thuế diêm tiêu và thuế thân cho dân đội Hùng diêm trấn Bình Định. Dân đội Hùng diêm trước bổ 600 người vào vệ Hùng dũng đi thú Bắc Thành, đều đã miễn thuế, còn những người ở quê chưa được miễn. Đến nay hạ lệnh từ năm nay về sau tha cho cả, để cho người ở nhà và người đi làm việc cùng giúp đỡ nhau, đợi sau khi bãi thú về làng sẽ chịu thuế như lệ.

    Lấy Quản cơ cơ Thịnh tượng của Tượng quân là Nguyễn Văn Thịnh làm Phó vệ úy vệ Thị tượng nhất quân Thị nội.

    Biếm Lưu thủ Quảng Bình là Phan Văn Thúy làm Cai cơ Thị trung, Cai bạ Nguyễn Văn Quang làm Thiêm sự Hình bộ. Thuyền hộ ở Quảng Bình có tên Khánh ngầm giết lái buôn người Thanh là bọn Chu Bang Ký và Lương Hữu Ký ở ngoài biển Nghệ An để cướp của. Việc phát giác, Trấn Nghệ An tư cho Quảng Bình xét bắt. Tấn thủ Linh Giang là Võ Bảo cùng thuộc lại ở dinh là Nguyễn Chiêm nhận hối lộ của tên Khánh, thu lấy tang vật, lại buông thả tên Khánh cùng đồ đảng bảy người trốn thoát. Án ấy không quyết được. Lương Khải Ký đem việc kiện vào Kinh. Vua sai bộ Hình xét lại. Bảo và Chiêm đều thú nhận, bị trảm quyết. Thúy và Quang vì thất sát bị giáng chức. Tham hiệp Nghệ An là Nguyễn Khoa Hào cũng vì đổi tờ cung bị bãi chức.

    Lấy Vệ úy vệ Hậu nhị Thị trung là Nguyễn Văn Phân làm Lưu thủ Quảng Bình, Thiêm sự Hộ bộ là Lương Tiến Tường làm Cai bạ Quảng Bình, Thiêm sự Binh bộ là Nguyễn Văn Y làm Tham hiệp Nghệ An.

    Lấy Thiêm sự Lại bộ là Hoàng Văn Quyền làm Cai bạ Quảng Đức.

    Cai bạ Quảng Nam là Nguyễn Văn Phong chết; lấy Tham hiệp Thanh Hoa là Nguyễn Kim Truy làm Cai bạ Quảng Nam, Thiêm sự Hình bộ là Trần Nhật Vĩnh làm Tham hiệp Thanh Hoa.

    Đô thống chế lãnh Trấn thủ Thanh Hoa là Trần Công Lại dung túng cho bộ thuộc lấy tiền của dân, dân kiện, Lê Văn Duyệt đem việc tâu lên. Sai bắt trói đem về Kinh trị tội.

    Lấy Vệ úy Nguyễn Văn Ngoạn làm Khâm sai thống chế, phẩm trật cũng như Thống chế Thị trung, lãnh trấn Thanh Hoa.

    Sai Trấn thủ Hà Tiên là Mạc Công Du xem đo đường sông Châu Đốc. Rồi triệu về Kinh, đem bản đồ dâng.

    Chánh quản đồ gia là Lưu thủ Tôn Thất Huyên vì ốm xin về hưu. Cho bổng theo nguyên phẩm.

    Lấy Tri phủ Thường Tín là Hồ Công Hoán làm Thiêm sự Hộ bộ, Tri phủ ứng Hòa là Trịnh Xuân Trạm làm Thiêm sự Binh bộ, Tri phủ Thiên Trường là Nguyễn Nho làm Thiêm sự Hình bộ, đều sung biện các tào Hộ Binh Hình ở Bắc Thành.

    Sai Vệ úy vệ Thắng uy là Phạm Văn Tín kiêm quản các đội Tả vệ, Nội hầu, Hữu vệ, Nội hoàng kiếm, Phó vệ úy Nguyễn Văn Phượng quản vệ binh đi thú Thanh Hoa.

    Thuộc nội trưởng cơ án thủ bảo Hà Trung là Lê Phước Điển chết; sai Vệ úy vệ Dương võ quân Thần sách là Dương Phước Trung án thủ bảo Hà Trung.

    Cho Nội giám đội trưởng Chu Đình Thọ và Nguyễn Bá Đằng trật chánh lục phẩm.

