11.18 - linling (type done)

5/10/15
11.18 - linling (type done)


  • VÂN-ĐÀI LOẠI-NGỮ QUYỂN 3

    Hoài-bắc), việc biên hấn [10a] thường gây nạn xung-đột binh đao.

    Đến đời nhà Kim sang nhà Nguyên mỗi năm đều có việc cướp phá rối loạn.

    Sau cuộc loạn của Lý-Toàn đất nước chỉ còn là điêu-tàn. So với những châu khác, châu ấy bị cướp phá rất nguy-kịch hàng mấy trăm năm.

    Cuối cùng người thống-nhất thiên-hạ là vua Thái-tổ nhà Minh. Minh Thái-tổ là người ở Hào-châu.

    Nghĩ lại những nơi khởi bạo loạn bị binh đao tàn phá lại là đất cơ-sở của bậc đế-vương hưng khởi. Việc đó há là thường tình có thể suy dò được sao?

    Trời đất là cùng một khí. Xưa nay là cùng một cơ. Đầy, vơi, tiêu, trưởng cố nhiên đã tự có lúc. Trị, loạn, thịnh, suy hẳn là vận số. Nhưng trước phải thu hợp lại rồi sau mới trương ra, trước phải đóng lại rồi sau mới mở ra, mới thấy lẽ huyền-diệu tự nhiên của Tạo-hóa.

    Trong sách Bách xuyên học hải1, Văn-Tôn-Bá nói: <<Phàm mạch đất ở nơi đô hội đều có âm dương.

    1. Bách xuyên học hải, tên sách gồm có 10 tập, 100 loại do Tả-Khuê đời Tống biên soạn.

    Cửa và sân lộ ra ánh sáng là dương. Trong nhà và nơi buồng ẩn trong tối là âm.

    Thất khiếu1 bày ra trên mặt là dương. Ngũ-tạng2 [10b] kết ở trong lòng là âm.

    Đất Quan-trung thì lấy phía bắc núi Thái-họa, núi Chung-nam làm dương, lấy sống Vị làm bến mà kinh-đô Trường-an ở ngay đấy, lấy khoảng đất Phong đất Hạo đất Bân đất Kỳ làm cửa làm sân, lấy phía nam núi Thái-họa núi Chung-nam làm âm, lấy sông Hán làm bến mà đất Hán-nam ở ngay đấy, là chỗ buồng kín trong nhà vậy.

    Cho nên mở cửa Hàm-cốc cho giao-thông tám trấn để mưu-đồ nghiệp đế-vương.

    Còn đi vào đất Thục tất phải qua vùng Hán-trung. Đi sang nước Sở phải qua đất Thương-châu. Đó là phân biệt chỗ bằng-phẳng, chỗ hiểm trở.

    Trung-châu thì lấy phía bắc núi Tung-cao làm dương, lấy sông Hoàng-hà, sông Lạc-thủy làm bến. Từ sống Lạc đến


    1. Thất khiếu, bảy lỗ bày trên mặt: 2 mắt, 2 mũi, 2 tai và 1 miệng.

    2. Ngũ-tạng, năm tạng: tâm (tim), can (gan), tỳ (lá lách), phế (phổ), thận (cật).

    Biện, bên mặt vượt qua Hà-bắc. Đấy đều là cửa và sân của vùng Trung-châu.

    Phía nam núi Tung-cao là âm, lấy sông Nhữ sông Dĩnh làm bến. Từ núi Cơ-sơn đến Nhữ-âm, chỗ khoảng Dĩnh-xuyên là nơi buồng kín trong nhà của vùng Trung-châu.

    Cho nên kẻ tranh chiến đánh giặc thì tất phải lấy đất Ngao-thương, người ẩn dật tất phải lấy vùng Cơ-dĩnh.

    Chỗ đô-hội là ở [11a] Lạc-dương, mà những ngôi biệt-thự thường thường là Lục-hồn.

    Tỉnh Sơn-đông thì lấy phía nam núi Thái-sơn làm dương, lấy sông Vấn sông Tứ làm bến, lấy đất Trâu đất Lỗ làm cửa làm sân, lấy phía bắc núi Thái-sơn làm âm, lấy sông Tế sông Tháp làm bến.

