0014.01.11 Trang [122]-[133] (tamchec đã đánh máy xong)

14/8/15
0014.01.11 Trang [122]-[133] (tamchec đã đánh máy xong)

  • phải là một hiện tượng tiêu cực, có hại đến sự phát triển của một ngôn ngữ. Ta chống việc mượn từ bừa bãi, chống lạm dụng từ mượn chứ không phản đối mượn từ, không chống tất cả các từ mượn. Những từ mượn của tiếng Hán đã làm giàu cho tiếng ta và sẽ làm giàu cho tiếng ta hơn nữa, sẽ không trở ngại, mà trái lại còn góp phần thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của tiếng Việt hơn nữa, sẽ không mâu thuẫn với việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, nếu trong khi mượn từ và giải quyết vấn đề từ mượn ta nắm vững tiêu chuẩn lựa chọn nói trên.

    BÀN VỀ CÁCH DÙNG TỪ NGỮ “THUẦN VIỆT” THAY THẾ CHO TỪ NGỮ HÁN-VIỆT[1]

    HIỆN nay, hầu như mọi người đều nhất trí rằng dùng từ ngữ “thuần Việt”[2] để thay thế từ ngữ Hán-Việt là một việc cần thiết và có ý nghĩa tiến bộ. Tuy nhiên, khi đi sâu vào những trường hợp thay thế cụ thể, chúng ta vẫn còn lúng túng, vì chưa có được những tiêu chuẩn xử lý thích đáng. Đây chính là chỗ cần tiếp tục nghiên cứu.

    Để nêu ra được những tiêu chuẩn thay thế từ ngữ Hán-Việt một cách đúng đắn, chúng ta cần phải giải quyết hai vấn đề:

    - Vấn đề qui định biện pháp dùng từ ngữ “thuần Việt” để thay thế từ ngữ Hán-Việt;

    - Vấn đề xác định những điều kiện cụ thể cho phép thay thế một từ ngữ Hán-Việt bằng một từ ngữ “thuần Việt”.

    *

    * *

    Biện pháp lâu nay vẫn dùng để thay thế từ ngữ Hán-Việt là sáng tạo ra những từ ngữ “thuần Việt” có quan hệ đẳng nghĩa với những từ ngữ Hán-Việt tương ứng. Sự sáng tạo này có thể là kết quả của sự dịch nghĩa những từ ngữ Hán-Việt, mà cũng có thể là một sự “sáng tạo thật sự” của một bộ phận quần chúng Việt-nam trước khi biết đến những từ ngữ Hán-Việt tương ứng. Những từ ngữ như: vùng trời, hội chữ thập đỏ, v.v… có thể xem là những từ ngữ dịch nghĩa từ không phận, hội hồng thập tự; những những từ ngữ như người đánh cá, người hái củi, v.v…, thì rõ ràng là quần chúng “bình thường” có thể tự tạo ra, mà không cần biết đến những từ ngữ Hán-Việt (thường nhập vào bằng con đường văn chương bác học), như: ngư ông, ngư phủ, tiều phu, v.v… Thật ra, trong nhiều trường hợp, chúng ta rất khó xác định đâu là từ dịch nghĩa, và đâu không phải từ dịch nghĩa; ví dụ: đối với những từ ngữ như yêu nước, bán nước, xe lửa v.v…, cũng chưa ai đưa ra được chứng cớ nào để liệt chúng vào từ ngữ dịch nghĩa (dịch từ ái quốc, mãi quốc, hỏa xa), hay là vào từ ngữ “tự tạo”. Tuy nhiên, điều này không quan trọng. Bởi vì, vấn đề có tính chất “từ nguyên học” này hầu như không cản trở gì đến việc nghiên cứu của chúng ta ở đây cả.

