10. TVTPM-Vancuong7975(xong)Wiki

22/12/15
10. TVTPM-Vancuong7975(xong)Wiki
  • Link PDF

    Link Google Docs

    Link Word Online


    nhiên và buông thả khí giới. "Thằng khốn khiếp đã chết rồi!" Fabrixơ tự nhủ. Anh nhìn mặt hắn, miệng hắn ộc ra nhiều máu.

    Anh chạy đến xe hỏi Marieta: "Cô có gương không?" Mặt mày tái nhợt, Marieta nhìn anh không đáp. Mụ bảo mẫu già rất tự chủ mở một túi khâu màu xanh, lấy trao cho Fabrixơ một cái gương con có cán, chỉ bằng bàn tay. Anh chàng soi gương, nắn mặt: "Mắt không việc gì, thế đã là tốt lắm!" anh lại xem răng, răng không gẫy. "Thế thì do đâu mà ta cảm thấy đau đớn dữ vậy?" anh tự hỏi khe khẽ. Bà già đáp:

    • Do phần trên của má anh bị tán giữa chuôi gươm và cái xương gò má. Má anh bầm tím và tấy lên một cách gớm ghiếc, cho đỉa hút ngay thì không việc gì hết.

    • À ừ! Cho đỉa hút ngay! Fabrixơ cười, nói và anh tự trấn tĩnh hoàn toàn. Anh thấy các người thợ xây quanh Gileti, nhìn hắn mà không dám động tay đến.

    • Hãy cứu người ta đi chứ! Anh hét, bảo họ cởi áo ra... Anh toan nói tiếp, nhưng ngước mắt lên, anh thấy cách vài trăm thước năm sáu người đi đều bước tiến lại nơi sự việc xảy ra.
    "Sen đầm đây, anh nghĩ thầm. Vì có một người bị giết, họ sắp tóm mình và mình sẽ có vinh dự được rước long trọng vào thành phố Pácmơ. Một giai thoại hay ho biết bao nhiêu để hiến cho bọn triều thần ưa mụ Ravécxi và ghét cô ta!".

    Tức thời và nhanh như chớp, anh vứt hết tiền bạc trong túi cho lũ thợ kinh ngạc và nhảy vào xe. Anh hét lên bảo họ:

    • Cản bọn sen đầm lại, đừng cho đuổi theo ta, ta sắp giúp cho giàu có lên đó. Nói với họ là ta không có tội lỗi gi, là người này tấn công ta và muốn giết ta.
    Còn anh! Fabrixơ nói với anh xà ích. Anh hãy đánh ngựa phi liền, tôi sẽ cho anh bốn đồng Napôlêông vàng nếu anh qua sông Pô trước khi bọn đằng kia đuổi kịp.

    • Được rồi! Anh xà ích đáp. Ông đừng sợ, những người đó đi chân, dù mấy con ngựa nhỏ của tôi có chạy nước kiệu cũng đủ bỏ xa bọn họ.
    Anh xà ích nói thế rồi quất ngựa phi nước đại.

    Người anh hùng của chúng ta lấy làm khỏ chịu vì tiếng sợ mà anh xà ích nói. Bởi vì qủa anh có sợ thật, sợ ghê gớm sau khi bị đánh chuôi gươm vào mặt.

    • Chúng ta có thể găp những người cưỡi ngựa đi ngược chiều với ta! Anh xà ích nói, anh có tính cẩn thận và anh cũng nghĩ đến bốn đồng Napôlêông nữa. Những người đuổi theo ta có thể thét gọi bọn cưỡi ngựa đó bắt bọn ta lại.
    Câu đó có nghĩa là: Hãy nạp lại đạn vào súng đi...

    • Chao ôi! Anh dũng cảm quá, anh áp bê thân thương ạ.
    Ả Marieta kêu lên như vậy và ôm hôn Fabrixơ. Bà già thò đầu ra cửa nhòm một lát rồi thụt vào.

    • Không ai đuổi theo ông cả, ông ạ! Mụ nói rất bình tĩnh. Cũng không có ai trên đường cái ở phía trước ông. Ông cũng biết nhân viên cảnh sát Áo là nguyên tắc lắm chứ? Nếu chúng thấy ông phi nước đại như thế này đến trên đê bờ sông Pô thì chúng sẽ bắt ông, điều ấy chẳng còn nghi ngờ gì.
    Fabrixơ nhìn qua cửa xe.

    " Cho ngựa kiệu thôi, anh nói với người đánh xe. Rồi quay lại hỏi bà già: Bà có hộ chiếu gì đó?

    • Có ba chứ không phải chỉ một, bà già đáp, và mỗi cái chúng tôi phải trả bốn frăng, rõ là một sự bóc lột ghê tởm đối với những nghệ sĩ sân khấu nghèo, lang thang quanh năm suốt tháng! Cái hộ chiếu của ông Gileti đây, Gileti, nghệ sĩ sân khấu sẽ là ông, hai hộ chiếu của chúng tôi, con Marieta và tôi đây. Nhưng Gileti giữ tất cả tiền nong của chúng tôi trong túi nó, chúng tôi biết làm sao sau này?

    • Hắn có được bao nhiêu? Fabrixơ hỏi.

    • Bốn mươi đồng êqui ròng, mỗi đồng trị giá năm frăng.

    • Nghĩa là sáu êqui và những xu hào linh tinh, cô ả Marieta vừa nói vừa cười. Tôi không thích người ta lừa ông áp bê bé bỏng của tôi.

    • Tôi tìm cách moi thêm của ông ba mươi bốn êqui cũng là lẽ tự nhiên thôi, phải không thưa ông? Bà già vẫn bình tĩnh một cách lạ lùng nói. Ba mươi bốn êqui đối với ông thấm gì chứ? Còn chúng tôi, chúng tôi đã mất người đỡ đầu. Ai sẽ kiếm chỗ cho chúng tôi ở, ai sẽ mặc cả giá thuê xe với bọn xà ích khi chúng tôi đi đường, ai sẽ khiến cho thiên hạ kính sợ chúng tôi? Gileti không đẹp trai nhưng mà được việc lắm, con bé này thoạt đầu đã chết mê chết mệt vì ông, nếu nó khôn ngoan thì không bao giờ Gileti hay biết gì hết, và chắc ông đã cho chúng tôi bao nhiêu đồng êqui tốt lành rồi. Tôi thề với ông là chúng tôi nghèo lắm.
    Fabrixơ cảm động, anh rút túi tiền ra lấy đưa cho bà già mấy đồng Napôlêông.

    • Bà thấy chứ! Anh nói với bà già. Tôi chỉ còn mười lăm đồng, cho nên từ nay, có níu áo tôi cũng chỉ mất công toi mà thôi.
    Cô bé Marieta đu lên cổ anh, còn bà già thì hôn tay anh.

    Cái xe cứ tiến đều đều theo nước kiệu nhỏ. Khi nhìn thấy từ xa hàng chấn song vàng có sọc đen đánh dấu lãnh thổ Áo, thì bà già nói với Fabrixơ:

    • Tốt hơn hết là ông xuống đi bộ vào với tờ hộ chiếu của Gileti trong túi áo, chúng tôi thì sẽ dừng lại một lát lấy cớ là trang điểm, sửa sang áo sống. Vả chăng bọn thuế quan sẽ soát xét đồ đạc của chúng tôi. Ông! Ông hãy nghe tôi, cứ đi qua Cazan Magio một cách thư thả, cứ vào cả quán cà phê uống một ly rượu mạnh, khi ra khỏi làng thì cứ một mạch cút thẳng. Cảnh sát trên đất Áo thính như quỉ sứ, chúng nó Gileti thì ba mươi chín. Phải thú thật rằng người anh hùng của chúng ta đi lại thơ thẩn mất nửa tiếng đồng hồ trên một con quai sông Pô ở cạnh cầu phao, trước khi quyết định xuống cầu. Đến phút cuối cùng đó anh mới tự bảo: "Một người khác ở vào địa vị ta thì ta sẽ khuyên họ gì nào? Tất nhiên là khuyên phải đi bừa lên. Ở trên lãnh thổ Pácmơ thì nguy hiểm quá, người ta sẽ cho một tên sen đầm đuổi theo kẻ đã giết người, mặc dù giết để tự vệ!”.
    Fabrixơ lục soát các túi áo quần, xé tất cả giấy tờ, chỉ để lại có cái khăn tay và hộp thuốc lá, cần phải rút ngắn thì giờ người ta soát xét mình! Anh nghĩ đến một câu hỏi vặn ghê gớm mà đáp lại, anh chỉ có thể có những lời đáp lúng túng, đó là câu hỏi về việc anh khai tên là Gileti, mà áo quần anh lại ghi F.D.