    Hạ lệnh cho bộ Binh, phàm lính mộ ở các vệ đội thị nội, nếu có trốn về dân tịch hay thiện tiện đầu mộ vào các quân dinh thì không cứ năm tháng lâu hay chóng, đều cho rút về ngạch cũ.

    Tháng 8, bàn làm duyệt tuyển lớn ở Bắc Thành; rồi lại vì các trấn bị lụt nên lại hoãn.

    Quản phủ Nghĩa Hưng là Thái Đình Tư cho quân nghỉ về kiếm lợi. Quan Bắc Thành dâng án lên, nghĩ xử tội đồ. Vua giận mắng Lê Chất rằng : “Xử Tư vào tội đồ là mặt luật nào ? Ngươi không nhớ việc cai đội ở Mỹ Nương là Hồ Tiến Lộc à ! Sao ngươi nghiêm khắc với người ấy mà lại dung túng cho người này ?”. Chất sợ hãi xin nhận tội. Giao án xuống cho bộ xét lại. Tư cuối cùng phải tội chém.

    Lấy Nguyễn Tiến Hậu làm ngự y chính, Đoàn Quang Hoảng, Đoàn Văn Hòa đều làm y phó.

    Đổi tên ấp Tây Sơn ở Bình Định thành ấp An Tây.

    Lấy Chưởng cơ phó thống Hữu đồn Hậu quân là Hồ Văn Uẩn làm Phó thống thập cơ Uy thắng, Phó vệ úy Trung quân là Trần Văn Thạc làm Quản cơ cơ Tiền định.

    Lấy Cai cơ Thị trung là Phan Văn Thúy làm Vệ úy vệ Trung tín nhất Thị nội.

    Hạ lệnh cho Lê Chất về Bắc Thành. Cho súng mạ vàng, gươm mạ vàng, gươm mạ bạc của Tây Dương, mỗi thứ hai cái, và phát 20 thớt voi ở Kinh cho theo đi thú.

    Chuẩn định từ nay các tướng hiệu ở trong ngoài được vua cho binh khí như súng gươm mà dám đem cầm bán hoặc đánh mất, thì phải tội đánh trượng, cách chức; quan sở quản cũng tội lây theo thứ tự. (Như cai đội phạm tội thì phó vệ phải 60 trượng, chánh vệ phải 50 roi, ngoài ra lấy đó mà suy). Người nhận cầm cố hay mua thì quan cũng phải tội, dân phải 40 roi, tiền tang đều sung vào nhà nước. Nếu bị thủy hỏa và mất trộm thì miễn tội. Ghi làm lệnh.

    Tha thuế dệt chiếu rồng cho Thanh Hoa. (Đội bạch tịch hằng năm mỗi người nộp 5 đôi chiếu trơn, 5 đôi chiếu dài, lại cùng nộp 15 đôi chiếu rồng. Đến nay miễn thuế chiếu rồng, sai nộp thêm chiếu liền, tráng hạng mỗi người 2 đôi, lão hạng mỗi người 1 đôi).

    Phủ Hoài Đức ở Bắc Thành mộ lập ba đội Hoài An làm lính thuộc phủ. Thành thần xin cấp lương cho. Vua y cho.

    Định lệ thưởng tiền lấy gỗ hoành cho thợ rừng ở Quảng Trị. (Gỗ hoành lấy ngang 4 tấc làm hạn, như gỗ lim dài 11 thước cấp 7 tiền, 10 thước cấp 6 tiền, 9 thước cấp 5 tiền; các gỗ hồng sắc thước tấc cũng như gỗ lim, cấp nửa tiền).

    Thành thần Gia Định tâu xin biên viên quân ngạch cũ trong thành hạt mà chưa lệ vào cơ vệ nào, đặt làm 6 đội của hai vệ Gia võ, cùng hai đội Tín sai nhất Tín sai nhị, và đội Tín nghĩa nhất, theo thành sai phái. Vua y cho.

    Định lệ thưởng tiền lấy gỗ hoành cho thợ rừng ở Quảng Trị, (Gỗ hoành lấy ngang 4 tấc làm hạn, như gỗ lim dài 11 thước cấp 7 tiền, 10 thước cấp 6 tiền, 9 thước cấp 5 tiền; các gỗ hồng sắc thước tấc cũng như gỗ lim, cấp nửa tiền).