    Sông Tế chảy đến Đại Đông-hải đến huyện Tề-đông.

    Khoảng châu Đăng châu Lai ba mặt bị biển ngăn trở, đó là chỗ buồng kín trong nhà vậy.

    Cho nên nước Lỗ chuộng lễ nghĩa là vì được núi Thái-sơn ôm lấy mà được khí trung-hòa.

    Nước Tề chuộng công lợi là vì bị núi Thái-sơn quay lưng về mà được cái khí trái nghịch. Đó là nói phân biệt việc hướng mặt và quay lưng.

    Cho nên đất Trâu đất Lỗ là quê-hương của bậc thánh-hiền. Châu Đăng châu Lai là hang của bậc thần-tiên. Đó là nói phân biệt chỗ tối chỗ sáng.

    Tỉnh Sơn-đông, phía nam là dương, phía bắc là âm là vì núi Đại-sơn quay mặt về hướng nam.

    Vùng Quan-trung, phía bắc là dương, phía nam là âm, như trái ngược lại bởi vì núi Họa-sơn quay mặt về hướng bắc.

    Vùng Trung-châu thì lấy phía hướng về Thái-thất1 làm dương, lấy phía hướng về Thiếu-thất2 làm âm là vì theo ý nghĩa của chữ [11b] <<Trung thổ>>.

    Thuyết này suy-nghiệm rõ-ràng thì lý và khí rất là tinh-vi thâm-thúy.

    Đất Kiến-khang từ thời Lục-triều3 là chốn kinh-đô của bậc đế-vương. Nhưng những đế-vương ấy đều chỉ làm bá chủ ở một khu-vực mà thôi không ứng với vượng4 khí của núi sông.

    Đến vua Thái-tở nhà Minh mới đủ để đương vượng khí ấy.

    1, 2. Thái-thấtThiếu-thất là tên hai ngọn núi ở dãy Tung-cao.

    3. Lục-triều, 6 triều vua là Ngô, Đông-Tấn, Tống, Tề, Lương, Trần đến đóng đô ở Kiến-khang. Kiến-khang nay là Nam-kinh.

    4. Ở chữ này, khi dịch tới phần sau nhận thấy là chữ vượng mới đúng.

    Nhưng nhà Minh chỉ định đóng đô được mới 40 năm thì vua Văn-hoàng bỏ không ở đấy dời đô về Bắc-bình, chẳng khác gì thời Lục-triều.

    Kiến-khang1 là kiểu đất đại hồi cục. Mạch đất khởi từ núi Manh-sơn chạy qua Vân-nam, vượt Quế-lãnh, qua núi Đại-dũ, đến Huy-châu để xuống Mạt-lăng, quanh-co thênh-thang, ở giữa thì gồ lên cao mà xuống dưới thì hạ thấp làm đường bằng-phẳng.

    Phía tây là những núi Kê-lung, Phúc-chu. Lại về phía tây nữa là Thạch-đầu thành mà núi Chung-sơn đứng sừng-sững ở phía đông. Có sông to quanh-co bao bọc: sông Tần, sông Hoài và hồ Huyền-vũ liên tiếp ở phía tả phía hữu, bởi vì sông to thì chảy về phía đông. Từ Vũ-xương trở xuống dòng sông lần lần hướng về phía bắc, chảy đến Mạt-lăng [12a] thì dòng sông càng chảy về phía bắc.

    Kiến-khang là nơi đô-hội ở hạ-lưu, trông sang Tầm-dương và Vũ-xương đều thẳng về hướng nam, trông sang Bá-dương và Thọ-xuân đều thẳng về hướng tây, cho nên gọi Thái-thạch là Nam-châu, gọi Kinh-khẩu là Bắc-phủ.

    Ở Kiến-khang người ta gọi Bá-dương và Thọ-xuân là Giang-tây. Ở Giang-tây người gọi Kiến-khang là Giang-đông.

    1. Kiến-khang tức nay là Nam-kinh.

    Sách Tống Nguyên thông giám chép: Trần-Lượng dâng thư lên vua Hiếu-tông nhà Tống nói ràng: Kiến-khang ngày nay không như Kiến-khang ngày xưa. Tôi thường lên núi Thạch-đầu và Chung-phụ trông về thành ngày nay, ngay vào bên cạnh Sa-tủy (mỏ cát) có một dãy gò lờ-mờ kéo xuống.

