10.vancuong7975(xong)WIKI

23/11/15
10.vancuong7975(xong)WIKI
  • Link docx

    Link pdf

    Lansky, lại lơ lửng trên không. Hai điệp viên FBI ngồi ngay sau lưng họ.

    - Joske này, Lansky nói với vệ sĩ của mình. - Rõ ràng là mọi cố gắng đều không có nghĩa nữa rồi. Họ đã bắt được tôi. Anh có thể về nhà. Bây giờ FBI canh giữ tôi. Hiển nhiên là họ muốn bằng mọi giá bắt tôi ở Hoa Kỳ.

    - Chính vì vậy mà tôi theo ông tới cùng thưa sếp,- Shriner nói.

    Khi máy bay đỗ ở sân bay La Paz, cảnh sát Bolivia không cho họ tới cả phòng đợi. Họ và hai thám tử FBI ở lại trên máy bay. Sau 45 phút máy bay lại cất cánh rồi lại hạ cánh ở Lima. Một trung đội cảnh sát đã chờ sẵn trên sân bay quốc tế Jorge Chaveze, lập tức vây quanh máy bay, tiểu liên đã mở khóa an toàn, sẵn sàng nhả đạn.

    - Ngài Lansky, ngài không được phép bước xuống lãnh thổ Peru - đặc phái viên chính phủ, trán lấm tấm mồ hôi thông báo cho tên găngxtơ già. Meyer Lansky biết rằng chỗ hạ cánh tiếp theo, và cũng là cuối cùng trước khi đến lãnh thổ Hoa Kỳ ở Miami là Panama City. Trong hộ chiếu, y có thị thực nhập cảnh do lãnh sự Panama ở Tel Aviv cấp. Người khác với giấy tờ như vậy sẽ không gặp trở ngại gì, nhưng còn Lansky thì không được phép rời máy bay. Trên cầu thang một nhân viên chặn y lại và nói rằng y không được phép vào lãnh thổ Panama. Người đàn ông nhiều nếp nhăn hiểu rằng ở đây cũng bị thua. Lần hạ cánh tới sẽ ở Miami, ở đó người ta đang chờ y với lệnh truy nã trong tay.

    - “Tôi không sợ”- sau này y thú nhận. - “nhưng tôi mệt mỏi kinh khủng. Tôi như con thú bị săn đang cố thoát khỏi vòng vây. Một cảm giác bất lực khó chịu! Anh có thế quay cuồng giãy giụa mặc sức, tất cả đều chẳng có nghĩa lý gì. Khi máy bay hạ cánh, tôi không còn cả bực tức nữa. Tôi thay đồ, cạo mặt sẵn sàng chấp nhận tất cả”.

    . DC-8 hạ cánh xuống sân bay Miami International. Phi công lái máy bay về phía tòa nhà của sân bay. Hành khách vội vã bước ra cửa. Meyer Lansky, Joseph Shiner và hai thám tử FBI vẫn còn ngồi, họ ra khỏi máy bay cuối cùng. Ở hành lang, ba người đàn ông chờ sẵn họ. Một người trong số đó là Kenneth Whittaker, sếp chi nhánh FBI ở Florida.

    - Rất hân hạnh đón ông trên đất nhà, thưa ông Lansky- Wnittaker châm chọc. - Chuyến bay tốt chứ?

    - Cũng không đến nỗi nào - người đàn ông trán nhăn trả lời.

    - Không quá lâu sao?

    - Hai ngày, vẫn còn chịu được.

    - Nhân danh pháp luật, tôi bắt anh. Từ giờ phút này, những gì anh nói ra, đều có thể phương hại đến anh.

    - Ôke,- Meyer Lansky nói,- Chúng ta đi đâu?

    - Vào nhà đá, thưa ông Lansky, - sếp FBI ở Miami Kenneth Wittaker trả lời. Ông ta tuyên bố với các phóng viên tò mò đang vây quanh xe cảnh sát:

    - Ông Lansky dự tính một khoản tiền chuộc lớn. Chúng tôi muốn có bảo đảm là ông ta sẽ xuất hiện trước tòa.

    Sáu trăm năm mươi nghìn đôla là một khoản tiền chuộc không bình thường. Luật sư của Lansky là David Rosen kịch liệt phản đối khoản tiền chuộc quá lớn, nhưng vô vọng. Các phóng viên tung tin rằng trong chuyến bay qua nửa địa cầu của mình. Lansky đã đề nghị: chính phủ nào chấp thuận cho y cư trú, sẽ nhận được một triệu đô la.