    Thành thần Gia Định tâu xin biên viên quân ngạch cũ trong thành hạt mà chưa lệ vào cơ vệ nào, đặt làm 6 đội của hai vệ Gia võ, cùng hai đội Tín sai nhất Tín sai nhị, và đội Tín nghĩa nhất, theo thành sai phái. Vua y cho.

    Lê Văn Duyệt dâng sớ xin về triều. Dụ rằng : “Hai trấn Thanh Nghệ sổ đinh chưa xong, không có ngươi không ai làm được, tạm ở lại tuần nhật, sẽ triệu về”.

    Tháng 9, sửa đồ thờ ở Nguyên miếu.

    Cho cháu họ xử sĩ Võ Trường Toản là Võ Tài Đông được miễn phú dịch. Toản là người văn học súc tích, trong loạn Tây Sơn ẩn ở Gia Định, giảng dạy học trò, bọn Ngô Tòng Chu, Trịnh Hoài Đức đều là học trò, lúc vua ở Gia Định, nghe tiếng mà khen ngợi. Toản mất không có con trai, tha binh dao cho con nuôi là Nguyễn Văn Trúc, khiến trông nom việc thờ cúng. Đến nay người cháu họ là Đông tuổi đã lớn, thành thần tâu dùm. Lại miễn cho.

    Quản đạo Thanh Bình là Đào Văn Thành mộ hơn 100 người dân ngoại tịch lập làm đội Chiến phong. Hạ lệnh phàm người quê ở sông Gianh trở vào thì cấp cho lương tháng.

    Hạ lệnh cho ba châu Vạn Ninh, Tiên Yên, Vân Đồn trấn Yên Quảng từ nay thóc thuế hai vụ đông và hạ cho dân nộp thay nửa tiền nửa bạc. Thóc gạo lương bổng chi ở trấn cũng lấy tiền bạc mà chiết cấp.

    Vét đào đường sông Châu Đốc thông đến Hà Tiên. Cho tên là sông Vĩnh Tế. Vua thấy Vĩnh Thanh và Hà Tiên tiếp giáp với Chân Lạp, việc công tư đi lại, trước không có đường thủy, bàn muốn nhân sông Châu Đốc mà đào cho thông suốt. Gặp Chiêu Chùy nước Chân Lạp là Đồng Phù đến chầu, vua triệu cho yết kiến hỏi han. Đồng Phù trả lời rằng: “Khai sông ấy thì dân Chân Lạp được nhờ lợi, vua Phiên cũng muốn thế, không dám xin mà thôi”.

    Vua khen và lấy làm vui lòng, dụ bảo thành thần Gia Định, đo từ phía Tây đồn Châu Đốc qua cửa Ca Âm, Cây Báng, đến sông cũ hơn 200 dặm, tính công đào đất và lượng sức người. Sai Trấn thủ Vĩnh Thanh là Nguyễn Văn Thụy và Chưởng cơ Phan Văn Tuyên đốc suất dân phu 5.000 người và binh dân đồn Uy Viễn 500 người, Đồng Phù quản suất dân Chân Lạp 5.000 người, đến tháng 12 khởi công đào. Dân người Hán [Việt] cùng với binh đồn Uy Viễn thì mỗi tháng cấp cho mỗi người 6 quan tiền và 1 phương gạo; dân Chân Lạp mỗi tháng cũng cấp cho mỗi người 4 quan 5 tiền, 1 phương gạo.

    Chiếu dụ dân Vĩnh Thanh rằng : “Đào con sông này công việc rất khó nhọc. Kế sách của nhà nước, mưu hoạch về biên thùy, đều quan hệ không nhỏ. Các ngươi nay khó nhọc, mà thực có lợi muôn đời. Vậy nên bảo nhau đừng sợ khó nhọc”.

    Lại dụ vua Chân Lạp rằng : “Nước ngươi giáp giới với Vĩnh Thanh. Nay đào sông này không những lợi cho người Hán mà còn lợi cho nước ngươi vô cùng. Vương nên họp nhân dân bảo cho biết ý nhọc một lần mà nhàn mãi mãi, khiến dân vui làm việc, cho chóng thành công. Quan Phiên trở xuống, ai không theo lệnh cho Đồng Phù trị theo quân pháp”.

    Triệu Trần Văn Tuân về Gia Định, vẫn lãnh công việc Hình tào.