    Dù là từ ngữ “tự tạo” hay là từ ngữ dịch nghĩa, tất cả những từ ngữ có khả năng thay thế từ ngữ Hán-Việt đều phải có quan hệ đẳng nghĩa với những từ ngữ Hán-Việt tương ứng. Nghĩa là:

    vùng trời = không phận,

    hội chữ thập đỏ = hội hồng thập tự,

    xe lửa = hỏa xa,

    tàu ngầm = tiềm thủy đỉnh,

    người lái máy bay = phi công,

    cửa mở = đột phá khẩu, v.v…

    Trong những trường hợp này, chúng ta thấy giữa các yếu tố của từ ngữ “thuần Việt” và các yếu tố của từ ngữ Hán-Việt có sự tương đương về ngữ nghĩa, ví dụ: xe – xa, lửa – hỏa, tàu – đĩnh, ngầm – tiềm thủy v.v… Sự tương đương này có thể là một sự tương đương tuyệt đối, tức là yếu tố thuần Việt và yếu tố Hán-Việt hoàn toàn đẳng nghĩa với nhau như: xe – xa, lửa – hỏa, yêu – ái, nước – quốc, v.v…, mà cũng có thể là một sự tương đương tương đối tức là yếu tố “thuần Việt” và yếu tố Hán-Việt chỉ “gần nghĩa” với nhau chứ không hoàn toàn đẳng nghĩa, chẳng hạn: vùng (phận), trời (không), máy bay (phi), người lái (công), ngầm (tiềm thủy) v.v…

    Xét về mặt các yếu tố cấu tạo, thì sự tương đương về ngữ nghĩa nói trên có thể có hình thức đối xứng hoặc không đối xứng. Trong những cặp từ ngữ như: máy bay – phi cơ, sân bay – phi trường, cấp trên – thượng cấp, yêu nước – ái quốc, giàu mạnh – phú cường, bó tay – thúc thủ, v.v… quan hệ giữa các yếu tố tạo thành những từ ngữ ấy mang hình thức đối xứng:

    Hình 1 (Gói 11, Trang 125)

    Trái lại, trong những cặp từ ngữ như: tàu ngầm – tiềm thủy đĩnh, người lái máy bay – phi công, cửa mở – đột phá khẩu v.v… quan hệ giữa các yếu tố tạo thành những từ ngữ ấy mang hình thức không đối xứng:

    Hình 2 (Gói 11, Trang 126)

    Tuy nhiên, dù là sự tương đương tuyệt đối hay là sự tương đương tương đối, dù là mang hình thức đối xứng hay không đối xứng, nói chung, sự tương đương về ngữ nghĩa giữa những yếu tố “thuần Việt” và những yếu tố Hán-Việt chính là một điều kiện thuận lợi, hơn nữa, là điều kiện cần thiết để sáng tạo ra những từ ngữ “thuần Việt” có quan hệ đẳng nghĩa với những từ ngữ Hán-Việt tương ứng. Do đó, ở những từ gốc hoặc những yếu tố “thuần Việt làm đơn vị biểu thị, thì ở đó, nói chung, ít cần dùng từ ngữ Hán-Việt, mà nếu đã dùng thì thường cũng có thể thay thế bằng từ ngữ “thuần Việt” tương đương. Ví dụ, vì tiếng Việt có nhiều từ gốc chỉ những hiện tượng tự nhiên (như: cây, chim, sông, núi, v.v…), chỉ quan hệ thân thuộc (như: dao, tên, xe, thước, v.v…), và chỉ những hoạt động cụ thể tai nghe mắt thấy được (như: chạy, thở, bay, xem, v.v…), nên những từ ngữ Hán-Việt thuộc những phạm trù khái niệm này, nói chung, đều có thể được thay thế bằng những từ ngữ “thuần Việt” tương ứng, như: thảo mộc – cây cỏ, giang sơn – non sông, huynh đệ - anh em, phụ mẫu – cha mẹ, tiêm đao – dao nhọn, hỏa tiễn – tên lửa v.v… Có thể nói rằng muốn thay thế từ ngữ Hán-Việt bằng từ ngữ “thuần Việt” thì thường thường phải thay thế các yếu tố cấu tạo của từ ngữ Hán-Việt bằng những yếu tố “thuần Việt” tương đương. (Dĩ nhiên, ở đây không nói đến việc dùng một loại từ ngữ ngoại lai nào đó thay thế cho từ ngữ Hán-Việt, chẳng hạn: a-xit thay cho cường toan, ốc-xi thay cho dưỡng khí, v.v…, bởi vì, vấn đề chúng ta đang bàn là vấn đề thay thế từ ngữ Hán-Việt bằng từ ngữ “thuần Việt” chứ không phải bằng bất cứ một loại từ ngữ nào khác).

    Chính vì điều có tính chất qui luật nói trên, nên trong đa số các trường hợp chúng ta sẽ không thể sáng tạo được một từ ngữ “thuần Việt” có quan hệ đẳng nghĩa với một từ ngữ Hán-Việt, nếu mỗi yếu tố cấu tạo của từ ngữ Hán-Việt không có một yếu tố “thuần Việt” tương đương. Ví dụ: kinh tế, chính trị không thể có từ ngữ thuần Việt tương ứng, vì tiếng Việt vốn thiếu những yếu tố “thuần Việt” tương đương với kinh tế, chính trị, v.v… Trong tiếng Việt, những từ ngữ Hán-Việt loại này thường là những từ ngữ chỉ những hiện tượng thuộc về tâm lí, tinh thần (như: cảm giác, tri giác, nhận thức, biểu tượng, v.v…), và thuộc về khoa học, nhất là khoa học hiện đại (như: nguyên tử, phân tử, kinh tế chính trị học, giai cấp, qui luật, v.v…). Có thể nói, việc thiếu những từ gốc hay những yếu tố “thuần Việt” làm đơn vị biểu thị đối với những phạm trù khái niệm nhất định là một nguyên nhân bên trong khiến tiếng Việt phải dùng một số từ ngữ Hán-Việt.

    Tuy nhiên, khi nói sự có mặt của những yếu tố “thuần Việt” tương đương với những yếu tố Hán-Việt là điều kiện cần thiết để sáng tạo những từ ngữ “thuần Việt” có quan hệ đẳng nghĩa với những từ ngữ Hán-Việt tương ứng, thì không nên hiểu rằng điều kiện đó đã là đầy đủ. Trong thực tế, không thể nghĩ một cách giản đơn rằng, chẳng hạn, sở dĩ vùng trời tương đương với không phận là vì có vùng tương đương với phận trời tương đương với không. Bởi vì, nếu thế thì không thể giải thích được tại sai một mình có thể tương đương với độc, đứng có thể tương đương với lập, nhưng đứng một mình lại không đẳng nghĩa với độc lập;hoặc hết sức có thể tương đương với tối trong tối quan trọng, tối vô li, v.v… (tối quan trọng – hết sức quan trọng, v.v…) và mới có thể tương đương với tân trong tân kì (mới lạ) nhưng hết sức mới lại không đẳng nghĩa với tối tân. Ở đây, chính là có chỗ khác nhau giữa yếu tố và chỉnh thể. Ý nghĩa của một từ ngữ là ý nghĩa của một chỉnh thể, do vị trí của từ ngữ ấy trong toàn bộ hệ thống từ ngữ quyết định, chứ không phải đơn thuần là con số cộng những ý nghĩa của các yếu tố cấu tạo ra nó. Sở dĩ vùng trời đẳng nghĩa với không phận, là vì nó được dùng hoàn toàn với ý nghĩa của không phận, chứ không phải vì vùng tương đương với phậntrời tương đương với không. Cũng như vậy, sở dĩ đứng một mìnhđộc lập, hết sức với tối tân không có quan hệ đẳng nghĩa với nhau, chính là vì trong hệ thống từ ngữ tiếng Việt, chúng đã được dùng với những ý nghĩa khác hẳn nhau. Do đó, điều cần lưu ý là trong nhiều trường hợp, không thể dùng lối dịch nghĩa máy móc để thay thế từ ngữ Hán-Việt.

    Nhiều lúc, từ ngữ Hán-Việt không được thay thế toàn bộ bằng từ ngữ “thuần Việt”, mà chỉ được thay thế có một phần, nghĩa là chỉ một yếu tố của nó được một yếu tố thuần Việt thay thế mà thôi. Ví dụ: không thay cho phi (không vô sản – phi vô sản), nửa thay cho bán (nửa vũ trang – bán vũ trang), thay cho phạm (tù chính trị - chính trị phạm), giấy thay cho thư (giấy chứng minh – chứng minh thư), v.v… Song, cách thay thế này bị nhiều điều kiện hạn chế. Trước hết, bộ phận không được thay thế trong từ ngữ Hán-Việt phải là yếu tố, có khả năng vận dụng tự do trong tiếng Việt, như: vô sản (trong phi vô sản), vũ trang (trong bán vũ trang), chính trị (trong chính trị phạm), chứng minh (trong chứng minh thư), v.v… Thứ nữa, yếu tố “thuần Việt” dùng để thay thế cũng không phải là yếu tố có thể sử dụng hiệu nghiệm trong mọi trường hợp, chẳng hạn: nửa có thể thay thế cho bán trong bán vũ trang, bán tự động v.v…, nhưng không thể thay thế cho bán trong bán dẫn v.v…; chống có thể thay thế phản trong phản nhân dân, phản dân tộc nhưng không thể thay phản trong phản lịch sử, phản tiến hóa v.v…

    Tóm lại, bằng biện pháp sáng tạo, những từ ngữ có quan hệ đẳng nghĩa với từ ngữ Hán-Việt, chúng ta đã tạo ra được tiền đề, hay nói một cách khác, điều kiện cơ bản để thực hiện việc thay thế từ ngữ Hán-Việt.

    *

    * *

    Nhưng, thế nào là quan hệ đẳng nghĩa? Từ ngữ “thuần Việt” nói chung có khả năng “đẳng nghĩa” với từ ngữ Hán-Việt không? Và trong những điều kiện cụ thể nào thì có thể thay thế từ ngữ Hán-Việt bằng từ ngữ “thuần Việt”? Đây chính là những vấn đề cần đi sâu phân tích hơn nữa.

    Khi nói một từ ngữ “thuần Việt” và một từ ngữ Hán-Việt có quan hệ đẳng nghĩa với nhau tức là thừa nhận rằng:

    - Chúng phải tương đương với nhau về khái niệm.

    - Đồng thời, phải tương đương cả về phong cách và màu sắc biểu cảm[3].

    Khi có đầy đủ những điều kiện này, từ ngữ “thuần Việt” hoàn toàn có khả năng thay thế từ ngữ Hán-Việt.

    Nhưng thường có một số người còn băn khoăn về cái khả năng thay thế ấy trong thực tế. Những băn khoăn này có thể qui vào ba điểm: 1. Liệu từ ngữ “thuần Việt” có đủ tính chất khái quát và trừu tượng như từ ngữ Hán-Việt không? 2. Từ ngữ “thuần Việt” có được những màu sắc tù từ, đặc biệt là màu sắc trang trọng của từ ngữ Hán-Việt không? 3. Dùng từ ngữ “thuần Việt” thay thế từ ngữ Hán-Việt liệu có ảnh hưởng đến tính hệ thống tính hoàn chỉnh trong tiếng Việt hay không? Những điều băn khoăn đó thực ra không phải là thừa, vì nó dựa trên một cơ sở thực tế nhất định.

    Đúng là một số không ít từ ngữ Hán-Việt mang tính chất khái quát và trừu tượng về ý nghĩa nhiều hơn những từ ngữ “thuần Việt” nào đó. Không ai phủ nhận rằng: thiệt hại, thiệt thòi, mất mát có phần ít trừu tượng và ít khái quát hơn tổn thất; tiền của, tiền bạc, của cải cũng ít trừu tượng và ít khái quát hơn tài sản, v.v… Nhưng như thế không có nghĩa là không có những trường hợp từ ngữ Hán-Việt cũng chẳng khái quát và trừu tượng hơn từ ngữ “thuần Việt” nữa, ví dụ: hắc ám, vũ khúc, khuếch đại, thượng cấp, xạ thủ, v.v… thì có gì trừu tượng hơn đen tối, điệu múa, mở rộng, cấp trên, tay súng, v.v… đâu? Hơn nữa, song song với xu hướng “song âm tiết hóa” đang phát triển, và nhất là với cách cấu tạo từ theo quan hệ liên hợp được áp dụng rộng rãi, khả năng khái quát và trừu tượng hóa của bản thân từ ngữ “thuần Việt” cũng được nâng cao rõ rệt, chẳng hạn: xa xôi, nóng nảy, chim chóc, đất đai, làm lụng, v.v…, rõ ràng là trừu tượng hơn xa, nóng, chim, đất, làm, v.v…; và nhà cửa, quần áo, ăn uống, xem xét, v.v… thì lại càng trừu tượng hơn nhà hay cửa, quần hay áo, ăn hay uống, xem hay xét, v.v… Chính vì thế mà có nhiều trường hợp, những từ “thuần Việt” một trăm phần trăm lại hoàn toàn có khả năng thay thế cho những từ Hán-Việt vốn có tính trừu tượng khá cao. Ví dụ: kêu gọi thay cho hiệu triệu. Xét mọi khía cạnh, trên thực tế, tính trừu tượng của kêu gọi không kém gì hiệu triệu. Hơn nữa, trong một số trường hợp, từ “thuần Việt” còn tỏ ra khái quát hơn từ Hán-Việt: ví dụ: xây dựng so với kiến thiết. Xây dựng có ý nghĩa chung hơn và khái quát hơn kiến thiết, vì có thể nói xây dựng thái độ, xây dựng ý kiến, xây dựng Đảng, xây dựng phong trào, xây dựng gia đình, xây dựng tình đồng chí, v.v…, mà không thể dùng kiến thiết để thay thế; trái lại, xây dựng hoàn toàn có thể thay thế kiến thiết trong các trường hợp khác, như: kiến thiết đất nước, kiến thiết thành phố, kiến thiết nhà máy, kiến thiết chủ nghĩa xã hội, v.v…

    Bởi vậy, không nên lo rằng từ “thuần Việt” lúc nào cũng kém trừu tượng, kém khái quát hơn từ ngữ Hán-Việt. Rõ ràng là không nên vin vào tính kém trừu tượng và khái quát của từ ngữ “thuần Việt” một cách chung chung để nghi ngờ khả năng thay thế của từ ngữ “thuần Việt” đối với từ ngữ Hán-Việt.

    Một điểm nữa cần bàn đến là màu sắc tu từ của từ ngữ Hán-Việt và từ ngữ “thuần Việt”. Không ai phủ nhận tác dụng tu từ của từ ngữ Hán-Việt cả, ví dụ: từ phu nhân có màu sắc trang trọng hơn là từ vợ, thổ huyết có màu sắc thanh nhã hơn là hộc máu, khẩu phật tâm xà có màu sắc bác học hơn là bụng nam mô một bồ dao găm, nguyệt, lệ có màu sắc cổ hơn là trăng, nước mắt, v.v… Tuy nhiên, thừa nhận điều này không có nghĩa là gạt bỏ khả năng thay thế của từ ngữ “thuần Việt” đối với từ ngữ Hán-Việt.

    Đặc biệt là chúng ta không nên quá nhấn mạnh đến màu sắc trang trọng của từ ngữ Hán-Việt. Không phải bất cứ lúc nào từ ngữ Hán-Việt cũng có khả năng biểu thị màu sắc trang trọng hơn từ ngữ “thuần Việt”. Nếu thế thì không thể giải thích được, chẳng hạn, tại sao từ kêu gọi lại đang thay thế từ hiệu triệu trong tất cả những trường hợp trang trọng nhất, như trong văn kiện chính thức của Đảng, của Nhà nước, v.v… Và gần đây từ sinh nhật lại được thay thế bằng từ ngày sinh. Bởi vì, màu sắc trang trọng không phải là thuộc tính riêng biệt của từ ngữ Hán-Việt và cũng không phải là thuộc tính cố hữu của nó. Có cả những từ ngữ Hán-Việt rất thông tục, ví dụ: đáo để, tiên nhân, tiên sư, v.v… (dùng trong khẩu ngữ).

    Cuối cùng, nói đến phạm vi tác dụng của tính chặt chẽ và tính hệ thống của từ ngữ Hán-Việt[4]. Một số người cho rằng, từ ngữ Hán-Việt có tính chặt chẽ, bởi vì nó không dễ bị tách riêng ra từng bộ phận, nhưng nếu thay bằng từ ngữ “thuần Việt” thì một tính chặt chẽ như thế sẽ không còn nữa. Đúng, trong nhiều trường hợp đúng là như vậy, chẳng hạn: bất hợp lý kết cấu chặt chẽ hơn không hợp lý. Và nhờ kết cấu chặt chẽ của nó mà câu văn hay lời nói không bị hiểu lầm. Nói “con số bất hợp lí” thì ai cũng chỉ hiểu có một cách, còn nói “con số không hợp lí” thì người ta có thể hiểu thành hai cách: “con số | không hợp lí” “con số không | hợp lí”. Tuy đó chỉ là trường hợp hãn hữu, những cũng không nên vì thế mà hoàn toàn không đếm xỉa đến kết cấu chặt chẽ của từ ngữ Hán-Việt. Bởi vì, từ đây, chúng ta có thể nhìn thấy một số trường hợp khác nữa, chẳng hạn: phi vô sản, hàng không mẫu hạm, đại lộ… trong một số ngữ cảnh tỏ ra chặt chẽ hơn là không vô sản, tàu chở máy bay, đường lớn, v.v…

    Tuy nhiên, đó không thể là lí do để chúng ta gạt bỏ khả năng thay thế của từ ngữ “thuần Việt” đối với từ ngữ Hán-Việt. Trong rất nhiều trường hợp, rất nhiều ngữ cảnh, việc thay thế này không trở ngại gì đến chức năng giao tiếp của ngôn ngữ cả (nhất là đến tính chính xác của nó). Thế thì trong những trường hợp và ngữ cảnh ấy, tại sao lại không thể thay thế từ ngữ Hán-Việt được? Hơn nữa, khi nói từ Hán-Việt có tính chặt chẽ, thì không phải để chứng minh rằng từ ngữ “thuần Việt” hoàn toàn không có tính chặt chẽ gì cả. Trái lại, tính không chặt chẽ của từ ngữ “thuần Việt” chỉ là cá biệt, còn tính chặt chẽ của nó mới là phổ biến. Bởi vì, trước hàng loạt từ ngữ thuần Việt, như: máy bay, sân bay, non sông, coi trọng v.v… (tương ứng với phi cơ, phi trường, giang sơn, trọng thị v.v…), không ai có thể phủ nhận tính chặt chẽ về cấu trúc của chúng cả. Rõ ràng chúng là những chỉnh thể, không thể tùy tiện phá vỡ được: máy bay không phải là máy + bay, non sông không phải là non + sông, v.v…

    Một số người cũng cho rằng từ ngữ Hán-Việt thường có tính hệ thống; cụ thể là: nhiều từ Hán-Việt có


    [1]Theo cách hiểu thông thường, từ ngữ Hán-Việt là những từ ngữ gốc Hán, đọc theo âm Hán-Việt. Nhưng khi bàn về cách thay thế từ ngữ Hán-Việt, thì nói chung, người ta chỉ nhằm vào những từ ngữ Hán-Việt hai âm tiết hoặc trên hai âm tiết, bởi vì trong thực tế, hầu như tất cả những từ Hán-Việt một âm tiết (ví dụ: cung, đồng, áo, vụ, ty, bộ, v.v…) đều đã được “Việt hóa” hoàn toàn, và do đó không phải là đối tượng thay thế. Vì vậy, trong bài này, chúng tôi sẽ chỉ nói đến sự thay thế đối với những từ Hán-Việt có từ hai âm tiết trở lên mà thôi.

    [2]Ở đây chúng tôi tạm liệt vào từ ngữ “thuần Việt” tất cả những từ ngữ trong tiếng Việt không phải là từ ngữ Hán-Việt mà cũng không phải là từ ngữ mượn của tiếng các dân tộc khác, ví dụ: nhà, cửa, dao, tên, v.v… Trong số này có cả những từ có mối quan hệ về nguồn gốc với từ Hán như: dao (đao), tên (tiễn), nhưng dù sao, chúng vẫn có thể được xem là từ “thuần Việt” vì tính chất Việt hóa triệt để của chúng.

    [3]Xem: Nguyễn Văn Thạc, Mấy nhận xét về cách mượn từ tiếng Hán, tạp chí “Nghiên cứu văn học”, số 5 – 1963; Hoàng Văn Hành, Tìm hiểu những ý kiến của Hồ Chủ tịch về việc mượn và dùng từ gốc Hán, tạp chí “Văn học”, số 3 – 1966.

    [4]Xem thêm: Hoàng Tuệ, Mấy điều suy nghĩ trong sự liên hệ với Việt ngữ, tạp chí “Nghiên cứu văn học”, số 6 – 1961; Đào Thân, Mấy vấn đề về ngôn ngữ hiện nay, tạp chí “Nghiên cứu văn học”, số 5, 1962.
teacher.anh and tducchau like this.