    Như chúng ta thấy Fabrixơ thuộc loại người khốn khổ bị trí tưởng tượng làm tội làm tình, đó thường là nhược điểm của những con người thông minh ở Ý. Một lính Pháp can đảm ngang với Fabrixơ hoặc kém Fabrixơ ở trường hợp này tất đã trình diện để qua cầu ngay, không nghĩ trước đến điều trở ngại nào cả. Và anh ta vẫn có đủ tự chủ, còn Fabrixơ thì chẳng tự chủ tí nào khi ở cuối cầu, một người thấp bé, mặc áo quần xám bảo: Vào trạm cảnh sát trình hộ chiếu đi!.

    Tường buồng giấy cảnh sát lem luốc, trên tường có đóng nhiều đinh treo những ống điếu và mũ bẩn của nhân viên. Cái bàn giấy lớn bằng gỗ thông dính đầy những vết mực và vết rượu vang, nhân viên ngồi sau bàn đó, hai ba cuốn sổ lớn đóng bìa da xanh mang nhiều dấu vết đủ màu sắc, còn rìa sách thì đen sì những dấu ngón tay. Trên mấy cuốn sổ xếp chồng lên nhau có ba vòng lá nguyệt quế rất đẹp dùng vào lễ mừng Hoàng đế hai hôm trước.

    Những chi tiết đó gây ấn tượng mạnh cho Fabrixơ và làm anh quặn lòng, anh phải đền bồi cảnh sang trọng tuyệt vời và tươi mát ở cái phòng xinh xắn của anh trong lâu đài Xăngxêvêrina. Anh phải vào buồng giấy bẩn thỉu này và có mặt ở đó như một hạ cấp, anh sắp bị hỏi cung.

    Anh nhân viên đưa bàn tay vàng khè ra cầm tờ hộ chiếu là một người thấp bé, đen đủi, trên cà vạt có một món trang sức bằng đồng thau. "Ngữ này là một tên thị dân hay gắt gỏng đây", Fabrixơ tự nhủ. Nhân viên đó có vẻ hết sức ngạc nhiên khi đọc tờ hộ chiếu, và anh ta đọc mất năm phút.

    • Ông đã bị một tai nạn! Anh ta nói, đưa mắt chỉ cái má Fabrixơ.

    • Người xà ích đã làm chúng tôi lộn cổ xuống chân đê sông Pô.
    Thế rồi lại im lặng và người nhân viên nhiều lần nhìn người bộ hành với con mắt nghi ngại.

    "Ta biết rồi! Fabrixơ nghĩ thầm. Hắn sắp bảo hắn lấy làm tiếc có một tin không hay phải báo cho ta, rồi hắn nói ta bị tóm cổ". Đủ thứ nghĩ điên cuồng quây lấy đầu óc anh và anh không còn lý trí nữa. Chẳng hạn anh nghĩ tới việc bỏ chạy ra cửa buồng giấy vẫn để ngỏ: "Ta cởi áo, ta nhảy xuống sông Pô và chắc là ta bơi qua sông được. Gì cũng còn hơn nhà ngục Xpienbe!" Nhân viên cảnh sát đăm đăm nhìn anh, trong lúc anh tính toán khả năng thành công của việc trốn chạy. Hai diện mạo cùng ngộ nghĩnh cả.
    Đứng trước nguy nan, người lý trí hóa nên có thiên tài, có thể nói là nguy nan đưa anh ta lên cao hơn mức thường của anh ta, với người giàu tưởng tượng, nguy nan gợi nên trong đầu óc những tiểu thuyết phải nói là táo bạo nhưng thường vô lý.

    Phải xem ánh mắt phẫn uất của Fabrixơ dưới cái nhìn xoi mói của anh nhân viên cảnh sát đeo đồ trang sức bằng đồng thau ấy: "Nếu ta giết hắn, ta bị xử hai mươi năm khổ dịch trên tàu chiến hoặc xử tử, cái đó còn ít ghê gớm hơn nhà ngục Xpienbe nhiều, ở nhà ngục Xpienbe thì mỗi chân phải mang một dây xiềng sáu mươi cân và chỉ được nhận hai trăm năm mươi gam bánh mì làm khẩu phần ăn cả ngày, mà như vậy suốt hai mươi năm. Như thế thì đến bốn mươi bốn tuổi ta mới được ra tù". Trong khi luận lí như vậy, Fabrixơ quên là anh đã đốt hộ chiếu rồi thì nhân viên cảnh sát lấy đâu ra mà biết anh là tên phản nghịch Fabrixơ Đen Đônggô.

    Người anh hùng của chúng ta lo sợ cũng khá khá, như người ta thấy đấy, giá anh biết những ý nghĩ rộn ràng trong đầu óc người cảnh sát thì anh còn sợ hãi đến bao nhiêu! Anh nhân viên cảnh sát này là bạn của Gileti, anh ta ngạc nhiên như thế nào ai cũng đoán được, khi anh thấy hộ chiếu của bạn anh nằm trong tay một kẻ khác, thoạt đầu anh muốn bắt ngay cái kẻ khác đó, sau anh nghĩ rằng Gileti có thể bán tờ hộ chiếu của hắn cho anh thanh niên đẹp trai này, anh ta hình như vừa làm một việc gì xấu ở Pácmơ. "Nếu ta tóm cổ hắn! Anh cảnh sát tự nhủ, Gileti có thể bị liên lụy, người ta dễ dàng phát hiện Gileti đã bán tờ hộ chiếu của anh ta, nhưng về phía khác, cấp trên của ta sẽ nói thế nào nếu người ta xét thấy ta là bạn của Gileti mà lại đi kiếm nhận giấy thông hành của hắn dù một người khác mang?" Anh nhân viên đứng lên ngáp dài và nói với Fabrixơ: - Ông đợi một tí! Rồi theo thói quen của người cảnh sát anh ta nói thêm:- Có xảy ra một trở ngại đây. Fabrixơ nghĩ thầm: "Có xảy ra việc ta trốn đi đây".

    Quả vậy, anh nhân viên rời buồng giấy, cửa vẫn bỏ ngỏ, tờ hộ chiếu nằm trên bàn gỗ thông. Tai vạ quá rõ ràng, Fabrixơ nghĩ. Ta sẽ lấy tờ hộ chiếu lại và đi bước một trở qua cầu, nếu sen đầm có hỏi, ta nói ta đã quên trình diện cảnh sát trưởng ở làng cuối cùng trên lãnh thổ Pácmơ kiểm nhận. Fabrixơ cầm tờ hộ chiếu trên tay, anh quá đỗi kinh ngạc khi nghe tiếng anh nhân viên đeo đồng thau nói:

    • Chao ôi! Tôi mệt quá, chịu thôi. Nóng bức đến ngạt thở đây. Tôi ra quán uống một ngụm cà phê. Khi anh hút hết điếu, anh hãy vào buồng, có một tờ hộ chiếu phải kiểm nhận. Người nước ngoài đó ở kia.
    Đang nhón chân đi nhẹ nhẹ để ra, bỗng nhiên Fabrixơ thấy xáp mặt với một thanh niên đẹp trai nghêu ngao tự nói với mình: "À! Thế thì ta hãy kiểm nhận cái hộ chiếu đó, tôi sẽ ký cho họ".

    • Ông định đi đâu?

    • Đi Măngtu, Vơnizơ và Fara.

    • Fara, được! Anh nhân viên vừa huýt sáo, vừa đáp. Anh lấy một con dấu dài, in câu kiểm nhận theo lệ bằng mực xanh lên tờ hộ chiếu, viết nhanh chóng mấy chữ: Măngtu, Vơnizơ và Fara lên khoảng trong mà con dấu chừa lại, quay bàn tay mấy vòng trong không khí, ký tên, chấm mực lại, rồi chậm chậm và hết sức cẩn thận gạch dưới chữ ký. Fabrixơ nhìn theo tất cả những vận động của cây bút đó, anh nhân viên nhìn chữ ký của mình một cách đắc ý, thêm vào năm sáu dấu chấm, cuối cùng đưa tờ hộ chiếu cho Fabrixơ và nói với dáng nhẹ nhàng.

    • Chúc ông đi đường may mắn.
    Fabrixơ đi nhanh nhưng cố giấu cho người ta khỏi nhìn thấy mình hấp tấp. Thình lình cánh tay trái anh bị nắm lại, tự nhiên anh đặt tay lên chuôi dao găm, giá không thấy nhà cửa vây quanh thì anh đã làm một việc thiếu suy nghĩ rồi. Thấy anh ngơ ngác, người nắm tay anh nói như để xin lỗi:- Ấy, tôi đã gọi ông đến ba lần mà ông không trả lời. Ông có hàng gì cần khai báo với thuế quan không?