    Nay hành-cung1 chiếm cứ chỗ đất bằng để trông vào thành. Phía trước thành thì sát núi, núi ấy cao vút hiểm-trở. Đó là do họ Lý ở Giang-nam đã làm chẳng có [12b] ý dùng cái thế ở trên cao ăn xuống thấp để đón lấy vượng-khí.

    Tôi thường hỏi nhà sư ở núi Chung-phụ, các nhà sư ấy cũng nói đài-thành ở một bên núi Chung-phụ, cửa Tư-mã ở đúng vào một bên doanh mới của quân mã.

    Đất ấy chiếm lấy chỗ trên cao ăn xuống thấp, ở phía đông bọc lấy núi Bình-cương để làm thế vững chắc, ở phía tây dựa vào thành Thạch-đầu để làm thế trọng yếu và mang cái hồ Huyền-vũ để làm thế hiểm-trở, ôm lấy sông Tần, sông Hoài, sông Thanh-khê để làm thế chận ngăn.

    Cho nên vượng-khí mình có thể đón lấy được mà có thể vận-động như ý mình.

    Đến nay thành là sức xây đắp của Hạ-hầu-Cảnh trong mấy ngày thì xong.

    1. Hành-cung, chỗ vua dừng nghỉ khi xuất-hành.

    Tào-Bân lên trên Trường-can Ngột-thuật vàVũ-hoa-đài, cúi xuống mà trông thành-thị nhận thấy rằng dẫu một con chim bay qua cũng không thoát khỏi được.

    Hễ chiếm-cứ được đất ấy mà sai tướng ra quân, nếu không đón lấy vượng-khí mà làm thì làm sao biết được rằng ngày sau dẫu có lấy được rồi thì cũng mất vậy chăng?>>

    Vua Hiến-tông nhà Tống không [13a] nghe theo lời của Lượng.

    Về sau vua Thái-tổ nhà Minh đến Kim-lăng, quả nhiên nghe lời Lưu-Bá-Ôn xây dựng thành mới đúng như kế-hoạch của Lượng. Minh Thái-tổ bèn lấy được thiên-hạ.

    Kinh Dịch chép: Cùng cực rồi thì biến. Biến thì thông. Vận trời có lúc bĩ lúc thái bất thường. Khí dất có khi suy khi vượng bất thường. Việc người có lúc phế lúc hưng bất thường. Ba điều ấy chưa từng không quan-hệ lẫn nhau.

    Nhà Chu từ vua Bình-vương đóng đô ở Lạc-ấp trải qua hơn 500 năm thì tinh hoa đã cùng kiệt.

    Nhà Tần từ vua Mục-công trở về trước không được liệt vào hàng các nước ở Trung-quốc. Khí đất thu tàng đã lâu thì bộc phát lên. Cho nên đến đồi vua Hiếu-công về sau thì nhà Tần chế-thắng được chư-hầu mà lấy được thiên-hạ, tuy chỉ truyền được hai đời, nhưng mà khí đất đương lúc hưng vượng tự nhiên đưa về cho bậc minh chúa.

    Cho nên vua Cao-tổ nhà Hán cuối cùng đã đóng đô ở đấy.

    Tây-kinh nhà Hàn trải qua hơn 200 năm khí-hậu lần lần [13b] suy tàn. Lạc-ấp lại hưng vượng lên đã bắt đầu từ ngày Vương-Mãng xây dựng. Cho nên vua Quang-Vũ đóng đô ở đấy.

    Trong thời Tam-quốc1 và thời Lục-triều2 bờ cõi phân chia.

    Giang-đông là kinh-đô của thiên-tử, cờ vàng, lọng tía, cọp ngồi, rồng cuốn, khí lành của trời đất đã tự hợp ở đấy hơn 300 năm.

    Nghiệp-thành, Đại-quận, Tấn-dương, Thành-đô đúng với phân-dã của tinh-tú trên trời cũng có khí tượng làm bá-chủ ở một phương.

