11.03 - bipbip/inconchaylonton (type done)

6/9/15
11.03 - bipbip/inconchaylonton (type done)
  • https://drive.google.com/file/d/0B8zMka7V_FK-a3pENjk5dlBjWWs/view


    VÂN-ĐÀI LOẠI-NGỮ QUYỂN I

    Nguyên đầu tiên thuốc lào từ Ai-lao đem sang nước ta. Người ta hút thuốc lào trị được chứng hàn. Lúc mới đầu thuốc lào giá rất đắt, có người đã đổi một con ngựa lấy một cân thuốc lào. Thoạt tiên chỉ có người có bịnh hàn mới hút thuốc lào, dần dần đàn bà con trẻ ai ai cũng hút thuốc lào. Phong-trào hút thuốc lào bừng lên quá mãnh liệt, khiến nhà vua phải ra lịnh cấm hút thuốc lào, cấm trồng thuốc lào.

    Nhiều người quá ghiền thuốc lào phải đục ống tre ở cột nhà làm ống điếu hút thuốc lào gây thành hỏa hoạn. Có người phải đào đất chôn bình điếu thuốc lào để tránh quan quân dò xét, rồi lén đào lên để hút nữa.

    Đọc sách Vân-đài loại-ngữ chúng ta còn gặp được nhiều tích xưa chuyện lạ, lắm khi có vẻ hoang đường khó tin, như chuyện răng voi làm thành chữ thập xâu vào gỗ sơn-du, ném xuống song thì Thủy-thần phải chết, vực sẽ biến thành gò.

    Tất cả những kiến-thức về triết học, khoa học, văn học, vạn-vật học được xếp thành loại với nhau trong 9 mục sau đây:

    1. Lý-khí. Mục này luận về vũ-trụ, về Thái-cực, Vô-cực. Cụ Lê-Quý-Đôn trình-bày những luận-thuyết của Chu-Hy, của hai anh em Trình-Hiệu, Trình-Di, của Trương-Tải. Trong khoảng trời đất chỉ có Lý và Khí. Lý là cái thể hình như thượng, là cái gốc của vạn-vật. Khí là cái vỏ hình nhi hạ, là cái khí-cụ làm nên vạn-vật. Cho nên khi sinh ra, người và vật đều bẩm-thụ cái lý mới có tính-tình, và cái khí mới có hình-hài.
    Theo Cụ Lê-Quý-Đôn, đầy dẫy trong khoảng trời đất là khí. Còn theo chữ thì chỉ để nói rằng cái khí là thực-hữu, chớ không phải hư không.không có hình-tích, nhờ khí mới hiện ra được. ở ngay trong khí.

    1. Hình-tượng nói về vũ-trụ học. Cụ Lê-Quý-Đôn gom nhặt những kiến-thức về sự vận-chuyển của mặt trời mặt trăng và tinh-tú trong vũ-trụ, về phận dã của các ngôi sao, về phép làm lịch, về thuyết trái đất tròn, về phép đo bóng mặt trời, về các động-vật được ghép vào thập nhị chi, về ngũ hành tương sinh tương khắc, về thủy-triều…
    2. Khu-vũ nói về mối tương-quan giữa thiên-văn và địa-lý, giữa chính-trị và địa-lý, về phép làm bản-đồ, về các phương-hướng, về các kinh-đô của Trung-Quốc qua các triều-đại, về địa-dư và lịch-sử của nước Việt Nam, về bốn đại châu trong thiên hạ…
    3. Vựng-điền nói về tế-tự, về việc dùng hương khi cúng tế, về việc cầu mưa khi hạn-hán, về cách-thức giải-cứu nhật-thực, về lễ Vu-lan rằm tháng 7, về tiền giấy, về đồng cốt, về hôn-lễ nộp lụa nộp tiền xin cưới, về ngày sinh-nhật của Vua, về triều-hội, về nghinh-giá, về nhà trạm, về việc dùng kiệu, về phẩm-phục đời Đường, về tiền chi-phí của sứ-giả, về chế độ lương-bổng của nhà Đường và nhà Minh, về chế-độ ấm-sinh, về chế-độ khoa-cử, về chế-độ thi võ đời Đường, về cách-thức tuyển-dụng quan-lại, về quan-chế, về hộ-khẩu, tô thuế, lực-dịch, về quán-xá, điếm, trạm, về quân-chế, binh-chủng, vũ-khí…
    4. Văn-nghệ nói về nguồn gốc của văn-học. Lục kinh là kho-tàng của tông-giáo và đạo-đức. Văn-chương bắt rễ ở Lục kinh. Kinh Dịch là mối đầu về luận-thuyết. Kinh Thư mở dòng cho chiếu, sách, chương, tấu. Kinh Thi lập ra thể-cách cho phú, tụng, ca, tán. Kinh Lễ gây mối cho minh, chầm, tụng, chúc. Kinh Xuân-thu làm gốc cho ký, truyện, hịch.
    Mục này lại nói về văn-chương thực-dụng, về văn-pháp, về thi-pháp, về cách bồi-dưỡng đạo-đức, tính-tình, tư-tưởng của nhà văn nhà thơ, về phép đọc sách…

    1. Âm-tự nói về nguồn-gốc của âm dương của thinh âm và văn-tự, về mối tương-quan giữa thinh-âm và ca nhạc, về thinh-âm và lý-số, về hình và ý trong chữ Nho, về thổ-âm Quảng-đông, về phép viết chữ Nho, vến ấn-loát…
    2. Thư-tịch nói về các sách Kinh, sách Vĩ, về sách Quản-tử, sách Lão-tử, sách Âm phù kinh, sách Liệt-tử, sách Tuân-tử, sách Hàn-Phi-tử, sách Lữ-thị Xuân-thu, sách Tố-thư, sách Tân-ngữ, sách Khổng-tùng-tử, sách Thuyết-uyển…
    3. Sĩ quy nói về cách xử sự của người làm quan đối với dân, với nước, với vua, với quan trên, với quan-chức đồng đẳng, với kẻ dưới sao cho phải đạo, cho ích nước lợi dân, để tránh tai vạ để phúc lành cho con cháu, về mánh khóe làm quan…
    4. Phẩm-vật nói về nguồn-gốc của lâu-đài nhà cửa, xe thuyền, vải lụa, gầm vóc, về các giống lúa nếp lúa tẻ ở Việt-nam, về sự biến hóa của loài cá thành chim, về giống tê-giác, giống voi, giống cá…
    Sách Vân-đài loại-ngữ không phải là một công-trình tập-thể, mà là công-trình của một cá-nhân sưu-tập mọi vấn-đề trong khi đọc sách, chất chứa lâu ngày, sau đó mới phân-loại mà sắp đặt vào 9 mục.
    Với những ưu-điểm và khuyết-điểm của nó, sách
    Vân-đài loại-ngữ rất có ích cho chúng ta về văn học, triết học, sử học, ngữ-học và về sinh-vật học.

    Sài-gòn, ngày 16 tháng 5 năm 1972

    TẠ-QUANG-PHÁT

    Dịch-giả
    [1a] VÂN-ĐÀI LOẠI-NGỮ 1

    Lời tựa

    Người xưa có ba điều bất hủ 2, mà lập ngôn 3 là một vậy.

    Này, trong khoảng trời đất tự nhiên có đạo-lý bao-la vô cùng. Bản-thể của đạo-lý ấy thật tinh-vi. Công-dụng của đạo-lý ấy thật rõ-ràng. Chỉ có bậc thánh-nhân quân-tử mới có thể dung hội 4 được và phát-minh ra thành những lời nói trứ-thuật trong sách sử. Tinh-thần còn ngụ ở đây, khuôn-khổ còn giữ ở đây, không phải là việc cẩu-thả vậy.

    1. Vân
    là một loại cỏ thơm ghép vào sách vở thì trừ được sâu mọt, do đó Vân-đài là nơi chứa sách. Vân-đài loại-ngữ là những lời nói thu-thập tại chốn Vân-đài được xếp theo từng loại.

    2. Ba điều bất hủ,
    ba điều không mục nát tiêu tan, vẫn còn mãi mãi: Lập đức, lập ngôn và lập công.

    3. Lập ngôn
    , những gì viết ra thành sách để lưu truyền mãi mãi cho đời sau.

    4. Dung-hội
    , dung-hòa và hội-họp những thuyết thành hệ-thống.

    Sách này chia ra làm chín quyển, môn loại rõ-ràng, nghĩa lý rành-rẽ. Trên nói về thiên-văn, dưới nói về địa-lý, giữa nói về nhân-sự. [1b] Cái học cách vật, trí tri, thành ý và chính tâm, cái công tu nhân, tề gia, trị quốc và bình thiên-hạ thì không có điều gì là không có ở trong sách ấy, cốt để phát-huy những ý tứ sâu-xa của các bậc hiền-triết đời trước và để bắc cầu chỉ bến cho kẻ hậu học sau này.

    Sau Lục-kinh 2, Luận-ngữ Mạnh-Tử, Ông là người biết lập-ngôn chăng?

    Ta với Ông qua lại thù ứng với nhau, may mà không bị khinh-bỉ là hạng già-nua ngu độn, cho nên hôm nọ trong buổi đàm luận với nhau, tôi được Ông đưa cho xem bộ sách ấy.

    1. Quản khuy lễ trắc
    , lấy ống nhìn trời thì thấy trời nhỏ bé, lấy bầu đong nước biển thì chẳng thấm vào đâu, ngụ ý kiến-thức cạn hẹp.

    2. Lục-kinh,
    là sáu bộ Kinh: Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Dịch, Xuân-thu.

    Tôi đọc đi đọc lại thưởng-thức đôi ba lần và nhận thấy văn-chương tao nhã đầy đủ ý thú rộng-rãi sâu xa: dẫn giải mà mở rộng ra thì có thể suy cùng được cái tinh-vi của trời đất, gồm hết được các sự vật của xưa nay để đem ra sửa trị việc đời và giúp đỡ kế-hoạch của hoàng-gia, thì sự-nghiệp lớn-lao cao-xa ấy khó có thể lường độ trước được.

    Bậc hiền-triết đời trước có nói: “Thông hiểu việc Trời, Đất và Người gọi là nho”. Mà nội-dung trứ-tác của bộ sách Vân-đài loại-ngữ ngày có thể gọi là thông hiểu việc Trời, Đất và Người vậy chăng?

    Ta nên bày ra trình cùng độc-giả và xin đem bộ sách này ra khắc bản in để truyền lại cho đời sau, cho nên viết bài tựa này.

    [2a] Ngày mùng 1 tháng 7 mạnh thu năm Đinh-dần nhằm niên-hiệu Cảnh-hưng (1777)

    Khiêm-trai Trần-Danh-Lâm, người làng Bảo-triệu huyện Gia-định kính cẩn đề tựa.
    [2b] VÂN-ĐÀI LOẠI-NGỮ
    Bài tựa của tác-giả

    Cổ-nhân nói cái học Cách vật trí tri 1, suy diễn phần công-hiệu của nó ra thì tiến đến việc tu thân (sửa mình) tề gia (yên nhà) trị quốc (trị nước) và bình thiên-hạ (yên cả thiên-hạ). Cái học ấy thật rộng-rãi vậy.

    Đạo tồn-tại ngay ở trong sự vật. Sự vật nào cũng có đạo: đạo ấy xa thì đến tận trời khắp đất, gần thì ở luân thường và các vật thường dùng hằng ngày của người ta. Không chỗ nào mà không có cái lý ấy của nó.

    Đã có cái nghĩa ấy thì người quân-tử không thể không hiểu biết được.

    Học để gom tụ trí-thức, hỏi để phân biệt điều hiểu biết, ôn lại việc cũ mà biết việc mới, thuần thục đôn hậu để trọng

    1. Cách vật trí tri, nghiên-cứu đến nguyên-lý của sự vật mà suy đạt đến trí-thức cùng cực.

    lễ, tháng ngày chất chứa thì tự nhiên hiểu biết thông suốt thấu đáo.

    Suy cùng lý lẽ, thấu tận tính tình để đạt đến cái mệnh của Trời phú cho, thấu hiểu nghĩa lý đến mức thần-diệu để đem ra ứng-dụng, chẳng có gì mà không do đó mà ra cả.

    Kinh Dịch nói: “Người quân-tử ghi nhớ rất nhiều những lời nói, những nết tốt của người đời trước để súc dưỡng đức hạnh của mình”.

    Kinh Thư nói: “Người ta cầu được nghe biết nhiều để tùy thời đem ra kiến-tạo công việc”.

    Khổng-Tử nói: “Con trẻ sao không học [3a] Kinh Thi, ở gần thì thờ cha mẹ, ở xa thì thờ vua, lại biết được nhiều tên cỏ cây chim thú”.

    Đấy đều là công-phu cách trí.

    Nhưng nếu ta giữ được gọn, chọn được tinh thì dù sự vật cổ kim rối loạn ở trước mắt, tự nhiên ta cũng có thể châm chước được phần gốc và phần ngọn, dung hội được phần bắt đầu và phần chung kết, để ta càng nhận thấy rằng tuy khác đường mà cùng về một chỗ, tuy khác lối mà cùng đến một nơi, thì làm sao có việc chê cười rằng đã rộng mà ít tóm tắt, đã nhọc mà không thành công được?

    Tôi thường thử bàn luận về việc đó như sau:

    Mặt trời mặt trăng và tinh-tú và văn-vẻ của trời. Khí hậu