11.21 - Kimduyen (type done)

11/8/15
11.21 - Kimduyen (type done)
  • VÂN-ĐÀI LOẠI-NGỮ QUYỂN 3

    Cách thành 80 dặm [24b] những ngọn núi lởm chởm nối liền nhau kéo dài thẳng đến địa-phận Lộc-châu của nước An-nam. cho nên nói là Thập-vạn sơn làm giới-hạn đất Giao-chỉ.

    Dọc theo dải núi có 8 cửa ải phụ theo mà bày ra.

    Sông Minh-gian phát nguyên ở núi ấy rồi hợp với các khe khác do động Vu-long chảy về phía tây ngang qua Tư-châu đến đông-nam thành châu Ninh-minh, lại chảy về hướng bắc hợp với sông Long-giang ở Long-châu.

    Núi Thanh-liên sơn ở cách một dặm về phía bắc Thượng Đống châu và Hạ Đống châu, phát mạch từ châu Quảng-nguyên đất Giao-chỉ chạy về phía đông đến cảnh-giới phủ chạy dài cao ngất làm hậu chướng cho châu Quảng-nguyên.

    Núi Công-mẫu sơn ở phía bắc thổ châu Tư-lăng tiếp với núi Giao-nam, thế núi cao-ngất rộng-rãi có trúc rậm rừng sâu, cảnh sắc thanh tú đẹp mắt.

    Núi Tú-lĩnh sơn ở cách 90 dặm ven theo phía nam động Hạ-long gần ranh-giới châu Thất-nguyên phủ cao bằng đất Giao-chỉ, chảy ngang qua [ 25a] Thượng Đống-châu và Hạ Đống-châu, chảy vào phía trước Nhiêu-châu rối chảy ra hợp với sông Minh-giang.

    VÂN-ĐÀI LOẠI-NGỮ QUYỂN 3

    Sách Quảng-tây Tam-giang khảo chép : từ phía tây-nam Ngô-châu , đi ngược dòng 330 dặm đến Tầm-châu, sông tách về phía đông thành là Tả-giang.

    Sông ấy có hai nguồn :

    1. Một nguồn xuất phát từ núi Thập-vạn sơn chỗ ranh-giới Nam-di đất Giao-chỉ, chảy qua châu Thượng-tứ, chảy dài đến Long-động, xuống châu Tư-minh, chảy vào sông Giao-chỉ, chảy xuống châu Ninh-minh, hợp với sông Long-châu, chảy xuống phủ Thái-bình, hợp với sông Lợi-thông, chảy xuống châu Tân-ninh, hợp với sông Đà-bài, chảy đến trấn Hợp-giang, hợp với sông Tương-ca làm sông Giao-chỉ. đó là nhánh tả ở bên trái.

    2. Một nguồn xuất phát từ Vân-nam, do ngả phú-châu chảy vào cảnh-giới Điền-châu đến chợ Lợi-tái, chảy vào sông Tứ-thành, chảy xuống Điền-châu, Phụng-nghị châu, Thương-thự huyện, Quả-hoá châu, Long-an huyện, hợp với sông Nam-lưu, theo sông Ủng-[25b] giang, chảy đến Hợp-giang trấn, hợp với sông Giao-chỉ làm sông Tương-ca. đó là nhánh hữu ở bên trái.

    Nhubg74 con sông ấy hợp dòng chảy đến phủ Nam-ninh, hợp với sông Bát-xích, chảy xuống phủ Vĩnh-thuần, hợp với sông Đống-phụ, chảy xuống Hoành-châu, hợp với sông Tư-vũ, chảy xuống huyện Quý-châu, hợp với sông Hoành-my, chảy đến phía đông Tầm-châu gặp sông Tả-giang, gọi chung là sông Tả-giang.

    VÂN-ĐÀI LOẠI-NGỮ QUYỂN 3

    Con sông ở phía tây thành Tầm-châu là sông Hữu-giang, cũng có hai nguồn :

    1. Một nguồn xuất phát từ sông Thanh-thuỷ, chảy qua phủ Lê-bình ở Quý-châu, hợp với sông Cổ-châu, chảy xuống huyện Hoài-viễn, hợp với sông Lãng-khê, chảy xuống Dung-huyện, hợp với sông Đái, chảy đến huyện Liễu-thành, hợp vói sông Long-giang. Đó là nhánh hữu ở bên mặt, gọi là sông Dung.