    Vua dụ bầy tôi rằng : “Nước Chân Lạp có bảo hộ là vì vua Phiên mà đặt. Nay Nặc Chăn không biết lo xa, sinh ra ngờ vực, cưỡng họ thì sợ sinh biến, cứ để thế thì họ sinh nhờn, không bằng bãi bảo hộ đi, cho họ giữ lấy nước; sau này nếu họ cần thì sẽ cho lại. Như thế thì thể thống của triều đình được tôn, mà ân uy đều rõ cả”. Bèn triệu Tuân về, lưu lại ba ngự đội đóng thú thành Nam Vang.

    Tổng trấn Gia Định chưởng Tiền quân quận công Nguyễn Hoàng Đức chết. Hoàng Đức vì ốm xin nghỉ, chết ở nhà. Tặng Thái phó, cho thụy là Trung nghị, cho 5 cây gấm Tống, 1.000 quan tiền, sai Trấn thần Định Tường dụ tế. (Năm Minh Mệnh thứ 5 [1824] cho tòng tự ở Thế miếu, năm 12 [1831], phong Kiến Xương quận công).

    Lại lấy Chưởng Hữu quân Nguyễn Văn Nhân làm Tổng trấn Gia Định.

    Cho cai đội các đội sinh thiết ở Quảng Nam trật chánh lục phẩm, chánh đội trưởng trật tòng lục phẩm, thứ đội trưởng trật tòng bát phẩm.

    Triệu Lê Văn Duyệt về Kinh. Duyệt đến nơi, vua hỏi han yên ủi hồi lâu. Duyệt tâu rằng: “Chuyến này thần đi, nhờ oai của nhà vua, tuân theo mưu lược của triều đình, hai trấn đều yên lặng; duy ở dân gian trước có ruộng đất sót lậu, gần đây đã vào sổ, lệ phải đóng thuế, thuế hơi nặng, dân lấy làm khổ. Xin đổi sổ đi để theo ý nguyện của dân”.

    Vua nói rằng : “Nếu lợi cho dân thì trẫm có tiếc gì ?”. Vua theo lời xin.

    Lấy Phó vệ úy Hữu quân là Nguyễn Văn Chiêm làm Quản cơ cơ Trung dũng, Trưởng hiệu Tô Huệ Vân làm Phó quản cơ, Phó vệ úy Trương Văn Tự làm Quản cơ cơ Tả dũng, Trưởng hiệu Nguyễn Văn An làm Phó quản cơ, Cai cơ Võ Văn Anh làm Phó quản cơ cơ Trung hùng, Nguyễn Văn Cúc làm Phó quản cơ cơ Tiền hùng, Hà Văn Điềm làm Phó quản cơ cơ Tiền dũng, Lưu Xuân Dương làm Phó quản cơ cơ Hữu dũng.

    Mùa đông, tháng 10, ngày mồng 1, tế đông hưởng. Sai Hoàng thái tử tế thay ở Thái miếu.

    Sai Tham tri Hình bộ là Nguyễn Duy Hòa làm Đề điệu trường thi Thăng Long, Đốc học Nghệ An là Phan Bảo Định làm Giám thí, Tham tri Hộ bộ Nguyễn Tường Vân làm Đề điệu trường thi Sơn Nam hạ, Đốc học Hoài Đức là Lê Huy Du là Giám thí, lấy đỗ hương cống 53 người. (Trường Thăng Long : Nguyễn Viết Khuông, Lý Văn Phức, Trịnh Đường, Chu Văn Nghị, Nguyễn Huy Chiêm, Hoàng Đăng Hiến, Phùng Đắc Ninh, Phạm Hội, Đinh Gia Tạo, Cấn Công Nguyên, Trần Bưu, Trần Trọng Hiển, Võ Quyền, Nguyễn Văn Trường, Cao Huy Tố, Nguyễn Đình Uyển, Lê Huy Côn, Ngô Đình Tuệ, Đỗ Trọng Dư, Nguyễn Hữu Thu, Lý Văn Hảo, Ngô Quang Diệu, Ngô Thế Mỹ, cộng 23 người. Trường Sơn Nam hạ : Ngô Đình Thái, Phạm Đình Giản, Phạm Đình Duệ, Phạm Quang Can, Lê Huy Thụy, Nguyễn Văn Nhiên, Võ Đình Lễ, Nguyễn Dư, Võ Diễn, Phạm Cử, Trần Đăng Đạo, Nguyễn Quốc Trinh, Nguyễn Phạm Vỹ, Phạm Đăng Tình, Nguyễn Đình Lập, Nguyễn Xuân Phượng, Nguyễn Vũ Thục. Nguyễn Danh Văn, Nguyễn Huy Cầu, Nguyễn Bá Nghi, Trần Quang Chiếu, Nguyễn Bá Linh, Đỗ Khắc Thủ, Trịnh Ngọc Lâm, Bùi Cung Tiên, Phạm Đức Phổ, Nguyễn Thế Tuấn, Nguyễn Văn Nghiêm, Đỗ Huy Cảnh, Đỗ Mậu Thường, cộng 30 người).