    • Trên người tôi chỉ có một chiếc khăn tay. Tôi đi đến người bà con ở cạnh đây để săn bắn.
    Giá người ta hỏi người bà con đó là ai thì anh sẽ lúng túng biết bao nhiêu.

    Vì trời quá nóng bức và vì những xúc động ấy, Fabrixơ ướt đẫm như thể vừa rơi xuống sông Pô. "Ta chẳng thiếu can đảm giữa bọn diễn viên kịch, nhưng bọn công chức đeo đồ trang sức bằng đồng lại làm cho ta hoảng hồn, với cái thứ ấy, ta phải làm một bài thơ trào phúng tặng cô công tước của ta".

    Vừa vào thị trấn Cazan Magiơ, Fabrixơ rẽ tay phải đi vào một đường phố xấu dẫn xuống sông Pô. "Ta rất cần sự viện trợ của thần Bắcquyx và nữ thần Xêrex(1). Anh tự nhủ như vậy và bước vào cửa hiệu ở ngoài có treo một mảnh vải xám buộc trên một cây gậy. Mảnh vải có đề chữ Tráttôria. Một tấm vải trải giường xấu xí căng trên hai vành gỗ mỏng manh thòng xuống cách mặt đất khoảng một thước, che nắng cho quán Tráttôria. Một phụ nữ khá xinh đẹp, ăn mặc hở hang, tiếp Fabrixơ một cách kính trọng khiến anh rất vui lòng. Anh vội vã nói anh đói gần chết. Trong khi người đàn bà soạn sửa bữa ăn, một người khoảng ba mươi bước vào quán, anh ta không chào hỏi ai, cứ ngồi xuống ghế, ra vẻ một người thân thuộc. Thình lình anh đứng dậy, nói với Fabrixơ "Ecceil ema ia riverisco (tôi xin chào ông lớn). Lúc này Fabrixơ đang vui nên anh không có dự định đen tối, anh cười đáp:

    1. Bacchus: Thần rượu nho. Cérès: Nữ thần ngũ cốc theo thần thoại Hy Lạp.

    • Anh bạn làm thế quái nào mà biết cái ông lớn này?

    • Thế nào? Ông lớn không nhận ra cái thằng Luyđôvíc này ư? Một tên đánh xe cho Bà lớn công tước Xăngxêvêrina ấy mà? Ở biệt thự Xacca mà năm nào chủ tớ cũng có đến, tôi cứ bị sốt sét luôn. Tôi hỏi xin phu nhân món tiền công và thôi việc. Bây giờ tôi có tiền. Đáng lẽ được nhiều nhất là mười hai êqui một năm, phu nhân bảo để cho tôi tha hồ làm thơ, vì tôi là một thi sĩ bằng ngôn ngữ bình dân, cho nên bà lớn cho tôi hai mươi bốn êqui. Còn ngài bá tước thì bảo vạn nhất tôi bị nghèo khổ thì tôi cứ việc đến tìm ngài. Tôi đã được hân hạnh đánh xe cho ông lớn đi một chặng đường khi ông lớn lui về nghỉ ở tu viện Venlêia như một người ngoan đạo.
    Fabrixơ nhìn người ấy và thấy có quen thật. Đó là một anh đánh xe điện bảnh nhất ở nhà họ Xăngxêverina. Ngày nay giàu, anh ta nói vậy, anh chỉ mặc một cái sơ mi rộng, rách và một quần cộc vải thô trước kia màu đen, phủ tới gối một cách chật vật, thêm một đôi giầy không cổ và một cái mũ khổ nữa là đủ bộ. Ngoài ra, râu đã nửa tháng chưa cạo. Vừa ăn một đĩa chả trứng, Fabrixơ vừa nói chuyện với anh, tuyệt nhiên như với một người ngang hàng. Fabrixơ đoán Luyđôvíc là nhân tình cùa chị chủ quán. Anh ăn vội cho xong bữa rồi khẽ nói với Luyđôvíc:

    • Tôi cần nói với anh một câu.

    • Ông lớn cứ việc nói tự do trước mặt chị ấy. Chị ấy đúng là một người phụ nữ tốt, Luyđôvíc nói, vẻ trìu mến.

    • Thế thì các bạn ạ, Fabrixơ nói tiếp chẳng ngần ngại, tôi đang khổ và tôi cần các bạn giúp đỡ. Trước hết, việc của tôi không dính dáng gì đến chính trị. Chỉ có đơn giản là tôi đã giết một người định giết tôi vì tôi trò chuyện với ả nhân tình của hắn.
    • Tội nghiệp chàng trai trẻ! Chị chủ quán nói.

    • Ông lớn hãy tin ở tôi! Anh đánh xe kêu lên, mắt sáng vì tinh thần tận tụy phục vụ. Ông lớn định đi về đâu?

    • Đến Fera! Tôi có một tờ hộ chiếu, nhưng tôi không thích nói chuyện với sen đầm, chúng có thể biết việc tôi.

    • Ông lớn đưa tên đó về chầu trời lúc nào?

    • Sáng nay, lúc sáu giờ.

    • Ông lớn có dính vết máu nào trên quần áo hay không? Chị chủ quán hỏi.

    • Tôi cũng đã nghĩ tới, anh đánh xe nói tiếp, với lại loại dạ may quần áo đó quá tốt, ở vùng nông thôn chúng tôi không mấy khi có, cho nên người ta có thể để ý. Tôi sẽ đi mua áo quần ở tên Do Thái. Ông lớn vóc dạc cũng suýt soát như tôi, tuy mảnh dẻ hơn.

    • Anh chịu khó đừng gọi tôi là Ông lớn nữa, tiếng ấy làm người ta chú ý đấy.

    • Thưa Ông lớn, vâng! Anh đánh xe vừa nói vừa bước ra.

    • Ây! Ây! Fabrixơ hét. Còn tiền nữa chứ! Hãy trở lại đã.

    • Ông lớn nói làm gì tiền bạc! Chị chủ quán nói. Anh ấy có sáu mươi bảy êqui để tiêu dùng vào việc của Ông lớn. Riêng tôi, chị hạ giọng nói tiếp. Tôi cũng có khoảng bốn chục êqui mà tôi lấy làm sung sướng được hiến cho Ông lớn. Không phải khi nào người ta cũng có sẵn tiền trên người lúc gặp những tai biến như thế.
    Trước đây, khi vào quán, Fabrixơ đã cởi bỏ áo ngoài vì nóng bức.

    * Cái gilê của ông có thể gây rắc rối cho chúng ta nếu có ai vào, cái thứ vải Anh đẹp đẽ ấy khêu gợi sự tò mò của thiên hạ.

    Chị đưa cho Fabrixơ một gilê bằng vải thâm vén của chồng chị. Một thanh niên cao lớn từ cửa sau vào phòng, anh ta ăn mặc khá diện. Chị chủ hiệu bảo:- Nhà tôi đó. Rồi chị nói với chồng: - Pie Ăngtoan! Ông đây là bạn của Luyđôvíc, sáng nay ông gặp tai nạn ở bên kia sông nên muốn trốn đến Fera.

    • Ồ! Chúng ta sẽ đưa ông ấy qua, anh chồng nói dáng rất lễ phép. Chúng ta đã có chiếc xuồng của Saclơ Jozép.
    Người anh hùng của chúng ta có một nhược điểm khác mà chúng tôi sẽ thú nhận một cách tự nhiên như chúng tôi đã thú nhận sự sợ hãi của anh ta ở buồng giấy cảnh sát cuối cầu, do nhược điểm đó, mắt anh rớm lệ. Anh xúc động sâu sắc trước sự tận tâm tuyệt đối của những nông dân này, anh cũng nghĩ đến tấm lòng phúc hậu tiêu biểu của cô anh, anh chỉ muốn gây dựng cho những người ấy. Luyđôvíc về, tay ôm một gói bọc.

    • Thế là vĩnh biệt cái lốt kia! Anh chồng thân mật nói với Luyđôvíc.

    • Không phải chuyện chơi, Luyđôvíc đáp giọng hoảng hốt. Người ta bắt đầu nói đến ông, người ta nhận thấy ông do dự khi đi vào đây và ông rời bỏ đường phố lớn như một người cố lẩn trốn.

    • Thế thì ông lên phòng ngay, anh chồng bảo:
    Cái phòng khá đẹp và khá rộng này căng vải xám ở các cửa sổ chứ không lắp kính, ở trong phòng có bốn cái giường mỗi cái rộng gần hai thước, cao hơn thước rưỡi.