    Y trả tiền chuộc và được phép trở lại apactmen của mình ở Collins Avenue, mà từ đây, trước đó hai năm rưỡi, y đã đi đến Israel. Chưa ấm chỗ, vẫn ngày hôm ấy, 7-11-1972, y phải vào bệnh viện vì “đau tim”. Mãi đến một năm sau, vụ án do luật sư luận tội của chính phủ Robert Rust chuẩn bị để xử vua găngxtơ không chính thức, triệu phú và đồng thời là người bạn thế lực của các chính khách thế lực, Meyer Lansky, mới có thể bắt đầu.

    TÒNG PHẠM AHEARN THÚ NHẬN
    Meyer Lansky thông minh và có lẽ cũng thận trọng hơn đồng nghiệp của y. Y không hám danh, giấu mình ở phía sau, không say sưa trong các quán bar và không gài kim cương trên cravát. Y túc trực bên điện thoại - và không ai biết y đang ở chỗ nào. Y có nhiều apacimen, cái sau tiện nghi hơn cái trước, nhưng đồng thời y sống cả ở khách sạn. Y lặng lẽ điều khiển người của mình, và khi phải đích thân tham dự phi vụ nào đó, y che kín lưng một cách hoàn hảo. Cho nên cảnh sát cũng như FBI, sở bài trừ ma túy cũng như các thám thử lừng danh của Interpol, không sao thiết lập được danh sách các phi vụ của găngxtơ Lansky và sau 40 năm y muốn cái gì có lợi cho y mặc lòng, không có một bằng chứng làm phương hại y.

    Nhưng cuộc đời mới trớ trêu làm sao, sự phản bội lại đi đến từ phía những người bạn thân của mình. Găngxtơ Daniel Francis Ahearn bị cảnh sát bắt quả tang trong khi đang “hành sự”, và bị tòa kết án nhiều năm tù. Những đêm dài thức trắng, nhìn trăng sao qua song sắt, y ngậm ngùi: cho tới lúc được ra khỏi cổng nhà tù, y chỉ còn là một lão già lẩm cẩm. Thế là, khi người ta hứa sẽ giảm nhẹ án nếu y thành thực khai báo, y quyết định nói. Y có nhiều chuyện để nói vì y là bạn thân, là chiến hữu của Lansky từ những năm hai mươi. Biên bản lời khai của y ghi ngày 15.3.1957 cho nên ta không ngạc nhiên rằng sau 40 năm, Ahearn đã quên một số chi tiết, một số tên người, hoặc có chỉ nói sai. Dù vậy, lời khai của y là một minh họa rõ nét về tổ chức tội ác ở Hoa Kỳ.

    - Ông bao nhiêu tuổi rồi, ông Ahearn? - Uỷ viên công tố Robert J.Campbell hỏi: ông ta là trưởng ban điều tra 18 chống tổ chức tội ác ở Mỹ.

    - Tôi sinh năm 1901, hơn Johnny một tuổi.

    - Johnny nào? Ông nói về ai vậy?

    - Về Meyer Lansky. Hồi đó người ta gọi nó là Johnny Eggs(50)

    - Tại sao lại là Eggs?

    - Tôi chưa rõ. Không ai biết tại sao. Chưa bao giờ chúng tôi buôn trứng, chúng tôi cũng không ăn cắp thứ ấy bao giờ.

    - Các anh làm quen với nhau ở đâu, khi nào?

    - Trên phố. Còn ngày giờ chính xác thì tôi quên rồi khoảng năm 1917 hay 1918 gì đó.

    - Ông có nhớ phố nào không?

    - Nhớ. Đó là phố Jackson, nằm giữa phố South và phố Eront.

    - Lúc đó có nhân chứng không?- Uỷ viên công tố Campbell hỏi tiếp.

    - Có, Barett, Johnny giới thiệu tôi. Bữa đó chúng tôi cãi lộn nhau vì một con bé tên là Gertie tóc hung

    - Ông lập tức nhập hội với Lansky?

    - Ngay ngày hôm sau chúng tôi đi “bẻ khóa” nhà kho ở Puritan Buildings, trên phố Broome Street.

    - Đó là lần hợp tác duy nhất của các anh?

    - Đâu có. Cho tới cuối năm chúng tôi còn làm sáu hay bảy vụ nữa. Phần lớn là kho hàng hay các xe tải đậu trên phố.

    - Các anh ăn chia như thế nào?

    - Tử tế. Thật đấy, rất công bằng. Tôi không ăn gian nó lần nào cả. Tôi mến nó thật mà. Nhưng sau đó tôi bị tóm và lần đầu tiên vào nhà đá.

    - Vì tội gì?

    - Ăn cướp.

    - Ông bị bao nhiêu năm?

    - Mười lăm tháng.

    - Lúc đó ông vẫn chưa tới tuổi thành niên?

    - Bởi thế họ nhét tôi vào Elmira. Ngài biết nơi này chứ, ngài công tố uỷ viên? Một ổ chuột kinh tởm nhất thế giới dành cho trẻ con và thiếu niên!

    - Sau đó ông quay lại với Lansky? - Trưởng ban điều tra hỏi.

    - Tất nhiên. Tôi còn đi đâu được nữa? Tôi đến New York khi trời vừa tối và tới chỗ nó ngay.

    - Hội của y trông như thế nào?

    - Đổi mới nhiều. Một mặt, Lansky trang bị súng, đó là cải cách mới mẻ. Mặt khác, nó sống xịn lắm. Nó nói là đang quay quanh các trò cờ bạc.

    - Trò chơi gì?

    - Xóc đĩa. Không biết đó là Poker hay gieo xúc xắc bình thường. Nó cũng nói là đang làm việc cho ông đoàn.

    - Y nhận ông vào hội ngay?

    - Vâng. Ngay tức khắc. Trước hết chúng tôi đến Essex Street, rồi sau đó tới phố Rivington, ở đó tôi gặp cả băng.

    - Tên?

    - Cả hai Albert, Judie, Meyer và Zeigie. cả hội đang chuẩn bị tới quán rượu.

    - Để xem hát?

    - Không. Để chơi bài. Tôi có nhiệm vụ canh gác.

    - Ông được trả công bao nhiêu?

    - Nếu tôi không lầm, mười lăm phần trăm tiền lời.

    - Ông Ahearn, chúng tôi biết rằng băng Lansky cũng phạm tội theo đơn đặt hàng. Phần lớn là để chống lại các lãnh đạo công đoàn, hoặc ngược lại, có khi công đoàn thanh toán hóa đơn.

    - Vâng, ở Allen Street có “Quán Nga”. Thỉnh thoảng chúng tôi tới đó giải trí, ở đó chúng tôi gặp một tay công đoàn không biết thằng cha này tên là gì nữa. Hắn thuê chúng tôi tới Peekskill.

    - Các anh phải làm gì ở Peekspill?- Công tố uỷ viên Campbell hỏi.

    - Đốt nhà máy.

    - Các anh có đốt không?

    - Không. Chúng tôi chỉ mới chuẩn bị. Chúng tôi ở đó 14 ngày, nhưng về sau công đoàn thỏa thuận được với chủ nhà máy, và thế là ngòi nổ được rút ra.

    - Vụ đó thế là kết thúc?

    - Đâu có. Một tối lại vẫn tay công đoàn nọ đến và nói là sẽ chỉ mặt cho chúng tôi một người lãnh đạo của nhà máy mà chúng tôi phải cảnh cáo, nghe đâu người này gây khó khăn. Hắn đưa chúng tôi địa chỉ của người đó, ở vùng Breoklyn.

    - Thế còn tên của ông ta?

    - Đã lâu lắm .rồi, tôi cũng chẳng nhớ nữa. Chúng tôi theo sát cùng đi với ông ta dưới đường ngầm, nhưng đến grand Central Station thì “bốc hơi” mất.

    - Nhưng các anh có địa chỉ ông ta mà, - uỷ viên công tố khích lệ Ahearn.

    - Thì chính tôi đang định nói. Chúng tôi gọi tắcxi và đi tới Williamsburg. Chả sống trong một ngôi nhà nhỏ, và chúng tôi đến đó trước chả. Chúng tôi chờ “lột” chả ở góc phố, nhưng rồi phải thôi vì nhiều người qua lại. Chờ trời tối hẳn, cả bọn đến nhà chả, tôi bấm chuông và từ trong nhà có người hỏi tôi là ai và muốn gì. Tôi nói giọng khàn “điện báo” và lập tức cửa mở. Chúng tôi gạt người vợ sang một bên và xông vào phía trong, chả đang ngồi bên bàn uống bia. Lansky cầm trong tay một ống bằng chì và chỉ bàng một đòn, tay kia đã gục xuống đất. Không đến hai phút và chúng tôi đã lại ở ngoài phố.

    - Lansky đánh chết người đàn ông nọ?

    - Tôi không bao giờ biết được và có lẽ Lansky cũng thế. Ngày hôm sau chúng tôi đến gặp tay công đoàn, hắn khen chúng tôi và đưa 500 đô la. Khoan đã, tôi nhớ ra rồi. Thằng cha không chết! Tay công đoàn nói là từ giờ thằng cha kia không còn quấy rầy nữa, vì vợ của chả sẽ suốt đời không dám thả chả quay lại nhà máy ở Peekskill. Chả sợ hết hồn rồi còn gì.

    - Các anh có nhiều đơn đặt hàng loại này?

    - Vâng. Nhiều. Khi thì chúng tôi ban đêm mò vào xưởng phá máy. Hoặc có lúc chúng tôi phải “sửa đầu”, những công nhân ngoan cố, không chịu vào công đoàn.

    - Các anh làm những việc này bao lâu?

    - Lâu đấy. Khoảng đến tận năm 1922.

    - Và sau đó?

    - Sau đó chúng tôi buôn lậu rượu và có một vài sòng bạc.

    -Thế các anh đã làm gì với Gallaher? - Ủy viên công tố Camobell hỏi.

    - Hughie Gallaher là tên giết thuê ở khu phố chúng tôi. Hắn không thích Lansky, rủa Lansky là con heo Do Thái, và khi say rượu hắn khiêu khích: đồ chó Do Thái hãy úp mặt vào tường để tao thử súng xem sao. Một lần vào thứ hai, hai rưỡi sáng, tôi cùng một người bạn đang “làm ăn” ở Madison Street thì Gallaher sặc mùi rượu đi qua.

    - Người bạn của anh tên là gì?

    - Tabbo. Em họ Lansky con ma rượu bắt đầu khiêu khích, gây sự và rút dao ra. Tabbo bị đánh ngã xuống đất, chảy máu mũi. Hiển nhiên là nó nổi khùng, vớ được thanh sắt và cứ nhè Gallaher mà đánh. Nó quật lấy quật để vì điên tiết lên rồi. Nhưng Galhaer có cái đầu cứng như bê tông, hắn đứng dậy được và lao cả vào tôi. Tôi giật được dao và đâm hắn một nhát ra trò, lập tức hắn gục xuống đất. Chưa bõ tức. Tabbo còn đập hắn một hồi nữa. Khi hắn không còn cựa quậy nữa, chúng tôi phủ hắn bằng mấy tấm ván lấy ở vệ đường và tẩu luôn.

    - Đi đâu?

    - Đến nhà Lansky ở Columbia Street. Nhưng ở đó cũng không yên vì chị của nó làm ầm lên là chúng tôi không cho bà ấy ngủ. Thế là chúng tôi tới Graud Street ăn sáng và trong quán ăn người ta kháo nhau là ở Madison Street rặt những cảnh sát và phóng viên, ở đằng ấy người ta phát hiện ra xác Hughie Gallaher.

    Đây rõ ràng là vụ giết người, nhưng Aheara không bị giam lấy một ngày. Ngay từ lúc ấy, Lansky đã có những quen biết thế lực với cảnh sát và cả với chánh án. Y đã cùng họ bàn bạc và chuẩn bị tất cả diễn biến của vụ án Galleher. Sau đó Ahearn đi đến Sở cảnh sát ở Clinton Street. Sau đó Aheran đi đến sở cảnh sát ở Clinton Street, khai vào biên bản cho nhân viên hình sự Bill Burns. Tất cả đều thuộc lòng vai kịch của mình và “biểu diễn” xuất sắc. Ahearn được thả vì thiếu bằng chứng. Sau này vụ án được khởi tố lại và Ahearn bị chánh án Mc Intyre hỏi cung, nhưng cả ông này cũng bị Lansky đấm mõm thành công.

    Như đã trở thành thói quen, găngxtơ giải quyết bất đồng nội bộ một cách dễ dàng và nhanh chóng. Jake Lansky làm việc cho một người thuộc da ở Bronx. Anh em y liền lợi dụng ăn cắp cả một kiện da quý. Khi Meyer và Jake Lansky xem lại chiến lợi phẩm thì thấy thiếu vài tấm da. Lúc đầu cũng nghi Ahesrn, nhưng sau đó điều tra ra kẻ lấy cắp là John Barrett. Lepke Buchalter tra khảo và Barrett thú nhận: Y thấy không công bằng vì Meyer Lansky và Bugsy Sigel được chia phần nhiều hơn. Chúng chờ dịp khử Barrett. Một lần y đi xe với Lansky, thế là chúng lên xe bám theo y. Nhưng Barrett, linh cảm thấy điều dữ, bỗng nhạy khỏi xe đang chạy và lao ra đồng.

    - Có bao nhiêu phát trúng y? ủy viên công tố Capbell hỏi Aheanrn.

    - Bốn viên vào đầu.

    - Thế mà y hãy còn chạy?

    - Tôi không biết nó có còn chạy hay không, nhưng phải nói là nó hết sức hên. Hắn chạy tới quốc lộ đón tắc xi và người ta chở hắn từ Long Island đến New York, vào bệnh viện Governor’s Hospital. Lansky nói với tôi rằng đây là chỗ thuận lợi để chúng tôi có thể dễ dàng thanh toán hắn.

    - Trên giường bệnh

    - Chính xác như vậy. Lansky nói: nghe đây, Ahearn, bây giờ ta đến Mott Street. Tôi biết một tay có thể xoay được gà tẩm thuốc độc. Tôi không thể vào bệnh viện, vì vợ nó biết về tôi. Nhưng anh thì được. Thế là tôi mang con gà quay tới gặp vợ của Barrett tên là Grace, đúng lúc ả đang chuẩn bị vào viện thăm chồng. Tôi trao gà cho ả và dặn đừng tiết lộ cho chồng biết ai gửi món quà bất ngờ này.

    - Ả đưa gà cho chồng?

    - Đưa. Nhưng các ngài còn lạ gì miệng đàn bà! Khi hắn hỏi ai gửi, thế là mụ tuôn ra hết. Y đoán ngay ra sự việc và vứt con gà quay ra cửa sổ.

    Vụ Barrett cũng quá rõ ràng. Bốn viên đạn bắn từ trong xe bởi chính tay Lagsky có thể là bằng chứng đầy đủ tội trạng của tên găngxtơ. Nhưng không ai có thể chứng minh điều đó. Tất cả, kể cả nạn nhân, đều im lặng. Luật mafia được tôn trọng triệt để. Thậm chí cả thám tử Cục di tản Benjamin B.Edelstein năm 1950, điều tra lại vụ án cũng không tiến hơn được bước nào Edelstein lấy khẩu cung cảnh sát Joseph P.Heinrich, người này trước đây đã lập biên bản với Barrett ở bệnh viện Governor’s Hospital. Viên cảnh sát về hưu thấy tốt hơn là không nhớ gì cả. Thế là vụ khởi tố chống Meyer Lansky phải dừng lại vì thiếu bằng chứng.

    Đại đa số găngxtơ đốt tiền trong các bar với gái điếm. Meyer Lasky không làm như vậy. Những tờ đô la “bẩn thỉu” được y làm sạch bằng cách đầu tư vào các công việc kinh doanh nghiêm túc. Mặc dù nhỏ bé. Meyer Lasky có tháng không rời thư viện, chăm chỉ đọc sách về ngân hàng và kinh tế. Y cũng học hỏi về các nguyên tắc tài chính và thị trường chứng khoán. Sau một thời gian, quả là y có am hiểu, nhưng găngxtơ vẫn là găngxtơ.

    Một lần, khi quyết định gửi tiền tại một chi nhánh ngân hàng ở Lower East Side, y phái người bạn trung thành Bugsy Siegel mang tiền đi gửi. Sau một lát tên này quay về thất vọng. Suốt đời, hắn cũng không thể gửi ở đó một xu nào, ai đời chỉ có ông già nửa mù nửa điếc gác ngân hàng. Đây quả là “cảm hứng” hấp dẫn. Chúng gửi tiền chỗ khác và băng của Lansky đến cướp chi nhánh nhà băng này. Kết quả: 8000 đôla.

    SƯ PHỤ CỦA SẾP VÀ SẾP CỦA SƯ PHỤ
    - Ông bạn kính mến,- tay cờ bạc vị nể trịnh trọng nói với chàng thanh niên mười tám tuổi và với con mắt lọc lõi, quan sát phản ứng của anh ta, đã bắt đầu kỷ nguyên khi mà ở Hoa Kỳ nhu cầu về Whisky chất lượng vọt lên không tưởng tượng nổi. Tôi nhấn mạnh chữ chất lượng và xin nhắc lại nó một lần nữa. Tôi không tính loại nước cống mà các anh bạn Ý của anh chưng cất trong các xó xỉnh ở Lower East Side. Thứ đó chỉ để cho những đứa chán đời, chưa bao giờ được uống cái gì tốt hơn.

    Họ ngồi trong nhà hàng của khách sạn ăn chơi Park Gentral và đã dùng xong rượu khai vị, cốc-tai, tôm hùm nhồi ôliu, xúp rùa và filets mignon auxchampignons(51). Dân chơi và người chơi bài chuyên nghiệp hạng thượng hạng Arnold Rothstein nói chậm rãi và chín chắn như thể đang đàm luận với giám đốc nhà băng Manhattan Ghare Bank, còn găngxtơ Meyer Lansky, còn trẻ song đầy hứa hẹn, thì hai tai đỏ nhừ, cố làm ra vẻ là dân ăn chơi thực thụ. Sự thực thì đây là lần đầu tiên y bước vào nhà hàng loại này, lần đầu tiên được nếm những món sơn hào hải vị và cũng lần đầu tiên nghe những từ lịch sự lạ tai mà người bạn lớn tuổi ăn bận bảnh bao trao đổi với hầu bàn. Y không hồi hộp trước những bộ thìa nĩa sáng loáng, những đĩa vàng, bát bạc kép có lót đá lạnh, y nhanh nhẹn làm theo từng động tác và bắt chước thành công cách cư xử lịch sự của người thầy kinh nghiệm. Mặc dù không hút thuốc, sau cốc cà phê đặc sánh y cũng phì phèo một điếu thuốc xì- gà.

    Khi đệ nhất thế chiến kết thúc và cả thế giới vui mừng rằng sau bài học kinh khủng trên chiến trường châu Âu, con người không bắn lẫn nhau nữa, thì tên vô lại có cỡ Lansky mới mười sáu tuổi. Tuy vậy y đã có khá nhiều kinh nghiệm, biết cách động viên và điều khiển thuộc hạ, biết cách xỏ mũi đối thủ và ngáng chân đúng lúc để họ ngã dập mũi. Ngày 16.1.1920, khi luật cấm rượu bắt đầu có hiệu lực và Hoa Kỳ bắt đầu 13 năm dài tội ác với một nền kinh tế vô chính phủ, có lẽ rõ nét nhất trong lịch sử kinh tế Hoa Kỳ, thì Lansky chưa đầy 18 tuổi.

    Ở Mỹ người ta uống rượu có lẽ từ thủa khai thiên lập địa. Những người mới tới định cư thì bán rum cho dân da đỏ bản xứ, nô lệ da đen thì nhận khẩu phần chất cay từ các chủ đồn điền, chủ các nhà máy thì thu lại tiền lương của công nhân bằng whisky. Người ta uống rượu trong cuộc nội chiến Nam-Bắc, và lịch sử miền Tây hoang dã với các Sa-lông nổi tiếng và những tay cờ bạc chuyên nghiệp say túy lúy vẫn được nhắc lại trong các phim cao bồi.

    Các nhà cải cách xã hội khẳng định rằng “chủ nghĩa rượu” đang lan tràn nhanh chóng, là hậu quả của cách mạng công nghiệp. Rượu trở thành vũ khí lợi hại chống lại giai cấp vô sản bị bóc lột tới tận xương tuỷ. Sau tấm gương của Carry Nation được truyền tụng như một huyền thoại (người phụ nữ này đã dũng cảm bước vào các Sa-lông mù mịt khói thuốc, dùng búa đập nát tất cả các chai whiky trước những con mắt đỏ ngầu của các bợm rượu), Hội phụ nữ tẩy chay rượu Anti-Sa-Ioon-League và tổ chức đông đảo wmens Christian Temperance Union đã đấu tranh mạnh mẽ đòi cấm rượu. Những người phụ nữ bình thường và cả các bà lớn đều căm ghét các quán nhậu, vì ở đó chồng con họ uống hết những đồng lương lẽ ra được dùng cho chi tiêu gia đình.