    Lấy Cai bạ Phú Yên là Trần Văn Đại làm Cai bạ Quảng Đức, Cai bạ Quảng Đức là Hoàng Văn Quyền làm Cai bạ Phú Yên.

    Sửa đồ thờ ở miếu nhà Lê; theo lời xin của Lê Văn Duyệt.

    Tháng 11, cho con trưởng, cháu trưởng các công thần Vọng Các được tập ấm theo thứ bực khác nhau. (Con Đỗ Văn Hựu là Đỗ Văn Trung, con Trương Phước Luật là Trương Phước Bá, con Tô Văn Đoài là Tô Văn Thành, con Nguyễn Văn Đắc là Nguyễn Văn Lân, cháu Phạm Văn Nhân là Phạm Văn Hội, đều làm Kỵ đô úy; con Phạm Văn Sĩ là Phạm Văn Sơn, con Lê Thành Lý là Lê Văn Hợp, con Tống Phước Châu là Tống Phước Lý, con Ngô Công Quý là Ngô Công Chính, con Tôn Thọ Vinh là Tôn Thọ Bằng, con Đoàn Cảnh Cư là Đoàn Cảnh Thạc, con Nguyễn Văn Tánh là Nguyễn Văn Đức, con Hoàng Tiến Cảnh là Hoàng Tiến Phúc, con Trần Phúc Giai là Trần Phúc Huy, con Nguyễn Thái Nguyên là Nguyễn Thái Phúc, con Phan Thiên Phúc là Phan Thiên Lân, con Nguyễn Huệ là Nguyễn Tuyến, con Nguyễn Văn Thống là Nguyễn Văn Lộc, con Hoàng Phước Bảo là Hoàng Văn Lượng, con Hoàng Văn Tứ là Hoàng Văn Khương, cháu Nguyễn Văn Trương là Nguyễn Văn Lược đều làm Phi kỵ úy).

    Hạ lệnh cho sở Phú Quốc lệ theo quản hạt của trấn Hà Tiên (trước lệ theo đạo Long Xuyên), vì có đường biển gần Hà Tiên.

    Lấy Tri phủ Thiên Trường là Lê Văn Hoành, Tri phủ Tam Đới là Phan Quang Anh, đều làm Thiêm sự Lại bộ, Tri phủ Tiên Hưng là Võ Huy Đạt làm Thiêm sự Hộ bộ, Tri phủ Lâm Thao là Lưu Vượng làm Thiêm sự Lễ bộ, Hàn lâm trực giảng là Võ Quang Gia làm Thiêm sự Binh bộ, Tri phủ Từ Sơn là Hoàng Quốc Bảo, Tri phủ Kinh Môn là Trần Bá Kiên, Tri phủ Thái Bình là Nguyễn Đình Thịnh, đều làm Thiêm sự Hình bộ, Hàn lâm viện là Trương Quang Hải làm Thiêm sự Công bộ, Hàn lâm thị giảng là Nguyễn Đăng Tài làm Đốc học Quốc Tử Giám, Tri huyện Kim Động là Ngô Trọng Tân làm phó Đốc học, Hàn lâm trực giảng là Phan Đức Quang làm Tuyên phủ sứ Hoài Đức. Đến lúc vào bái mạng, vua triệu lên điện hỏi lý lịch, xem mặt, nghe lời rồi sai đi cung chức. Nhân hạ lệnh cho hai bộ Binh Lại từ nay có bổ quan lại, văn từ tri huyện, võ từ cai đội trở lên, đều làm lý lịch tâu lên.

    Lấy Vệ úy vệ Tín uy Thị nội là Tôn Thất Huy làm Lưu thủ Quảng Đức.