    • Nào nhanh lên! Nhanh lên! Luyđôvíc bảo. Có một tên sen đầm rởm nào mới đổi đến, hắn muốn gạ gẫm chị phụ nữ xinh xắn dưới nhà, tôi có báo trước cho hắn là khi hắn đi công cán trên đường cái, hắn có thể ăn một viên đạn, nếu cái thằng chó ấy mà nghe nói đến Ông lớn, hắn sẽ chơi khăm chúng ta, hắn sẽ tìm cách bắt ông ở ngay đây để cho người ta trù cái quán Trattôria của chị Têôđôlanh.
    Ái chà! Luyđôvíc nói tiếp khi thấy sơ mi Fabrixơ loang lổ dấu máu và mấy vết thương rịt bằng khăn tay, thằng con bò đó chống cự à? Ông có thừa cái để bị tóm, thừa đến trăm lần. Tôi lại không mua sơ mi mới chết chứ!

    Anh tự tiện mở tủ anh chồng lấy một cái sơ mi cho Fabrixơ, trong giây lát Fabrixơ đã ăn mặc như một tư sản nông thôn giàu có. Luyđôvíc với tay lấy một tấm lưới treo trên tường, bỏ áo quần Fabrixơ vào một giỏ dùng để đựng cá, lao xuống thang gác và đi nhanh chóng qua một cửa sau. Fabrixơ đi theo anh ta. Khi đi qua dưới nhà, anh gọi bảo:

    • Têôđôlanh, chị cất giấu những thứ trên gác đi, chúng tôi đến đợi bên rặng liễu. Còn anh, Pie Ăngtoan, anh liệu đưa nhanh đến cho chúng tôi một chiếc xuồng, mà nhanh lên, thù lao hậu đó.
    Luyđôvíc dẫn Fabrixơ nhảy qua hơn hai chục cái hào, trên mấy hào rộng nhất, có những tấm ván rất dài và nhún nhẩy bắc làm cầu, qua hào xong, Luyđôvíc rút ván. Đến kênh cuối cùng, anh hồ hởi kéo ván lên:

    Nghỉ thở được rồi! Muốn đến chỗ Ông lớn, thằng sen đầm con chó ấy phải đi mất hơn hai dặm đường. Mặt Ông lớn tái xanh đi, tôi không quên cái chai nhỏ rượu mạnh. Rượu đến phải lúc quá, vết thương ở đùi tôi bắt đầu thấy đau, vả lại, ở trạm cảnh sát cuối cầu, mình đã trải qua một cơn hoảng sợ đích đống.

    • Sợ là phải! Với cái sơ mi đầy vết máu như sơ mi của Ông lớn, tôi không tưởng tượng làm sao Ông lớn lại dám xông vào chỗ ấy. Còn về thương tích thì tôi thạo, tôi sẽ đưa Ông lớn vào một nơi rất mát mẻ để Ông lớn ngủ một tiếng đồng hồ, xuồng sẽ đến rước ta, nếu có cách kiểm tra xuồng. Nếu không, khi Ông lớn nghỉ đã hơi khoe khỏe, chúng ta sẽ đi thêm hai dặm nữa thôi và tôi đưa Ông lớn đến một cối xay, ở đó tự tôi sẽ lấy ra xuồng. Ông lớn thông hiểu hơn tôi nhiều. Ông lớn thử nghĩ xem có phải công tước phu nhân sẽ đau đớn tuyệt vọng khi phu nhân hay tin này? Người ta sẽ nói với phu nhân là Ông lớn bị tử thương, có lẽ họ cũng sẽ nói Ông lớn giết lén kẻ thù chứ không đường hoàng chiến đấu. Con mụ hầu tước Ravécxi sẽ không quên phao tất cả những tin dữ có cỡ làm cho phu nhân rầu rĩ. Ông lớn có thể viết thư.
    • Rồi làm sao mà gửi đi?

    • Bọn trai trẻ làm ở cối xay kiếm được mười hai xu mỗi ngày, đi một ngày rưỡi thì họ tới Pácmơ, thế thì cho là bốn frăng làm lộ phí đi về, cộng với hai frăng hao mòn đế giày. Nếu đi cho một người nghèo khó như tôi thì tất cả tiền công là sáu frăng, nhưng vì đi để phục vụ một quan to, tôi sẽ trả mười hai.
    Khi đã đến nơi nghỉ, tại một rừng cây trăn và cây liễu rậm rạp và mát mẻ. Luyđôvíc còn phải đi xa hơn một tiếng đồng hồ nữa để kiếm giấy và mực. Fabrixơ kêu lên: "Lạy Chúa! Ở đây tôi thích quá! Thần phúc lộc ơi! Vĩnh biệt nhà ngươi, ta chẳng bao giờ là tổng giám mục!".

    Khi về đến nơi, Luyđôvíc thấy anh ngủ say, không nỡ đánh thức. Đến lúc mặt trời lặn, thuyền mới đến, thấy nó từ xa, Luyđôvíc gọi Fabrixơ dậy và anh viết hai bức thư.

    Luyđôvíc vẻ không vui nói:

    • Ông lớn thông hiểu hơn tôi nhiều, nên tôi sợ làm nhọc lòng Ông lớn, mặc dù Ông lớn không nhận là thế, nếu tôi nói thêm một điều gì dó.

    • Tôi không tồi như anh tưởng đâu, Fabrixơ đáp. Dù anh nói thế nào, tôi vẫn luôn thấy anh là một thủ hạ trung thành của cô tôi và là một người làm hết cách ở trên đời để cứu tôi ra khỏi bước nguy nan tồi tệ này.
    Còn phải mất nhiều lời thanh minh nữa, Luyđôvic mới chịu mở miệng và khi anh quyết định nói thì anh bắt đầu bằng một bài phi lộ dài đến năm phút. Fabrixơ sốt ruột, rồi anh tự nhủ: "Lỗi tại ai? Tại cái tính rởm của bọn ta mà anh đánh xe này nhìn thấy rất rõ từ trên cái ghế cao của anh ta". Vì tận tình, cuối cùng Luyđôvíc cũng liều, nói trắng ra:

    • Dù tốn bao nhiêu tiền, chắc nữ hầu tước Ravécxi cũng vui lòng cho cái tên đi bộ mà Ông lớn phải đi Pácmơ, để lấy cho được hai bức thư này! Nó mang nét chữ Ông lớn tức nó là những bằng chứng để buộc tội ông. Ông lớn sắp cho tôi là một thằng tọc mạch vô duyên, thứ nữa có lẽ ông thấy đưa tuồng chữ thảm hại của một tên đánh xe cho công tước phu nhân là một điều nhục. Tuy nhiên vì sự an toàn của Ông lớn, tôi phải mở miệng, mặc dù Ông lớn có cho tôi là đứa hỗn láo đi nữa cũng đành. Ông lớn có thể đọc hai lá thư này cho tôi chép được không? Như vậy thì chỉ có tôi là liên can, mà cũng chẳng có gì nặng nề, khi cần tôi khai là Ông lớn đón tôi ở giữa đồng, một tay cầm lọ mực sừng, một tay cầm súng và ra lệnh cho tôi viết.

    • Anh Luyđôvíc ơi, anh đưa tay cho tôi siết một cái, và để cho anh thấy tôi không muốn giấu diếm một cái gì hết đối với một người bạn như anh, thì đây, anh hãy chép hai cái thư này lại y như vậy.
    Luyđôvíc biết giá trị lớn lao của sự tín nhiệm đó và hết sức cảm động, nhưng chép mới mấy dòng, thấy chiếc thuyền lướt nhanh trên sông đi tới, anh nói:

    • Nếu ông lớn chịu khó đọc cho tôi viết thì chóng hơn. Thư chép xong, Fabrixơ viết một chữ A và một chữ B ở
    dòng cuối rồi lấy một rẻo giấy viết câu tiếng Pháp: Hãy tin A và B rồi vò đi. Người mang thư phải giấu mảnh giấy vò ấy trong người.Thuyền đến vừa tầm gọi, Luyđôvíc gọi những người chèo thuyền bằng những tên không phải tên của họ, họ không trả lời, ghé thuyền vào một nơi cách gần một nghìn thước ở mạn dưới, khi ghé họ nhìn quanh bốn phía xem thử có nhân viên thuế quan nào trông thấy hay không. Luyđôvíc nói với Fabrixơ.

    • Tôi đợi Ông lớn sai bảo đây. Ông lớn có muốn tự tôi đưa thư đến Pácmơ không? Ông lớn muốn tôi cùng đi với Ông lớn đến Fera?

    • Giúp tôi đến Fera là một việc mà tôi gần như không dám cậy anh. Phải đổ bộ và cố gắng đi vào thành phố không phải xuất trình hộ chiếu. Phải nói là đi đường dưới cái tên Gileti, tôi tởm lắm, mà chỉ có anh là có thể mua cho tôi một tờ hộ chiếu khác.

    • Sao Ông lớn không nói từ khi còn ở Cazan Magio? Tôi biết một tên mật thám có thể bán cho tôi một tờ hộ chiếu rất hợp thức mà không đắt, chỉ từ bốn mươi đến năm mươi frăng thôi.
    Một trong hai thủy thủ sinh trưởng trên hữu ngạn sông Pô, vì vậy không cần hộ chiếu ra nước ngoài để đi Pácmơ, nên nhận mang thư đi. Luyđôvíc biết chèo thuyền, tự hào bảo mình sẽ cùng chèo với anh thủy thủ còn lại. Anh nói:

    • Chúng ta sẽ gặp ở mạn dưới sông Pô nhiều thuyền vũ trang của cảnh sát, tôi biết cách tránh nó.
    Hơn mười lần, họ phải lẩn trốn vào giữa những đảo nhỏ xăm xắp mặt nước mọc đầy liễu. Họ phải ba bận lên bộ để cho chiếc thuyền trống qua mặt các thuyền cảnh sát. Thừa những lúc rỗi rãi dài đó, Luyđôvíc đọc cho Fabrixơ nghe nhiều bài thơ của anh. Tình cảm khá chân thật nhưng như mờ nhạt đi vì cách phô diễn cho nên lại không đáng viết ra. Điều lạ là anh đánh xe cũ ấy có những tình cảm và những cách nhìn nóng hổi và kỳ thú, nhưng khi viết ra, anh lại hóa nên lạnh lùng và thông tục. Fabrixơ nghĩ thầm: "Thật là trái với điều ta thấy trong xã hội. Ngày nay nói cái gì người ta cũng biết cách nói duyên dáng, nhưng lòng người ta lại không có gì để nói cả". Anh nhận thấy chữa những lỗi chính tả trong các bài thơ cho Luyđôvíc là cách làm cho người đầy tớ trung thành ấy vui lòng nhất. Luyđôvíc nói:

    - Người ta cười tôi khi tôi cho mượn cuốn vở nhưng nếu Ông lớn hạ cố kêu cho tôi viết từng chữ cái một các từ, thì bọn đố kị chỉ còn biết nói: "Chính tả không làm nên thiên tài mà thôi".

    Tối ngày thứ ba Fabrixơ mới được lên bộ an toàn trong một rừng trăn, còn cách Pôngtê La gô Oxquyrô một dặm. Cả ngày anh nấp trong một đám ruộng gai, còn Luyđôvíc thì đi trước đến Fera. Anh ta thuê một cái buồng con của một người Do Thái nghèo, người này biết ngay là nếu kín miệng thì có thể kiếm chác được. Buổi chiều vào lúc nhá nhem, Fabrixơ cưỡi một con ngựa nhỏ vào thị trấn, anh rất cần sự đỡ đần ấy vì bị cảm nắng trên sông, nhát dao ở dưới vế và nhát gươm Gileti đâm trên vai lúc mới giao chiến sưng tấy lên và khiến cho anh nổi sốt.
    Chương thứ mười hai

    Người Do Thái chủ nhà đã mời một thầy thuốc giải phẫu kín đáo, ông này cũng thấy trong túi khách có tiền nên nói với Luyđôvíc là lương tâm ông ta bắt buộc ông ta phải báo cáo với sở an ninh về những vết thương của chàng thanh niên mà Luyđôvíc gọi là em đó.

    - Pháp luật rõ ràng lắm, hắn nói thêm, thật quá hẳn nhiên là những thương tích của em ông không do anh ấy tự làm ra vì nhào từ trên thang xuống, tay cầm con dao đã mở, như anh ấy nói.

    Luyđôvíc lạnh lùng trả lời với ông thầy giải phẫu lương thiện ấy là nếu ông ta làm theo cảm ứng của lương tâm ông, thì trước khi rời Fera, anh sẽ có cái hân hạnh nhào vào ông ta đúng là với con dao đã mở.

    Khi Luyđôvíc thuật lại việc này, Fabrixơ trách anh nhiều, và họ thấy không thể nấn ná thêm phút nào ở nơi ấy. Luyđôvíc nói với người Do Thái anh muốn thử đưa em anh đi chơi cho thoáng khí, anh đi gọi một chiếc xe rồi cả hai rời nhà để không bao giờ quay lại. Bạn đọc chắc sẽ thấy việc tường thuật những cuộc chạy chọt vì không có hộ chiếu này kéo dài quá. Ở Pháp, chúng ta không phải mất công về việc ấy, nhưng ở Ý, nhất là trong vùng sông Pô, mọi người đều nói chuyện thông hành.

    Khi đã ra khỏi Fera không vướng mắc gì, như người ta đi dạo mát, thì Luyđôvíc trả tiền xe, rồi một mình quay về thành phố từ một cửa ô khác, anh thuê một chiếc xe nhẹ, nói để đi mười hai dặm đường, rồi cùng đi với xe trở lại đón Fabrixơ. Họ đi gần đến Bôlônhơ thì bảo đánh xe băng đồng đến con đường cái đi từ Flôrăngxơ đến Bôlônhơ, họ tìm cái quán tồi nhất để ngủ và sáng hôm sau Fabrixơ thấy có đủ sức đi lại chút ít, họ cùng đi vào thành phố Bôlônhơ, vờ như những người dạo mát. Họ đốt tờ hộ chiếu của Gileti, chắc là người ta đã biết cái chết của tên này, thà là bị bắt vì không có hộ chiếu, ít nguy hiểm hơn là vì mang hộ chiếu của một người bị giết.

    Luyđôvíc có quen với vài ba nô bộc đại thế gia, thầy trò thỏa thuận với nhau là anh ta sẽ đến chuyện vãn với họ. Anh ta nói mình từ Flôrăngxơ đến, cùng đi với người em, chú em thấy buồn ngủ quá, bèn để cho anh đi trước, lúc đó vào khoảng một giờ trước khi mặt trời mọc, họ giao hẹn với nhau là chú em sẽ đến cái làng mà người anh dừng chân để tránh nắng. Nhưng Luyđôvíc chờ không thấy em đến quyết định quay lại, anh ta tìm thấy em bị một vết thương do đá ném trúng và nhiều vết dao đâm, ngoài ra còn bị bọn khiêu khích đó lấy cắp, chú em này điển trai, chú biết săn sóc ngựa và biết đánh ngựa, chú biết đọc, biết viết, chú rất muốn được có một chỗ làm ăn ở gia đình phú quý. Luyđôvíc đành lại chờ lúc có dịp sẽ nói thêm là khi chú em ngã thì bọn kẻ trộm đó lấy các xắc con đựng quần áo và thẻ hộ chiếu của họ mà chạy mất.

    Đến Bôlônhơ, Fabrixơ thấy mình mệt lả, mà không dám vào quán vì không có hộ chiếu, nên đã vào cái nhà thờ Xanh Pêtrôn mênh mông. Nơi đây mát rượi cho nên lát sau anh cảm thấy như hồi sinh. Chợt anh nghĩ thầm: "Mình quả là đứa vô ơn! Mình đi vào một nhà thờ, lại để mà ngồi như ngồi trong quán! Anh quỳ xuống và sôi nổi cảm tạ Chúa về sự phù hộ rõ ràng đối với anh từ ngày anh mang cái vạ giết tên Gileti. Mối nguy bị nhận ra ở trạm cảnh sát Cazan Magiơ hãy còn làm cho anh rùng mình. Anh tự hỏi: "Không biết làm sao cái anh nhân viên có đôi mắt chứa chan nghi ngờ ấy đã đọc tờ hộ chiếu của ta đến ba lần, mà không nhận thay ta không cao đến thước chín, ta không đến ba mươi tám tuổi và ta không rỗ chằng rỗ chịt đậu mùa? Con thụ ân Chúa biết chừng nào mà kể! Thế mà mãi tới nay, con mới đến phủ phục tấm thân đất bụi này dưới chân Người. Con đã kiêu kỳ tưởng rằng nhờ có tính cẩn thận, thật ra sự cẩn thận của người trần có nghĩa lý gì, mà con có được cái hồng phúc tránh khỏi nhà ngục Xpienbe đã mở sẵn cửa để nuốt con!

    Hơn một tiếng đồng hồ, Fabrixơ ở trong tình trạng cảm kích vô hạn trước sự nhân ái không bến bờ của Chúa. Luyđôvíc đến gần và đứng ngay trước mặt mà anh không hay. Fabrixơ đang áp trán vào lòng bàn tay vừa ngẩng lên, và người đầy tớ trung thành thấy có những giọt nước mắt chảy dọc theo má.

    - Một giờ nữa hãy trở lại! Fabrixơ nói, giọng nghiêm lạnh.

    Luyđôvíc không lấy làm bực dọc với cái giọng ấy chỉ vì lòng thành kính Chúa. Fabrixơ đọc nhiều lần bảy bài kinh sám hối mà anh thuộc lòng, anh dừng lâu ở những đoạn có liên quan với tình trạng hiện tại của anh.

    Fabrixơ xin Chúa ân xá cho nhiều tội lỗi, nhưng đáng để ý là không bao giờ anh kể vào hàng tội lỗi cái dự định trở nên tổng giám mục nhờ uy quyền thủ tướng của bá tước Môxca, và việc bá tước nói rằng địa vị ấy và cuộc sống đài các nó đưa đến mới xứng đáng với cháu của nữ công tước. Anh muốn đạt địa vị ấy, đúng là không ham muốn đến mê mẩn, nhưng vẫn là có nghĩ đến, y như nghĩ đến một chức vụ bộ trưởng hay tướng quân. Anh không hề ý niệm rằng lương tâm anh dính líu với ý đồ đó của nữ công tước. Điều này là một đặc điểm trong tín ngưỡng mà anh đã học tập ở các cha Dòng Tên ở Milăng. Tín ngưỡng này không cho người ta có cái can đảm nghĩ đến những điều bất thường, nhất là cấm chỉ sự tự phân tỉnh như là một tội lỗi lớn nhất, một bước nhích đến đạo cải cách. Theo tín ngưỡng ấy, muốn biết mình phạm tội lỗi gì thì phải hỏi cha xứ, hoặc tra cứu bản liệt kê tội lỗi, in ở trong những sách nhan đề là: Chuẩn bị vào lễ Sám hối. Fabrixơ thuộc lòng bản liệt kê tội lỗi, viết bằng tiếng La tinh mà anh học trước đây ở học viện công giáo Naplơ. Cho nên khi đọc nhẩm lại danh sách ấy đến mục sát nhân, anh đã tự tố cáo một cách đúng đắn trước Chúa là anh có giết một người, nhưng để tự vệ. Anh lướt qua rất nhanh ở mục mua giáo tước (dùng tiền bạc để chạy chức vị trong tôn giáo), không chú ý gì đến các điều khoản trong ấy. Nếu có ai đề nghị anh đưa một trăm đồng Lu-i để được làm trợ tá thứ nhất của đức cha tổng giám mục ở Pácmơ, thì anh ghê tởm từ chối ngay, tuy nhiên dù anh không kém thông minh cũng không thiếu khiếu luận lý, anh không hề gợn nghĩ rằng việc dùng thần thế của bá tước Môxca để thành đạt cũng là một việc mua tước vị. Ưu thế của kiểu giáo dục trong Dòng Tên là ở đấy, tập cho con người ta thói quen không để ý đến những điều rõ như ban ngày. Một người Pháp lớn lên giữa những tính toán về quyền lợi về bản thân và không khí mỉa mai của Pari, dù không có ác ý, cũng có thể cho là Fabrixơ giả dối chính lúc anh ta phơi trải tâm hồn với Chúa trong sự trung thực tuyệt đối và sự xúc động sâu xa.

    Fabrixơ định xưng tội ngay trong ngày hôm sau, và khi đã chuẩn bị nhẩm xong cuộc xưng tội đó, anh mới đành ra khỏi nhà thờ. Anh tìm thấy Luyđôvíc đang ngồi ở thềm cái thạch đình lớn xây tại quảng trường ở phía trước nhà thờ Xanh Pêtrôn. Như sau một cơn giông tố lớn, khí trời trở nên trong lành hơn, tâm hồn Fabrixơ bây giờ yên tĩnh, thoải mái và tươi mát lại.

    • Tôi thấy trong ngưòi khỏe khoắn lạ, hầu như không biết mình đã bị thương vào những chỗ nào! Fabrixơ nói khi gặp Luyđôvíc. Nhưng trước hết, tôi phải xin lỗi anh.Tôi trả lời anh một cách bực dọc khi anh đến tìm tôi trong nhà thờ. Lúc đó tôi đang sám hối. À! Công việc của chúng ta đến đâu rồi?

    • Trôi chảy lắm! Tôi đã giữ một chỗ trọ, nói cho đúng thì chẳng xứng đáng với Ông lớn chút nào, chỗ trọ ở nọ, cô vợ của một thằng bạn tôi, cô ấy xinh lắm và đi lại thân mật với một tên cảnh sát quan trọng. Đến mai, tôi sẽ đi khai hộ chiếu của chúng ta bị mất như thế nào, họ sẽ tin lời khai ấy. Và tôi sẽ trả tiền công cho người đem bức thư của sở cảnh sát đến Cazan Magiơ, cái thư viết hỏi xem ở làng ấy có người tên là Luyđôvíc Xăng Mikơli hay không, và người ấy có phải có một người em là Fabrixơ, kẻ hầu của công tước phu nhân Xăngxêvêrina ở Pácmơ hay không. Thế là xong cả, siamo a cavailo (ngạn ngữ Ý: chúng ta thoát nạn).
    Bỗng nhiên mắt Fabrixơ đượm vẻ nghiêm trang. Anh bảo Luyđôvíc đợi anh một lát, rồi anh đi như chạy trở vào nhà thờ. Vừa vào nhà thờ, anh quỳ xuống ngay. Anh khiêm tốn hôn nền gạch.

    • Đây là một phép màu, ơn Chúa! Anh kêu lên, mắt chan chứa lệ. Khi người thấy linh hồn con sẵn sàng trở về chính đạo, Người đã cứu vớt con. Lạy Chúa! Có thể một ngày kia, con bị giết trong một vụ nào đó, lúc con chết, xin Chúa hãy nhớ lại trạng thái tâm hồn con lúc này.
    Fabrixơ đọc lại bảy bài kinh sám hối một lần nữa trong niềm hân hoan bồng bột nhất. Trước khi đi ra, anh bước đến gần một bà già đang ngồi trước pho tượng đức Mẹ lớn, bên cạnh một tam giác sắt dựng đứng trên một cái đế cũng bằng sắt. Vành tam giác lổm nhổm mũi nhọn để cắm những mẩu nến nhỏ, mà các con chiên ngoan đạo thắp trước tượng đức
    Mẹ Ximabuyê. Khi Fabrixơ đến thì mới có bảy ngọn được thắp sáng, anh ghi nhận trường hợp đó để sau này suy nghĩ khi có thời giờ.

    • Nến giá bao nhiêu? Anh hỏi người đàn bà.

    • Hai hào một cây.
    Quả những cây nến đó không to hơn cái ông lông ngông và chỉ dài đến ba mươi phân.

    • Còn có thể gắn bao nhiêu nến nữa trên cái tam giác của bà?

    • Sáu mươi ba, vì đã có bảy thắp rồi.

    • A! Fabrixơ tự nhủ. Sáu mươi ba và bảy là bảy mươi, điều này cũng nên ghi nhớ.
    Anh trả tiền nến, tự mình cắm và thắp bảy cây đầu, rồi qùy xuống khấn dâng lễ, lúc đứng lên, anh nói với bà già:

    • Đây là để tạ ân ban phúc.
    Khi trở lại với Luyđôvíc anh nói:

    • Mình đói sắp chết đây.

    • Chúng ta không nên vào quán, cứ về nơi trọ thôi. Chị chủ nhà sẽ đi sắm bữa sáng cho chúng ta, chị sẽ ăn bớt vài mươi xu, cũng vì vậy sẽ gắn bó với người mới đến hơn.

    • Cái việc quái đó chỉ tổ làm cho tôi chết đói thêm một tiếng đồng hồ nữa. Fabrixơ nói và cười trong sáng như một trẻ con. Rồi anh đi vào cái quán ở gần nhà thờ. Anh kinh ngạc nhìn thấy ở một bàn gần nơi anh ngồi người hầu phòng thứ nhất của cô anh, Pêpê, cái người ngày trước đã đi đón anh ở Giơnevơ. Fabrixơ ra hiệu bảo Pêpê im lặng. Anh ăn vội vàng rồi đứng dậy, trên môi phảng phất một nụ cười hạnh phúc. Pêpê đi theo anh và lần thứ ba, nhân vật của chúng ta đi vào nhà thờ Xanh Pêtrôn. Rất nhã nhặn, Luyđôvíc ở ngoài, đi dạo trong quảng trường.
    • Chao ôi! Ông lớn ôi! Thương tích của ông thế nào? Công tước phu nhân lo ngại ghê gớm, suốt một ngày, bà tưởng Ông lớn bị bỏ chết ở một hòn đảo nào trên sông Pô. Tôi phải cho người mang tin đến tức khắc cho phu nhân mới được. Tôi tìm kiếm Ông lớn đã sáu ngày nay trong đó có ba ngày lùng sục các quán xá ở Fera.

    • Anh có mang cho tôi một tờ hộ chiếu không?

    • Tôi có ba cái khác nhau: - Một mang tên họ chức tước Ông lớn, cái thứ hai chỉ có tên Ông lớn thôi và cái thứ ba mang một tên bịa, Jôzép Bôxi. Mỗi hộ chiếu đều làm thành hai bản, để tùy tiện. Ông lớn muốn đi từ Flôrăngxơ đến hay từ Môđen đến. Chỉ cần đi dạo một vòng ra ngoài thành phố rồi quay vào. Ngài bá tước sẽ lấy làm thú nếu Ông lớn đến ở quán Đen Pelơgrinô, mà người chủ quán là chỗ quen thân với bá tước.
    Fabrixơ có vẻ như đi không có đích, nhưng tiến vào gian giữa, đến tận nơi có những ngọn nến của anh cháy dở, mắt anh đăm đăm nhìn tượng đức Mẹ Ximanbuyê, rồi vừa quì xuống, anh vừa nói với Pêpê: - Tôi phải khấn tạ ân một lát. Pêpê làm theo anh. Ở nhà thờ ra, Pêpê để ý thấy Fabrixơ cho người đầu tiên đến xin bố thí một đồng hai mươi frăng, người hành khất đó cảm tạ ầm ĩ, khiến cả một đàn kẻ khó bu theo bên chân nhà từ thiện, đám kẻ khó này thường đứng trang trí cảnh quảng trường Xanh Pêtrôn. Ai cũng muốn xí phần trong đồng Napôlêông. Những người đàn bà không có cách gì chen vào giữa đám đông, bèn xông vào Fabrixơ, mồm thét hỏi phải chăng anh cho đồng Napôlêông là để chia cho tất cả những đứa con nghèo của Chúa nhân ái. Pêpê vung cây gậy quả nắm vàng thét bảo để cho Ông lớn yên.

    • Chao ôi! Lạy Ông lớn. Các ngưòi đàn bà ấy lại càng thét lên the thé. Xin Ông lớn cũng cho lũ đàn bà nghèo khổ này một đồng Napôlêông!
    Fabrixơ rảo bước đi nhanh, những người đàn bà đó vừa chạy theo vừa la hét, rồi nhiều anh đàn ông nghèo cũng từ các ngã phố chạy đến làm thành như một cuộc nổi loạn nho nhỏ. Cái đám đông cương quyết và nhơ bẩn một cách ghê tởm đó hét: - Ông lớn ôi! Ông lớn! Fabrixơ phải khó nhọc lắm mới thoát ta khỏi đám người ô hợp đó. Cảnh tượng vừa qua kéo trí óc mơ màng của anh trở về với quả đất. "Cũng đáng đời mình thôi! Anh nghĩ thầm, mình đã cọ vào lũ hạ tiện".

    Còn hai mụ đàn bà lẽo đẽo đi theo anh đến cửa ô Xaragôxơ mà anh đi qua để ra ngoài thành phố. Pêpê vung gậy dọa gắt để cho họ dừng lại và ném cho họ một ít bạc vụn. Fabrixơ leo lên ngọn đồi Xăng Miken Bôxcô xinh đẹp, đi một đoạn vòng thành phố từ bên ngoài tường thành, rẽ qua một lối nhỏ đến một nơi trên con đường từ Fiôrăngxơ tới, cách Bôlônhơ năm năm thước, rồi theo đường đó mà vào thành phố. Anh trịnh trọng đưa cho nhân viên cảnh sát xem tờ hộ chiếu ghi tên anh là Jôzép Bôxi sinh viên thần học. Anh để ý thấy có một vết mực đỏ như vô tình dây ở góc phải tờ giấy về phía dưới. Hai giờ sau, có một tên mật thám lò dò theo anh, do cái danh hiệu Ông lớn mà người bạn đường đã gọi anh trước mặt những hành khất ở nhà thờ Xanh Pêtrôn, mặc dù tờ hộ chiếu không ghi chức vị gì cho phép kẻ hầu người hạ gọi mình là Ông lớn.

    Fabrixơ thấy tên mật thám, nhưng chẳng thèm để ý, anh không nghĩ đến hộ chiếu, đến cảnh sát nữa, và thấy gì cũng lấy làm vui thích, y như một chú bé con. Pêpê được lệnh hộ vệ anh, nhưng thấy anh rất bằng lòng về Luyđôvíc, nên muốn tự mình mang những tin tức tốt lành nhất đó về cho nữ công tước. Fabrixơ viết hai bức thư dài cho những người thân, rồi anh nảy ý viết một bức thư thứ ba cho đức tổng giám mục Lăngđriani tôn kính. Cái thư này có một hiệu quả kỳ diệu, nó tường thuật khá đúng đắn việc đánh nhau với Gileti. Ông tổng giám mục phúc hậu rất cảm kích và không quên mang thư đến đọc cho hoàng thân nghe, hoàng thân cũng vui lòng nghe vì ông muốn biết cái đức cha trẻ đó làm thế nào để thanh minh một vụ giết người kinh khủng như thế. Trước đây nhờ có những người bạn hữu đông đặc của nữ hầu tước Ravécxi, hoàng thân cũng như toàn thành Pácmơ tin rằng Fabrixơ đã cậy vài ba mươi nông dân giúp sức đánh chết một nghệ nhân sân khấu không tên tuổi, vì tên này dám hỗn láo dành con bé Marieta với anh ta. Tại các triều đình chuyên chế, tay nào khôn khéo xiểm nịnh trước thì tay ấy lung lạc chân lý cũng như thời trang lung lạc Pari. Hoàng thân nói với đức cha:

    • Rõ quái chưa! Các cái thứ ấy, người ta cậy kẻ khác làm chứ! Tự làm lấy là trái với tục lệ. Với lại một diễn viên khó như Gileti thì giết làm gì, người ta mua nó thôi.
    Fabrixơ chẳng nghi ngại gì về tình hình xảy ra ở Pácmơ. Trên thực tế, vấn đề đặt ra là phải để xem cái chết của anh diễn viên lúc sinh tiền lĩnh ba mươi hai frăng mỗi tháng đó có làm sụp đổ nội các cực đoan và thủ lĩnh của nó, bá tước Môxca hay không.

    Khi hay biết về vụ Gileti, hoàng thân vốn ức về cung cách ngang tàng của nữ công tước, đã ra lệnh cho quan chánh án tối cao Rátxi tiến hành công việc tố tụng như đối với một người thuộc đảng tự do. Về phần Fabrixơ, anh cho rằng hạng thế gia như anh ở trên luật pháp, anh không dự tính là ở những nước mà các nhân vật có tên tuổi lớn không bị trừng phạt, thì sự xiểm nịnh vẫn có thể làm được tất, kể cả việc trị họ. Anh thường nói với Luyđôvíc về sự vô tội hoàn toàn của anh, sự vô tội đó sẽ được mau chóng công bố, lý lẽ lớn của anh là anh không phạm tội. Đáp lại, một hôm Luyđôvíc đã nói:

    • Tôi không quan niệm được làm sao Ông lớn thông minh và uyên bác như thế, mà lại chịu khó nói những điều ấy với
    tôi là người tôi tớ tận tụy của Ông lớn. Ông lớn cẩn thận quá, những điều ấy chỉ đáng nói giữa công chúng hoặc trước tòa án.

    Fabrixơ cụt hứng, nghĩ thầm: "Người này cho ta là một kẻ giết người, nhưng lại cứ yêu mến ta".

    Ba hôm sau khi Pêpê lên đựờng, Fabrixơ rất ngạc nhiên nhận được một phong bì to buộc bằng một sợi dây tết chỉ tơ như ở thời Lui XIV, gửi đến Ông lớn tôn kính, đức cha Fabrixơ Đen Đônggô, sa noan, đệ nhất trợ tá địa phận Pácmơ ...

    - Nhưng ta đâu đã được tất cả những cái này, Fabrixơ cười nói. Bức thư của đức tổng giám mục Lăngđriani là một kiệt tác về tính lôgic và tính sáng sủa, nó dài đến mười chín trang đặc và nó kể tường tận tất cả những gì đã xảy ra ở Pácmơ nhân cái chết của Gileti.

