11.19 - HueChi (type done)

5/10/15
11.19 - HueChi (type done)
  • ấy đều cho là cơ-sở đã thành, đường vận-tải đã thông-thương tiện-lợi, đến ngàn năm cũng chưa suy kém được.

    Khi khai sáng một triều-đại trước hết phải có sự cảm-ứng của khí đất, để người ta nhân đó mà hoạt-động. Điều đó có thể nghiệm xét được.

    Vua Văn-tông nhà Nguyên vì cho rằng rồng ẩn ở Kim-lăng mới đổi tên Kiến-nghiệp ra Tập-khánh lộ, Trị-đình ra Phi-long đình, Huyền-diên quán ra Vĩnh-thọ cung, đặt cái sạp ngự ở trong đình ấy, làm riêng một cái đình khác ở dưới để đón lấy cái [15a] tú khí ở núi Chung-sơn gọi là Chung-anh đình.

    Nhưng không được 20 năm thì vua Cao-hoàng nhà Minh đóng đô ở đấy.

    Sách Hoạch man lục chép: Vua Thế-tông nhà Chu ở ngoại quách (bức tường ở ngoài thành) Biện-kinh, lên cửu Chu-tước khiến Tống Thái-tổ (lúc ấy đang là kẻ bề tôi của Chu Thế-tông) chạy ngựa, đến nơi nào mà sức ngựa cùng kiệt thì xây thành đến đấy.

    Sách Đàm phố của Tôn-Công chép: Năm Nguyên-phong[1] sửa thành, Lý-Sĩ-Kinh làm chủ việc ấy. Đầu niên-hiệu Nguyên-hựu[2] Tôn-Công làm quan thứ-sử, xét theo bản-đồ xem chỗ đào đất, theo lệ những núi tiến ở phần đất thuộc kiền thuộc cấn đều đào được, nhưng sắp đến phần đất thuộc chấn, liền tâu lên vua rằng: “Nhà của thứ dân còn kiêng tránh huống chi chỗ ở của Thiên-tử?”

    Do đó việc đào đất bị bãi bỏ.

    Nhà Tùy đào Biện-hà, thế dòng nước xông thẳng vào thành Nam-kinh ngày nay. Đào đến phía ngoài thành liền đổi thế dòng nước mà tránh sang chỗ khác, cho nên tương-truyền chỗ ấy gọi là Lưu Triệu loan[3].

    Về sau vua Thái-tổ nhà Tống làm chức Tống-châu [15b] Tiết-độ-sứ lên ngôi làm vua. Đó là lời sấm ứng về việc đó.

    Sách Cổ Hàng tạp chí chép bài thơ của Quách-Phác vịnh núi Thiên-mục ở sông Tiền-đường:

    1. Thiên-mục sơn tiền lưỡng nhũ trường,

    2. Long phi phụng vũ đáo Tiền-đường.

    3. Hải môn nhất điểm tốn sơn[4] khởi,

    4. Ngũ bách niên tiền xuất đế-vương.

    Dịch nghĩa

    1. Trước núi Thiên-mục có hai trái vú dài,

    2. Rồng bay phụng múa đến song Tiền-đường.

    3. Ở cửa biển một ngọn núi nổi lên ở phương tốn (phương đông-nam),

    4. Năm trăm năm trước bậc đế-vương ra đời.

    Đến khi vua Cao-tông nhà Tống trung-hưng dưng kinh-đô ở đấy, thì núi Thiên-mục là chủ-sơn.

    Đến cuối đời vua Độ-tông núi sụp lở, kinh-thành náo-động, có người bàn nghị nên dời đô đi nơi khác.

    Chẳng bao lâu nhà Tống mất nước.

    Theo sách Nhất thống chí[5] chép: Tây-hồ ở Lâm-an quay lưng ra biển. Núi Thiên-mục ở về phía tây Tây-hồ.

    Sách Tứ triều văn kiến lục[6] chép: Mạch núi từ Thiên-mục tiến lại, núi Linh-tuấn thấp rạp xuống đến ngôi mộ của Hậu-chủ giống như con cọp ngẩng đầu. Chỗ đá dưới hàm mơ-hồ có một dấu búa đục.

    Các cố lão tương truyền rằng [16a] vua Thái-tổ hay vua Huy-tông nhà Tống nghe lời người vọng khí[7] đục bỏ râu hàm cọp đi.

    Xét rằng trong thời vua Thái-tổ nhà Tống thì Tiền-Thúc chưa nộp đất. Như vậy là đúng vào thời vua Huy-tông.

    Than ôi! Vua Tuyên-hòa[8] như quả biết vua Khang-vương ở đấy thì há lại chịu đục sống núi để làm yếu hèn con cháu mình hay sao?

    Thật đúng lắm, nước là chỗ trọng yếu của đất!

    Sách Tây thự ký chép: Cửa sông Tiền-đường có con nước thủy-triều vào giờ tý giờ ngọ không hề sai. Nếu nước thủy-triều tràn qua Di-đình (thuộc Giang-tô) thì có quan trạng-nguyên ra đời.

    Ngạn-ngữ có câu: Triều quá Di-đình xuất trạng-nguyên (Nước thủy-triều tran qua Di-đình thì quan trạng-nguyên ra đời).

    Xưa cuối đời nhà Tống nước thủy-triều tràn qua Di-đình thì có quan trạng-nguyên ra đời ở Kinh-dương.

    Sách Đại Thanh nhất thống chí chép: Khe Thác-khê ở phía tây phủ thành Cù-châu sọi là Sát-khê.

    Có câu ngạn-ngữ rằng:

    Sát-khê thông,

    Xuất tướng-công.

    Dịch nghĩa

    Nước khe Sát-khê chảy thông,

    Quan tướng-công ra đời.

    Đời nhà Tống, nước chảy thông, người trong quận là Từ-Đoan-Lễ quả nhiên được triều-đình trao chức tướng-công.

    Sách Quế hải chí[9] chép: Khang-đông ở Quế- [16b] lâm có quý thủy.

    Có câu ngạn-ngữ rằng:

    Quý thủy nhiễu Đông-thành,

    Vĩnh bất kiến đao binh.

    Dịch nghĩa

    Nước phương quý (tây bắc) chảy bọc Đông-thành,

    Mãi lâu không thấy nạn đao binh (thì nay sẽ được thấy).

    Trong niên-hiệu Đức-hựu thứ 2[10], nước thình-lình chảy chuyển về phía nam thành. Năm ấy quả nhiên có việc đao binh.

    Xét theo sách Kiến văn cận lục có chép: Đáy cũ sông Biện-hà có bảng đá và người đá để ghi dặm đất. Mỗi năm khai thông đến chỗ bảng đá ấy làm mức mà nhân-dân chưa từng cho việc đó là có hại.

    Còn nước chảy trong đất thì những châu Túc, Bạc, Trần, Dĩnh, Quỳ ở vùng Nam-kinh đều là những nơi chứa nước.

    Ở Nam-kinh từ hai bờ đê ở cửa Nam thẳng đến hai cây cầu ở phía đông và phía tây hai bên tả hữu đều là những đầm trữ nước.

    Về sau cho khai thông xả nước ra, những chỗ tích nước ấy đều trở thành ruộng tốt.

    Rồi sông Biện-hà không được vét thông nữa, dòng sông ngày càng nông cạn, nước chảy lên trên mặt đất.

    Tôi trộm nghĩ rằng: Việc sụp đổ của triều Bắc-Tống há chẳng vì đầm khô nước cạn mà vận suy hay sao?

    Triều Nam-Tống đóng đô ở cửa biển Lâm-an, dòng nước đông-nam[11] sớm tối có hai con nước thủy-triều. trong niên-hiệu Gia-hy thứ [17a] 4 đời vua Lý-tông nhà Nam-Tống, cát bồi, thủy-triều bị tắt nghẽn. Ngô-Tiềm xin dời đô về Bình-giang. Vua Tống Lý-tông không chịu nghe theo, thì vừa hơn 20 năm nhà Nam-Tống đầu hàng nhà Nguyên.

    Sách Danh thắng chí chép: Ở phía tây-bắc cách thành Nam-dương bảy dặm có sống núi Ngọa-long. Sống núi này khởi lên từ phía nam núi Tung-sơn, kéo dài suốt mấy trăm dặm đến đấy thì dừng hẳn lại và vòng quanh như ổ chim én. Gia-Cát Vũ-hầu (Gia-Cát-Lượng) dựng thảo-lư (ngôi nhà tranh) ở trong ấy.

    Phía dưới chỗ ấy đất bằng-phẳng như bàn tay xòe tức là nơi Gia-Cát Vũ-hầu đích thân ra cày. Dấu vết xưa nay hãy còn.

    Than ôi! Biết nền đất phát tích bậc đế-vương ở Kiến-nghiệp, bói được ngôi nhà phát-tích bậc tướng-công ở Long-trung, cái học của Gia-Cát Vũ-hầu há chỉ riêng dùng để trị nước và dung binh thôi hay sao?

    Nghệ-thuật của Gia-Cát Vũ-hầu lại giỏi hơn của Quách-Phác nữa.

    Sách Quảng-dư ký chép: Trong niên-hiệu Hàm-thông[12] đời vua Ý-tông nhà Đường, có người xem khí mây mà biết điềm lành dữ nói rằng: “Sông Tiền-đường có vượng-khí”

    Vua Ý-tông bèn sai [17b] quan Thị Ngự-sử Hứa-Hồn đem ngọc-khuê ngọc-bích chôn ở núi Tần-vọng sơn để trấn áp.

    Ở nước Nam ta, tương truyền rằng vua Ý-tông nhà Đường nghe nói nước An-nam có vượng-khí, bèn sai quan Tiết-độ-sứ Cao-Biền dùng thuật trấn áp. Việc này chưa ắt là lời nói không có sự thật.

    Sách Kê lặc biên chép: Vùng tây-bắc Trung-quốc có nhiều đất cho nên người ở đấy trọng hậu chất-phác. Vùng Lỗ, Kinh, Dương nhiều nước, cho nên người ở đấy thông-minh trí huệ văn nhã khéo-léo, nhưng mang tính nông-nổi, gan ruột lòng dạ hiện rõ ở khóe mắt. Không bị phong-tục biến dời, chỉ có người hiền tài mà thôi.

    Tập Bút ký của Tống-Kỳ chép: Miền đông-nam của Trung-quốc là kho-tàng của trời đất, rộng-rãi bằng-phẳng mà thấp.

    Miền tây-bắc là phương cứng mạnh của trời đất, hùng-vĩ tôn kính mà nghiêm-trang, cho nên các bậc đế vương thường khởi lên ở miền tây-bắc.

    Miền đông-nam đất mỏng [18a] mà nước cạn, cho nên sinh-vật ở đấy dồi-dào, của-cải ở đấy giàu có, nhân-vật ở đấy lanh-lẹ mà không trọng-hậu, ăn uống xa-xỉ mà sống cẩu-thả, kẻ sĩ thì yếu-đuối mà ít cương-quyết.

    Miền tây-bắt đất cao mà nước lạnh buốt, cho nên sinh-vật ở đấy ít-oi, của-cải ở đấy nghèo-nàn, nhân-vật ở đấy cương-nghị mà gần như ngu ngốc, ăn uống đạm-bạc mà sống siêng cần, kẻ sĩ ở đấy thâm-trầm trọng-hậu mà ít trí huệ.

    Ngày xưa Quách-Phác bói quẻ chọn đất đô-ấp cho nhà Tấn, muốn dựng ở Hạp-châu nhưng hiềm đất ấy sát kề núi non, nhìn xuống dưới vùng Tùng-từ thấy địa-thế có khí-tượng đô-ấp, bèn đào hầm và cân đất, lại hiềm vì đất quá nhẹ, bèn lấp hầm ấy lại thì thấy đất lấp không đầy như trước, bèn thôi.

    Quách-Phác lại nói: “Kim-lăng có vượng-khí đến nay vẫn chưa dứt, còn được 300 năm nữa, bời dời đô về Kiến-khang”.

    Trong thời vua Cao-Dương, đất Giao-chỉ đã nội-thuộc vào Trung-quốc, mà Đào-Đường thị (vua Nghiêu) là người đầu tiên sai quan đến ở Nam-giao (đất Giao-chỉ), thì cái tên Giao- [18b] chỉ vốn đã có từ xưa.

    Kinh-thư con đầm Minh-đô, thật đáng là cái đầm sâu súc-tích văn-minh.

    Hán Vũ-đế trong niên-hiệu Nguyên-đỉnh thứ 6 (111 trước Thiên-Chúa) cho mở-mang Bách-Việt, đặt quận Giao-chỉ, trụ-sở cai-trị của quan Thứ-sử đặt ở Long-biên. Giao-chỉ có chín quận.

    Quận Nam-hải tức nay là Quảng-đông. Quận Quế-lâm tức nay là Quảng-tây. Nhân-dân hai quận này đều xuống phía Nam phục-dịch chở-chuyên lúa thóc nộp thuế ở châu trị.

    Đầu thời Đông-Hán, quan Châu-mục Giao-chỉ là Đặng-Nhượng cầm đầu các thuộc quận triều-cống nhà Tây-Hán và nhà Đông-Hán hơn 300 năm.

    Long-biên là nơi đại đô-hội để thống-trị toàn cõi Giao-chỉ.

    Đến niên-hiệu Kiến-an thứ 8 (203) vua Hiến-đế nhà Hán đổi tên Giao-chỉ ra Giao-châu, dời trị-sở về huyện Quảng-tín ở Thương-ngô.

    Năm Kiến-an thứ 16 (211), trị-sở lại dời về huyện Phiên-ngung ở Nam-hải. Mọi sự đã khác hẳn với thời xưa dưới đời Hán vũ-đế.

    Đến thời nhà Ngô, Tôn-Hưu cho rằng đất thống-trị của Giao-chỉ thật rộng, mới chia Giao-chỉ làm hai chân:

    1. Quảng-châu, đặt trị sở ở Phiên-ngung.

    2. Giao-châu, đặt trị-sở ở Long-biên.



    [1] Nguyên-phong, niên-hiệu vua Thần-tông nhà Tống

    [2] Nguyên-hựu, niên-hiệu vua Triết-tông nhà Tống

    [3] Lưu Triệu loan, cái vịnh dành cho họ Triệu

    [4] Tốn sơn, ngọn núi nhỏ lên ở phương tốn, tức là phương đông-nam

    [5] Nhất thống chí, tức Đại Thanh nhất thống chí gồm có 34 quyển, soạn ra vào đời Gia-khánh

    [6] Tứ triều văn kiến lục, sách chia ra làm 5 tập chép các dật sự của bốn triều do Diệp-Thiệu-Ông đời Tống soạn ra

    [7] Vọng khí, người xem khí mây mà biết điềm lành dữ

    [8] Tuyên-hòa là niên hiệu của vua Tống Huy-tông (1119)

    [9] Quế hải chí tức sách Quế hải Ngu hành chí có một quyển do Pham-Thành-Đại đời nhà Tống soạn ra.

    [10] Đức-hựu, niêu-hiệu vua Cung-đế nhà Nam-Tống (1275-1276)

    [11] Tốn thủy, nước ở về phương đông-nam

    [12] Niên-hiệu Hàm-thông, 860-873 sau Thiên-Chúa