    Đương lúc thừa thời-cơ tranh đua nhau ấy tuy muốn thống-nhất toàn cõi Trung-quốc cũng không thể được.

    Nhà Nguyên-Ngụy3 đóng đô ở đất Lạc4 hơn 50 năm phồn-thịnh nhất.

    1. Tam-quốc, ba nước là Ngụy, Ngô và Thục.

    2. Lục-triều, sáu nước là Ngô, Đông-Tấn, Tống, Tề, Lương, Trần.

    3. Nguyên-Ngụy là Hiếu-Văn-đế nhà Bắc-Ngụy, đổi ra họ Nguyên, cho nên nhà Bắc-Ngụy cũng gọi là Nguyên-Ngụy.

    4. Lạc tức là Lạc-ấp, Lạc-dương nằm ở phía bắc (dương) sông Lạc-thủy.

    Còn miền Quan-trung từ niên-hiệu Canh-thủy1 trở về sau thì tàn-tệ càng quá lắm. Trung-gian đến đời Phù-Kiên, Diêu-Hưng thì miền Quan-trung lại thụt xuống làm hạ-ấp.

    Hễ suy tàn cùng kiệt tột mực thì sẽ bắt đầu thay đổi mới trở lại, cho nên Vũ-Văn-Chu dùng đất ấy mà gồm thâu Cao-Tề.

    Nhà Tùy nối theo mà thống-nhất thiên-hạ.

    Vua Cao-tồ nhà Đường lại đóng đô ở đấy truyền phúc-tộ đến 300 năm, được trung-hưng đến hai [14a] ba lần.

    Chu-Phác nói: <<Ở Trường-an nhà cửa, xe ngựa, sĩ dân, phong-tục đều có tiếng là xa-hoa. Vạn vật hễ thịnh rồi thì suy khó có thể chấn-hưng lại được>>.

    Cho nên từ nhà Đường trở về sau vì đường vận-tải khó-khăn mà không có ai nói đến việc đóng đô nữa.

    Rồi Biện-kinh bắt đầu hưng phát lên.

    Lúc bắt đầu dựng nước, nhà Chu-Lương2 bỗng nhiên đã có cái thế đại-cường nhưng chưa đủ khả-năng để ứng với vượng-khí ấy, nên mấy triều tranh nhau mãi không dứt.

    1. Canh-thủy, niên-hiệu của Hán Hoài-dương vương (23 sau Thiên-Chúa).

    2. Chu-Lương, nước Lương đời Ngũ-đại do họ Chu sáng-lập cho nên gọi là Chu-Lương.

    Đến đời vui Thái-tổ nhà Tống có thời vận thống-nhất, mọi việc đều tiện lợi, nhưng quá trọng việc đổi dời không thể bỏ ở đấy mà dời đi chỗ nọ.

    Về sau hơn 200 năm vượng-khí bắt đầu dứt, sao trên trời không chiếu, mạch dưới đất lại hết, cuối cùng phải đến thảm cảnh ở Bắc-viên.

    Do đó Yên-kinh và Tiền-đường chia nhau làm vua ở Nam và Bắc.

    Nước Tiền-đường từ khi họ Tiền lập quốc được 100 năm tụ-tập sinh sống phồn-thịnh giàu có, đến cuối đời phải nộp đất cho nhà Tống cũng được bảo-toàn (không bị giết).

    Nhà Tống dời xuống phía Nam, nơi văn vật [14b] chung tụ, du-ngoại phiền hoa, thì Trần-Lượng bảo rằng: <<Vượng-khí của núi sông đã phát tiết ra hết không còn nữa cho nên không thể khôi phục được cơ-nghiệp cũ>>.

    Cho nên vừa được 100 năm thì bị tiêu-diệt.

    Yên-kinh nhập vào nước Liêu vốn là đất ở biên-thùy. Hải-lăng vương nhà Kim bắt đầu dựng đô ở đấy, về phía nam thì chế-ngự được cõi Trung-châu, hình-thế hùng-vĩ. Nói về bói quẻ tìm đất đóng đô tất phải kể đất này trước nhất.

    Cho nên nhà Nguyên nhà Minh nối nhau đóng đô ở đấy, tức nay triều nhà Thanh cũng đóng đô ở đấy nữa. Những triều