    "Một đạo binh Pháp do thống chế Nê chỉ huy xông vào thành phố cũng không thể gây xao xuyến mạnh hơn, ông tổng giám mục đôn hậu viết. Trừ công tước phu nhân và cha, còn ai cũng nói, con yêu dấu ạ, là con thích thú giết cái tên hề Gileti kia. Tội vạ ấy dù xảy đến với con chẳng qua cũng vào loại có thể làm cho người ta quên đi với hai trăm đồng Lu-i và sáu tháng vắng mặt. Nhưng ả Ravécxi lại muốn lợi dụng sự kiện này để lật đổ bá tước Môxca. Công chúng không trách sự vụng về, nói đúng hơn sự thường đến không thèm cậy một tên bulo (một tay "anh chị" hạ đẳng). Cha thuật lại ở đây bằng lời lẽ rõ ràng những dư luận chung quanh cha, bởi vì từ khi xảy ra cái tai họa mãi mãi đáng tiếc này, mỗi ngày cha đi đến ba gia đình thuộc loại bề thế nhất trong thành phố để có cơ hội thanh minh cho con. Và cha nghĩ chưa có lúc nào cha được sử dụng chút ít tài hùng biện trời cho một cách thiêng liêng hơn".

    Mắt Fabrixơ như đã rơi màng mộng. Thư bà công tước gửi đến rất nhiều, và chứa chan niềm trìu mến, nhưng không
    tường thuật gì cả. Bà thề sẽ rời bỏ vĩnh viễn Pácmơ nếu như Fabrixơ không trở về đại thắng lợi. Trong bức thư gửi kèm theo thư ông tổng giám mục, công tước phu nhân viết : "Bá tước sẽ vì anh mà làm tất cả những gì con người có thể làm được, về phần cô, hành trình tốt đẹp của anh đã làm thay đổi tính tình cô, bây giờ cô hà tiện hơn cả anh chủ nhà băng Tôngbôn. Cô đã cho tất cả thợ làm cho cô về, cô làm hơn thế, cô đã đọc cho bá tước viết bản kiểm kê tài sản của cô, tài sản này ít hơn nhiều so với mức cô nghĩ. Sau khi ông bá tước Pietranơra tuyệt diệu qua đời, nên nói ngoại đề là anh đang trả thù cho bá tước hơn là liều lĩnh đánh với một đứa loại Gileti. Cô có một nghìn hai trăm frăng lợi tức và năm nghìn frăng nợ, cô nhớ đặc biệt là cô có hai tá rưỡi giầy xa tanh trắng sắm ở Pari mà chỉ có một đôi giầy da để đi ngoài đường phố. Bây giờ cô gần như đã quả quyết lấy số tiền ba mươi vạn frăng công tước để lại cho cô, mà trước đây cô muốn dùng tất cả để dựng cho công tước một ngôi mộ tráng lệ. Ngoài ra mụ hầu tước Ravécxi là ké thù chính của anh, cũng tức là của cô. Nếu ở Bôlônhơ anh thấy buồn thì anh cứ nói một tiếng là cô đến bên cạnh anh ngay. Cô gửi theo đây bốn hối phiếu mới v.v...

    Công tước phu nhân không nói gì với Fabrixơ về dư luận thiên hạ ở Pácmơ, bà muốn an ủi anh trước hết, vả chăng, dẫu thế nào đi nữa thì cái chết của một tên vô danh tiểu tốt như Gileti có đáng gì mà đem trách cứ nặng nề một công tử dòng Đen Đônggô! Phu nhân nói với bá tước: "Tổ tiên chúng tôi đã gửi sang thế giới bên kia biết bao nhiêu là Gileti mà có ai nảy ra ý kiến phê phán họ một lời nào đâu!".

    Fabrixơ rất ngạc nhiên và lần đầu tiên thoáng thấy thực chất sự việc, bèn nghiên cứu kỹ bức thư của ông tổng giám mục. Rủi thay, ông tổng giám mục lại ngỡ anh ta biết nhiều rồi, Fabrixơ hiểu rằng mụ hầu tước Ravécxí đạt thắng lợi nhờ ở chỗ không thể tìm ra những nhân chứng có diện kiến cuộc đánh nhau tai hại đó. Người hầu phòng, kẻ đầu tiên mang tin về Pácmơ, đang ở trong một cái quán tại làng Xănghinha khi cuộc chiến đấu diễn ra, ả Marieta và bà già đóng vai mẹ ả đã biến mất, còn tên xà ích đánh cái xe chúng đi thì bị con mụ hầu tước mua chuộc, cho nên bây giờ cung khai một cách đáng ghét. Ông tổng giám mục, với văn phong hùng biện dông dài thường lệ của ông, đã viết: "Mặc dù việc tố tụng đó được tiến hành một cách hết sức bí mật và do bản thân tay Rátxi, chánh án tối cao điều khiển, tay ấy, mà cha không vạch những việc xấu xa ra là chỉ vì lòng nhân ái theo đạo Chúa mà thôi! Tay ấy nhờ có truy bức ráo riết những kẻ bị cáo đáng thương, như con chó săn đuổi riết theo con thỏ rừng, mà làm nên sự nghiệp, mặc dù tay Rátxi như cha nói, đã được quận vương đang giận dỗi giao cho điều khiển việc tra án, cha cũng được đọc ba bản cung khai của tên xà ích. May mắn hiếm có sao, tên khốn khổ đó lại trước sau tự phản cung mình! Và cha nói với vị trợ tá của cha, với cái người sẽ trông nom địa phận này sau khi cha qua đời, cha nói thêm rằng cha đã gọi cha xứ của địa hạt mà tên tội lỗi lạc bầy đó ở. Cha cũng sẽ nói, con yêu quý ạ, nhưng phải bảo đảm bí mật của việc xưng tội, là cha xứ đã biết, qua mụ vợ tên xà ích, số ê qui mà tên ấy nhận của mụ hầu tước Ravécxi. Cha không dám nói mụ ấy đã buộc hắn phải vu khống con, nhưng có phần chắc là chuyện ấy, số tiền do một linh mục khốn nạn trao, viên này giữ những phận sự không lấy gì làm cao quý bên cạnh mụ hầu tước, và cha bị bắt buộc phải cấm ông ta hành lễ, cấm lần thứ hai. Cha không làm con phải nhọc công đọc những lời tường thuật về nhiều cuộc vận động khác mà con chờ đợi ở cha, những việc ấy vẫn thuộc nghĩa vụ cha phải làm. Một viên sa noan đồng nghiệp với con ở nhà thờ lớn đôi khi nhớ hơi nhiều quá tới ảnh hưởng do gia tài của ông cha để lại, mà ơn Chúa, ông là kẻ kế thừa duy nhất, viên sa noan ấy đã mạo muội nói liều ở nhà bá tước Duyếcla bộ trưởng nội vụ, là ông ta coi cái việc nhỏ mọn ấy xảy ra rõ ràng do lỗi tại con (ông ta nói về việc tên Gileti khốn nạn bị giết), cha đã gọi ông ấy đến trước cha, và ở đấy, trước mặt ba vị trợ tá khác của cha, trước mặt cha tuyên úy và hai cha xứ hiện diện ở phòng chờ, cha đã yêu cầu ông ta thông báo cho chúng ta, những người anh em của ông, biết những chi tiết khiến ông tin tưởng hoàn toàn là một đồng nghiệp của ông ở nhà thờ lớn đã phạm tội, điều tin tưởng ấy ông có phát biểu rồi, cái anh chàng khốn khó đó chỉ lắp bắp những lý lẽ không thuyết phục ai, ai cũng phản đối ông ta và cha chỉ cần nói thêm vàì lời, ông ta đủ phát khóc, rồi thú nhận sự sai lầm hoàn toàn của ông trước mặt chúng ta, tới lúc đó thì cha nhân danh cha và những người hiện diện hứa với ông ta đem hết mẫn cán ra sửa chữa những ấn tượng không đúng gây nên bởi lời lẽ của ông từ mười lăm ngày nay.

    Cha không nói lại với con, hỡi con thân yêu, điều mà chắc con đã biết từ lâu rồi, là trong số ba mươi bốn nông dân dùng vào công việc khai quật của bá tước Môxca mà mụ Ravécxi nói con đã cho tiền để giúp con thực hiện tội ác, ba mươi hai đang ở dưới hào, hì hục với công việc, khi con nhặt con dao săn và dùng nó để bảo vệ tính mệnh con chống kẻ tấn công con bất ngờ. Hai người ở trên miệng hào kêu to gọi bọn kia: - Người ta giết Đức cha đây! Chỉ tiếng kêu đó thôi đủ nói lên sự vô tội rõ rệt của con. Ấy thế mà tay chánh án tối cao Rátxi lại nói hai người đó đã biến đâu mất, hơn thế người ta tìm được tám người lúc đó ở trong hào, trong cuộc thẩm vấn đầu tiên, sáu người khai có nghe câu người ta giết Đức cha! Qua những đường liên lạc gián tiếp, cha biết là đến cuộc thẩm vấn thứ năm xảy ra tối hôm qua, năm người lại khai họ không
  • Chia sẻ trang này