    Các tổ chức công đoàn cũng ủng hộ chiến dịch đấu tranh chống uống rượu, và thế là sau những cuộc giằng co lôi thôi chuẩn bị dài dòng ở quốc hội Hoa Kỳ đã quyết định một bước đi lịch sử. Nhưng ngay trong ngày đầu tiên, đạo luật đã bị vi phạm. Đa số người Mỹ không coi nấu và buôn bán whisky lậu là bất hợp pháp. Người Mỹ không chấp nhận đạo luật vì họ coi quyết định uống hay không uống rượu là một trong những quyền lợi thiêng liêng của mình. Họ chỉ khác nhau ở chỗ, người này thì phải uống rượu giả, nhiều khi nguy hiểm tới tính mạng, còn kẻ khác thì uống thứ thiệt, loại một với giá cắt cổ. Arnold Rothstein và Meyr Lansky quyết định cung cấp rượu với mác tốt nhất cho những kẻ nhiều tiền.

    Đây là một cặp không cân xứng. Meyr Lansky vẫn còn là một cậu bé, mặc dù y là kẻ gây lộn lành nghề, một tên trộm tháo vát. Y đã có sau mình một số vụ trộm cướp thành công. Sau này Arnold Rothstein đã nhận xét về Lansky như sau: “Đấy làmột thanh niên với những khả năng tuyệt vời, tàn nhẫn và táo bạo, sẵn sàng mạo hiểm tất cả vì tiền bất cứ lúc nào”.

    Còn Aranold Rothstein là một quân sự tài ba, thậm chí y còn có biệt hiệu “The Brain”- Bộ não. Đầu những năm hai mươi, y đã lên tới tột đỉnh của danh vọng. Bước sang tuổi 40, y đã trải qua một cuộc đời sôi nổi của một người chơi bài chuyên nghiệp, đi dọc ngang thế giới ngấy đến tận cổ các khách sạn hào hoa và những ca bin tàu vượt đại dương sang trọng, mà ở đấy, trong các sòng bạc, y hành nghề của mình. Khi luật cấm rượu được ban ra thì y đang ở trên đỉnh cao của vinh quang, bởi vì không lâu trước đó y đã thành công trong một vụ lừa đảo lớn ở Wall Street, nhờ vụ này mà y chiếm ngôi bá chủ trong nghề của mình.

    Meyer Lansky thề thốt rằng chưa bao giờ y hành nghề găngxtơ, mà chỉ buôn bán whisky và sự chênh lệch giá cả tạo điều kiện cho y trở thành triệu phú. Y không phải là người duy nhất giầu có lên trong thời kỳ cấm rượu. Ngày nay họ, hay con cháu họ là chủ tịch các tờ-rớt thương nghiệp và cộng nghiệp, đóng góp những món tiền đáng kể vào các hoạt động xã hội có ích và không ai coi họ là găngxtơ.

    Khi tôi nói Whisky, đó là loại Xcôtlen tốt nhất,-Arnold tiếp tục giảng bài trong bữa nhậu mời Lansky, - Nếu khéo léo nhập khẩu thì sẽ kiếm được cả gia tài kếch xù. Nhưng, tất nhiên là không phải chỉ một vài thùng hay toa tàu, mà là cả trọng tải tàu chở hàng lớn. Cấm rượu đến lúc nào đó sẽ kết thúc, nhưng không sớm đâu. Tôi chắc chắn là càng ngày càng nhiều người Mỹ vi phạm luật. Những kẻ giầu nhất sẽ sẵn sàng mua một chai whisky thứ thiệt với bất cứ giá nào. Có trong nhà Seagramis. Johnny Walker hay Teacherfs (52) là sự cần thiết trong quan hệ xã giao mà. Chúng ta sẽ bán rượu cho họ. Meyer ạ, bởi vì tôi biết quá rõ những ông quý tộc này. Chúng ta ngồi chung một sòng bạc với họ, thế là họ sẽ mở rộng cửa đón ta. Chúng ta phải chạy cho họ bất cứ số lượng Whisky Xcôtlen nào và nhất định chúng ta làm được.