    Các trấn từ Thanh Hoa ra Bắc bị lụt. Sai xét số lúa ruộng bị tổn hại, giảm thuế vụ đông theo thứ bực khác nhau. Ngoài ra những món phải nộp thì Bắc Thành lại hoãn cho 3 phần 10, Thanh Hoa, Thanh Bình đều cho nộp tiền thay (một hộc thóc giá 1 quan tiền).

    Ngày Bính tý, vua không được khỏe, Hoàng thái tử vào hầu. Hạ chiếu rằng mọi việc quân việc nước đều khải lên để Hoàng thái tử quyết đoán, rồi sau mới tâu lên.

    Hoàng thái tử thiên tính rất hiếu, ngày thường thăm sức khỏe, hầu bữa ăn, quạt nồng ấp lạnh, chưa từng trễ nải. Đến nay hầu cơm canh thuốc thang, lo lắng hiện ra sắc mặt. Thường trai giới cầu khấn với liệt thánh và trời đất thần kỳ; lại mời khắp các danh y, cùng họ sớm hôm bàn bạc.

    Định lệ thừa ấm cho con viên quan. (Các con quan văn võ từ tứ phẩm trở lên, đều cho làm quan viên tử; con quan chánh ngũ phẩm, tòng ngũ phẩm, chánh lục phẩm, cho một người làm quan viên tử. Quan viên tử con quan tam phẩm trở lên đều được miễn binh dao và thuế thân, từ tứ phẩm đến lục phẩm, được miễn binh dao. Quan ngũ lục thất phẩm quê ở Bắc Thành, từ năm Mậu dần về trước, trót đã cho con làm quan viên tử, đều cho theo cũ, từ năm Kỷ mão về sau phải theo lệ này).

    Cho Khâm sai chưởng cơ vệ úy vệ Phấn dực Nội thủy là Phạm Văn Tường làm Thống chế thủy quân phó thống quản Thủy quân, cho trật ngang với Thống chế Thị trung, Quản cơ cơ Tả thủy Thủy quân là Nguyễn Tài Năng làm Vệ úy vệ Phấn dực Nội thủy, cho trật ngang với Vệ úy Thị trung, Phó quản cơ cơ Hữu thủy là Nguyễn Văn Sử làm Quản cơ cơ Hữu thủy, Phó quản cơ cơ Tiền dực là Võ Văn Lai làm Phó quản cơ cơ Hữu thủy, Quản cơ cơ Trung dực là Nguyễn Văn Phong làm Quản cơ cơ Hậu thủy, Phó quản cơ cơ Tả dực là Nguyễn Văn An làm Phó quản cơ cơ Hậu thủy, Quản cơ cơ Trung tiệp là Phan Văn Thọ làm Quản cơ cơ Tiền thủy, Cai đội Lê Văn Ngôi làm Quản cơ cơ Tả thủy, Cai cơ Lê Văn Tình làm Phó quản cơ cơ Trung thủy.

    Lấy Cai cơ Phạm Văn Chấn làm Phó quản cơ cơ Trung kiên ở Quảng Ngãi, Cai đội Nguyễn Văn Sâm làm Phó quản cơ cơ Nội kiên.

    Sai quân hai vệ Hữu bảo nhất, Hữu bảo nhị của Hữu quân đi thú Gia Định, cùng thay đổi nhau mỗi năm một vệ.

    Đặt đội thái sâm [lấy sâm] ở Quảng Ngãi. (Các núi ở Sa Kỳ sản nhiều sâm, hạ lệnh cho trấn thần đặt đội lấy sâm, mộ dân ngoại tịch 50 người sung vào).

    Tháng 12, ngày Kỷ sửu, mồng 1, vua không ra chầu, Hữu ty đặt đại triều nghi ở điện Thái Hòa, ban lịch sang năm cho trong ngoài.

    Ngày Tân mão, triệu Hoàng thái tử và các hoàng tử tước công và các quan đại thần là bọn Lê Văn Duyệt, Phạm Đăng Hưng vào hầu. Bầy ấn ngọc, cờ, gươm ở trên án vàng trước giường ngự. Dụ Hoàng thái tử rằng : “Đấy là cơ nghiệp gian nan của trẫm, nay giao cho con, con nên cẩn thận giữ gìn”.

    Hoàng thái tử cùng các công tước và các đại thần đều đến trước tâu rằng : “Trời giúp cho mình thánh ngày còn khỏe mạnh, xin cứ tĩnh dưỡng tinh thần, mà đừng phiền nghĩ”.

    (1. Vi là khu học trò ngồi thi)
    :rose: