11.20 - Linh_tt (type done)

9/8/15
11.20 - Linh_tt (type done)
  • Về sau trải qua [19a] các đời đều theo như thế.

    Khuất-Đại-Quân nói : “Quảng-châu có 4 tháp. Các nhà hình-học cho là khí-lực của Trung-nguyên (Trung-quốc) đến Lĩnh-nam thì suy mỏng”.

    Đất Lĩnh-nam rất thấp và mỏng, đó là chỗ tận cùng của sơn-thủy, ở phía đôngthì thủy-khẩu (miệng tuôn nước ra) trống không, khí linh không còn ở đấy nữa. Theo phép thì phải lấy nhân-lực mà bù vào. Lấy nhân-lực bù vào thì không gì bằng xây tháp.

    Do đó lấy Xích-cương làm phương tốn (phương đông-nam) mà xây tháp ở trên ấy. Tháp xây chín bậc đứng cheo-leo ở bên bờ sông.

    Phía đông Lĩnh-nam có Bà-châu ở giữa hai con sông cũng quay mặt về hướng tốn (đông-nam), lại có hai trái núi, một trong hai trái núi ấy thì cao và bằng-phẳng và có xây tháp ở trên cho khí từ dưới xoay cuốn bốc lên của toàn cõi nước Việt được hoàn-bị và vững bền.

    Lại có tháp Phù-liên (sen nổi) thắt cửa biển lại khiến cho núi sông ngoảnh trông lại càng hữu tình để khí-lực càng trọng hậu.

    Này, Quảng-đông là chỗ một dãy [19b] dài núi non liên-lạc giao tréo kéo xuống. Thế mà bảo đất Lĩnh-nam đất rất thấp. Giao-chỉ ở về phía hữu của Quảng-đông, vùng Vân-nam và Quý-châu là nơi mạch núi xuất phát, thì đất Lĩnh-nam quả là vùng thượng-du cao vút có thể biết được vậy. Cho nên những con sông ở Quảng-tây phần nhiều bắt nguồn ở Giao-chỉ để chảy xuống Thương-ngô và đổ vào biển Nam-hải.

    Sách Nam-Việt ghi chép: Mã-Viện đục thông núi Cửu-chân, lại chất đá làm bờ để ngăn sóng biển. Vì thế mà sóng biển không vượt qua Trường-hải (Nam-hải) nữa.

    Ngày nay đường bộ vào Thanh-hoa thì đi hai ngả, ngã Thiết-giáp sơn và ngả Tam-điệp sơn. Tôi tưởng rằng Mã-Viện khởi đầu đục núi khi khai thông ở đấy.

    Nhưng sách Hậu-Hán thư của Tạ-Thừa chép: Bảy quận cõi Giao-châu đem lễ vật dâng cống vào Trung-quốc đều theo đường Trường-hải mà ra và vào.

    Sách này chỉ nói bảy quận chớ không nói chín quận. Tôi trộm nghĩ rằng: Quận Cửu-châu và quận Nhật-nam thì theo đường bộ đến Giao-châu rồi sau mới do đường biển dâng cống vào Lạc-kinh.

    Sách Quảng- [20a] đông tân ngữ lấy Trường-hải làm Quảng-châu, thì hình như tác-giả chưa khảo-cứu thuyết Mã-Viện đục thông núi Cửu-chân ở Nam-Việt.

    Vân-nam là quận Ích-châu đời nhà Hán.

    Sách Tử-đồng chí của Thường-Cứ đời Tấn chép: Văn-Tề làm Thái-thú ở Ích-châu. Trong thời Công-Tôn-Thuật xưng đế ở Ích-châu, Văn-Tề chiếm quân không chịu đầu phục mới sai sứ do đường Giao-chỉ đi dâng cống đến Hà-bắc.

    Thế thì Vân-nam có đường thông qua Giao-chỉ đi vào Trung-quốc từ lâu rồi.

    Sách Tấn-thư chép: Hoắc-Qua từ Nam-trung sai tướng là Dương-Tắc đem quân đi giữ Giao-chỉ bị Đào-Hoàng, tướng nước Ngô, chống cự phá tan.

    Đấy đúng là con đường từ Ích-châu đi xuống Giao-chỉ.

    Trong niên hiệu Phổ-thông thứ 4 (523) nhà Lương lại chia đất Giao-chỉ đặt ra Ái-châu.

    Quận Nhật-nam đời nhà Hán, đến đời nhà Ngô bị đặt riêng ra làm châu Cửu-đức, đến đời nhà Lương lại chia ra làm Đức-châu, đến đời nhà Tùy trong niên-hiệu Khai-hoàng[1] bắt đầu đổi ra Hoan-châu và Diễn-châu, tức là [20b] đất huyện Hàm-hoan đời nhà Hán, đến đời Đường trong đầu niên-hiệu Vũ-đức [2] được đặt ra Hoan-châu, trong niên-hiệu Trinh-quán[3] được đổi làm Diễn-châu, rồi sau lại bỏ.

    Đầu niên-hiệu Quảng-đức (763-765) vua Đường Đại-tông lại chia Hoan-châu đặt ra Diễn-châu.

    Sách Thủy kinh chú nói Mã Văn-uyên (Mã-Viện) dựng cây nêu bằng loài sắt (kim-tiêu) để làm ranh-giới phía cực-nam của Trung-quốc. Cây kim-tiêu là cây trụ đồng.

    Sách Tư trị thông giám chép: Đời nhà Tùy, Lưu-Phương đi đánh nước Lâm-ấp, đi ngang qua sông Thà-lê, cả phá quân Lâm-ấp, tiến qua phía nam cột đồng trụ của Mã-Viện, đi tám ngày đến kinh-đô nước ấy.

    Hồ-Tam-Tỉnh đời Tống hợp các thuyết mà chú như sau:

    Sách Tân Đường-thư chép: Từ Lâm-ấp chạy sang châu Lãng-đà, phía nam là bến to, có năm cây cột đồng. Hình núi giống như những cây lọng dựa vào nhau, phía tây là núi đá chập-chùng, phía đông là biển cả. Mã-Viện đời Hán dựng cây trụ đồng ở đấy.

    Đỗ-Hựu nói: “Nước Lâm-ấp đường đi cả thủy lẫn bộ độ 2.000 dặm, có nước Tây-đồ-di là nơi Mã-Viện dựng hai trụ đồng làm nêu ranh-giới.

    [21a] Núi Đồng-tru, chu-vi được 10 dặm, giống hình cây lọng dựa nghiêng, phía tây tiếp đến núi đá chập-chùng, phía đông ăn đến biển cả”.

    Tống-Bạch nói: “Mã-Viện đi đánh nước Giao-chỉ, từ quận Nhật-nam đi hơn 400 dặm đến nước Lâm-ấp, lại đi xuống phía nam hơn 200 dặm nữa thì có nước Tây-đồ-di. Mã-Viện đến nước này đúc ba cây cột đồng ở ranh-giới quận Tượng-lâm và dựng lên ở đấy để chia ranh-giới với nước Tây-đồ-di”.

    Vậy tính từ Giao-châu đến chỗ dựng cột đồng là 5.000 dặm.

    Xét thuyết của Đỗ-Hựu và của Tống-Bạch thì thấy cây trụ đồng ở về phía nam nước Lâm-ấp.

    Nay sách Tùy-sử chép: Nước Lâm-ấp ở về phía nam cây trụ đồng.

    Hoặc là nước Lâm-ấp về sau càng lớn rộng gồm nuốt nước Tây-đồ-di mà làm nước mình. Việc này cũng chưa thể biết được.

    Nhưng Khâm-châu ở cách hơn 300 dặm về phía tây phủ Hải-đông của bổn quốc có núi Phân-mao lãnh[4]. Ở nửa chừng núi Phân-mao lãnh lại có cây trụ đồng cao độ 1 trượng 2 thước, không biết là sao ?

    Trong niên-hiệu Nguyên-hòa (807-821) đời Đường Hiến-tông quan Đô-hộ Mã-Thông [21b] dựng cây trụ đồng ở chỗ cũ trong thời nhà Hán. Đấy có lẽ là cây trụ đồng của Mã-Thông dựng lên.

    Lâm-ấp tức là nước Chiêm-thành. Hai đười trước triều nhà Lý và triều nhà Trần đã đánh lấy nước ấy đặt ra những huyện Tân-bình và Bố-chính.

    Bổn-triều (nhà Lê) đặt ra xứ Thuận-hóa thống-quản hai phủ, lại đánh lấy đất nước ấy đặt ra xứ Quảng-nam thống-quản ba phủ.

    Sách Thủy-kinh của Tang-Khâm đời Hán chép: Sông Diệp-du ở Ích-châu chảy ra từ ranh-giới phía bắc đất ấy, rồi từ phía đông-bắc huyện ấy chảy qua phía đông huyện Bất-vi, chảy về phía tây ra khỏi ranh-giới Ích-châu, đổ vào phía bắc huyện Tây-tùy thuộc quận Tương-ca làm sông Tây-tùy, lại chảy về phía đông ra cửa quan Tiến-tang, chảy về phía bắc huyện Mi-linh thuộc quận Giao-chỉ chia làm năm con sông chảy rằn-rịt trong quận Giao-chỉ đến ranh-giới phía đông lại hợp thành ba con sông chảy về phía đông đổ vào biển.

    Ngọn sông phía nam từ phía đông huyện Mi-linh chảy qua phía bắc huyện Phong-khê rồi chảy về phía đông sang hồ Lãng-bạc.

    Xét ra, Mã-Viện [22a] đã dẹp yên Giao-chỉ, lại chia 400 dặm lập hai huyện Phong-khê và Vọng-hải.

    Mi-linh tức là huyện An-lãng. Huyện này đời nhà Hán rất to gồm cả đất những huyện Sơn-vi và Phù-ninh ngày nay.

    Từ xưa tới nay hoặc theo cũ hoặc đổi mới mỗi thời có khác nhau khó mà truy khảo được.

    Tôi thường xem Minh-sử, thấy chép: Phía đông huyện Thái-hòa phủ Đại-lý có con sông Tây Nhĩ-hà phát-nguyên từ núi La-cốc sơn huyện Lãng-khung mà chảy vào đấy, lại chảy sang phía đông hợp với 18 con sông [5] ở núi Điểm-thương sơn mà giụm lại ở đấy.

    Ở phía tây có sông Dạng-bị từ châu Quy-xuyên chảy vào hợp với sông Tây Nhĩ-hà, lại hướng về phía đông-nam chảy vào sông Lan-thương.

    Phía tây-nam phủ Cảnh-đông có sông Lan-thương phát-nguyên ở Kim-xỉ, chảy suốt qua phía tây-nam của phủ Cảnh-đông hơn 200 dặm, chảy về phía nam đổ vào phủ Xa-lý làm sông Cửu-long. Hạ-lưu sông này chảy vào quận Giao-chỉ.

    Phía đông- [22b] bắc phủ Xa-lý có sông Lan-thương hợp với sông Cửu-long chảy đến quận Giao-chỉ làm sông Phú-lương và đổ vào biển cả.

    Phía đông-nam huyện Mông-tự phủ Lâm-an có sông Lê-hoa tức là sông Lễ-xã, chảy về phía đông-nam đổ vào sông Thanh-thủy ở quận Giao-chỉ.

    Ở phía nam lại có Liên-hoa than [6] tức là chỗ hạ-lưu sông Lan-thương và thượng-lưu sông Thao ở Giao-chỉ.

    Phía đông-nam Triệu-châu thuộc phủ Đại-lý có sông Bạch-nhai Thương-giang, hạ-lưu sông ấy là sông Lễ-xã.

    Tham khảo những điều trên thì thấy :

    - Sông Tuyên-quang của nước ta tức là hạ-lưu sông Lễ-xã ở Vân-nam.

    - Sông Thao ở Hưng-hóa tức là hạ-lưu sông Lan-thương ở Vân-nam.

    Sông Dạng-bị lại có tên là Hắc-huệ giang xuất phát từ phủ Mông-hóa, trên thì hợp với hạ-lưu sông Khả-bạt thuộc Tây-phiên, dưới thì hợp với sông Tây Nhĩ-hà, lại hợp với sông Lan-thương.

    Thế thì sông Phú-lương tức sông Lan-thương là rõ [23a] lắm.

    Lại theo sách Điền-nam du ký chép : Sông Lan-thương ở Điền-nam nước Thổ-phồn chảy về phía tây-bắc, quanh-co hướng về phía đông-nam rồi ngoằn-ngoèo ở ranh-giới huyện Vân-nam, chảy đến Giao-chỉ đổ vào biển cả.

    Trong sách Điền-nam du ký tác-giả có dẫn những tài-liệu ở Nguyên-sử để làm chứng: Trong niên-hiệu Chí-nguyên thứ 8 (1271, đời Nguyên Thái-tổ), Trương-Đạo-Lập đi sứ sang Giao-chỉ sang Hắc-thủy vượt qua Vân-nam để đến nước Giao-chỉ.

    Tài-liệu này chỉ rõ sông Lan-thương là Hắc-thủy.

    Sách ấy lại chép: Sông Tây Nhĩ-hà phát nguyên từ mấy chỗ ở La-cốc sơn thuộc huyện Lãng-khung. Những chỗ ấy nước phun lên trắng xóa như châu-thụ (cây bằng bột ngọc châu).

    Đời truyền rằng đó là mạch nước chảy ngầm của Hắc-thủy.

    Lại có con sông nhánh chảy quanh-co ở phía tây-nam huyện Thái-hòa làm sông Phí-thủy hợp với sông Dạng-bị, lại hội với sông Lan-thương mà đổ vào biển Nam-hải.

    Lấy điều này tham-khảo thì có thể thấy sông Lan-thương là hạ-lưu sông Hắc-thủy, sông Phú-lương là hạ-lưu sông Lan-thương.

    [23b] Sách Vân-nam sơn xuyên ghi chép: Sông Tây Nhĩ-hà ở phía tây phủ thành tức là sông Diệp-du ngày xưa, phát nguyên từ Đặng-châu thuộc phủ Đại-lý hợp với 18 con sông ở núi Điểm-thương sơn mà giụm lại ở đấy. Dòng sông giống như vành tai người vòng quanh hơn 300 dặm, phía trong có những thắng-cảnh như Tam-đảo, Tứ-châu và Cửu-khúc.

    Hạ-lưu sông Tây Nhĩ-hà hợp với sông Dạng-bị.

    Sách Tây Nhĩ-hà chí chép: Sông Diệp-du có một tên nữa là Tây Nhĩ-hà xuất phát từ núi La-cốc sơn thuộc huyện Lãng-khung, ở dưới từ phía tây-bắc huyện Thái-hòa chảy qua phía đông, đổ về phía đông huyện ấy, vòng quanh phía tây-nam huyện ấy, rồi từ trong hang đá chảy ra làm sông Phí-thủy, hợp dòng với sông Dạng-thủy và sông Lan-thương mà đổ vào biển Nam-hải.

    Điều này thật hợp với lời ghi chép trong sách Điền-nam du ký.

    Người nước ta gọi sông Phù-lương là sông Nhĩ-hà, bởi vì con sông này tuy là sông Lan-thương chảy xuống nhưng cũng là hạ-lưu sông Tây Nhĩ-hà vậy.

    [24a] Phủ Lâm-an ở Vân-nam liền đất với hai phủ Tuyên-quang và Hưng-hóa của nước ta.

    Trương-Giai-Dận đời nhà Minh chép: Lâm-an là nước Câu-dinh xưa, trị-sở đặt ở phía tốn (phía đông-nam) đất Điền, địa-thế rất thấp đến ranh-giới Giao-châu và Quảng-châu chỉ có 400 dặm, buổi sáng thì khí trời ấm-áp, chỗ quận-trị rộng-rãi lớn lao mà sáng sủa cao ráo.

    Phía tây-bắc có 3 động: Vạn-tượng, Thủy-vân và Nam-minh. Sông dài ngàn dặm thắt lại chỗ ấy giống như sợi dây đai. Thủy-thế khi ẩn khi hiện xuyên qua Chức-vân-căn, chảy xuống Giao-châu, tụ lại ở Quảng-châu rồi đổ vào biển Nam-hải.

    Sách Cựu-chí chép: “Thần mưa [7] thích đất Kiềm [8], còn thần gió [9] thì thích đất Điền”[10].

    Cho nên tỉnh Quý-châu có nhiều mưa.

    Sách Quảng-tây chí chép: Mười vạn (100.000) ngọn núi bao bọc ba mặt phía đông phía nam và phía tây châu Thượng-tứ.





    [1] Khai-hoàng là niên hiệu của Tùy Văn-đế, (581-589)

    [2] Vũ-Đức, niên-hiệu của Đường Cao-tổ, 618-627

    [3] Trinh-quán, niên-hiệu của Đường Thái-tông, 627-650

    [4] Phân mao lãnh, núi cỏ rẽ. Tương truyền cỏ ở núi ấy mọc rẽ ra hai bên làm thành lằn ranh giữa nước ta và Trung-quốc

    [5] Nguyên-văn chép sai ra chữ châu , đúng là chữ xuyên

    [6] Than là chỗ bãi cạn.

    [7] Vũ-sư là thần làm mưa.

    [8] Kiềm là tên riêng của tỉnh Quý-châu.

    [9] Phong-bá là thần làm gió.

    [10] Điền là tên riêng của tỉnh Vân-nam.
  • Đang tải...