    Bài giảng này đồng thời cũng là lời tiên tri mười bốn năm tới cho tên găngxtơ trẻ tuổi, chưa kinh nghiệm, Rothstein lõi đời dự báo một cách chính xác: Đấy là thời kỳ làm ăn lớn. Sau khi bãi bỏ luật cấm rượu, Bộ trưởng tài chính Hoa Kỳ Henry Morgenthau tuyên bố rằng những người Canada sản xuất Whisky, thực tế là cho găngxtơ và bọn này lo việc chuyển qua biên giới, nợ nước Mỹ hơn 60 triệu đô-la thuế nhập khẩu và thuế tiêu dùng. Giữa hai nước láng giềng xảy ra khủng hoảng và Bộ trưởng Morgenthau ra lệnh phong tỏa hàng hóa Canada nếu nợ không được trả. Phía Canada xuống thang và bày tỏ thiện chí sẵn sàng trả ba triệu đôla. Riêng hãng của Samuel Bronfman, người ta trở thành một trong những người giàu có nhất Canada, nhờ rượu Whissky lậu, trả một nửa khoản tiền trên. Hãng rượu đồ sộ Seagramgs thuộc về gia đình ông ta cho tới bây giờ.

    Rothstoin từng trải. Meyer Lansky hãnh tiến, cùng với họ là Carlo Gambino, Lucky Luciano, Albert Anastasia, Bugsy Siegel, Dutch Schult và hàng loạt những găngxtơ nổi tiếng hay kém nổi tiếng, với mọi giá, và bằng bất cứ thủ đoạn nào, đi đến mục đích kiếm được thật nhiều tiền để trở thành khá giả nhất trong những kẻ giàu có, thế lực nhất trong những kẻ thế lực. Chúng đã làm được, mặc dù trước đó chúng không thể mơ tới thành công như vậy. Nhưng trên đường tới đích, chúng đã để lại bao vũng máu và xác chết mà chẳng ai trong số bị hỏi cung biết cả. Omertà: Ai không im lặng, kẻ đó phải chết.

    Những tay cờ bạc thượng thặng đều biết tiếng nhau. Nếu Rothstein giữ ngôi bá chủ ở New York, thì Filadelfia. Irwing Waxlenr không có đối thủ. Trong các sòng bạc bí mật, dưới cái tên giả Waxey Gordon, y qua mặt tất cả các tay cờ bạc giàu có trong vùng. Những tên lừa đảo và cờ bạc phải cư xử lịch lãm, ăn mặc và nói năng như các quận công, não của chúng làm việc nhanh và tin tưởng như máy tính. Rothstein thuộc loại số một trong nghề và Waxey Gordon cũng vậy. Không ngạc nhiên, khi cả hai cùng có một sáng kiến giống nhau: chuyển sang buôn lậu Whisky. Chúng quá kinh nghiệm và biết điều để không bắt đầu cạnh tranh lẫn nhau, bởi vì ở Hoa Kỳ có đủ chỗ và tiền lời cho mọi con buôn. Nhưng chúng thỏa thuận với nhau là Arnold Rothstein được ưu tiên cung cấp hàng cho mạng lưới của băng Lansky, sau đó mới tới lượt Waxey Gordon. Hai hội phải giúp đỡ lẫn nhau, cả hai cùng có lợi. Hiệp định liên thành phố này đã bắt đầu thời kỳ của tổ chức tội ác ở Mỹ, nó tồn tại cho tới ngày nay.

    Sau này không phải chỉ mình Meyer Lansky cố gắng thuyết phục các phóng viên, chánh án và cả dư luận rằng cái mà y, Al Capone. Torrio và những tên găngxtơ khác thực thi chỉ là một loại kinh doanh có lời. Nhưng đó là kinh doanh với mọi giá, kể cả giá giết người. Nhưng ở Mỹ người ta không hiểu nó theo nghĩa đen. Đạo đức miền Tây hoang dã, được truyền tụng đến ngày nay như chuyện hoang đường, có những thước đo khác với sự suy nghĩ của châu Âu.

    Thế là buôn lậu được cả dân tộc chuẩn y. Không ai lên án con buôn Whisky như những kẻ tội phạm. Đa số nhân dân, ít ra thì tất cả đàn ông, khích lệ họ và coi chuyện ai đó quan tâm đến quyền lợi của dân rượu là điều hiển nhiên. Họ thống nhất với nhau,
  • Chia sẻ trang này