    2. Một nguồn xuất phát từ phủ đô-quân thuộc Quý-châu, hợp với sông Hoàn-thuỷ, chảy đến phủ khánh-viễn, hợp với sông Tiểu-giang, chảy đến huyện Liễu-thành hợp với sông Dung. Đó là nhánh tả ở bên trái, gọi là Long-giang.

    Những con sông ấy hợp với dòng [26a] chảy đến phủ Liễu-thành, vòng quanh ba mặt thành, hợp với sông Lạc-thanh và hội với những con sông khác ở phía Tây-bắc Quế-lâm, chảy xuống Tượng-châu, hợp với sông Hồng-thuỷ, lại hợp với những con sông khác ở phía tây-bắc Tứ-khánh, chảy xuống huyện Tuyên-vũ, hợp với sông Đoạn-đằng, chảy đến phủ Tầm-châu, hợp với sông Hữu-giang, gọi chung là Hữu-giang.

    Hai con sông hợp làm một mênh-mông muôn khoảnh, hợp với sông Đại-hoàng, chảy xuống huyện Bình-nam hợp với sông Bạch-sa và sông Mông-giang, chảy xuống Đằng-huyện hơp với sông Tú-giang, chảy xuống phủ ngô-châu hợp với sông Ly-giang, đó gọi là sông Tam-giang.

    VÂN-ĐÀI LOẠI-NGỮ QUYỂN 3

    Ba con sông chảy giụm lại đổ hết vào châu Phiền-long, chảy xuống địa-giới Quảng-tây, hợp với sông Khai-kiến, chảy xuống huyện Phong-châu hộp với sông La-bàng, chảy xuống châu Đức-khánh, hợp với sông Liên-ly, chảy xuống phủ Triệu-khánh, chảy ra Đoan-hạp.

    Một dòng từ châu Mặc-nghiễn chảy đến sông Cửu-giang, chảy xuống huyện Tân-hợi, chảy ra Giang-môn.

    Một dòng từ [26b] Thanh-kỳ khẩu chảy xuống Tư-hiền khác (?), hợp với sông Trinh-giang, chảy xuống huyện Tam-thuỷ, chảy đến Phật-sơn, đến phủ Quảng-châu chia dòng chảy vào biển cả.

    Từ Tầm-châu trở lên, phía bên trái là bãi cạn Ô-man thuộc Hoành-châu, phía bên mặt là sông Hắc-lonh, sông Tam-kiếm ở Khánh-viễn, sông Khung-bích, sông Đoạn-đằng ở Vũ-tuyên. Những con sông này đều có đá lôn-xộn nổi ngang dòng sông có sóng nước xoáy quanh, đà công lái thuyền nên cẩn thận.

    Từ Tầm-châu trở xuống dòng sông không có sự nguy-hiểm về bãi cạn nước xoáy quanh về ghềnh ngược, nhưng lại có nỗi lo ngại về khói sóng gió bão.

    Nếu mình giương buồm rẽ sóng cỡi thuyền chạy một mạch đến ngàn dặm, cùng lướt thuyền trên sông Ly-giang vào mùa hè nước tràn, thấy núi bay cây chạy, buổi sáng rời đất Bát-quế, buổi chiều đến cõi Thương-ngô, như vậy cũng là một thắng-cảnh đi thuyền.

    VÂN-ĐÀI LOẠI-NGỮ QUYỂN 3

    Ở tỉnh Quảng-tây người ta gọi Minh-giang là con sông phát-nguyên từ núi Thập-vạn sơn ở Lộc-châu thuộc tỉnh Lạng-sơn, hợp với các khe nhỏ chảy về phía bắc [27a] đến châu Thượng-tứ để chảy xuống châu Minh-ninh.

    Người ta gọi sông Giao-chỉ là cái khe nhỏ phát-nguyên ở Cao-lâu thuộc tỉnh Lạng-sơn, chảy qua Lục-đoàn Tứ-trại mà chảy xuống hợp với sông Minh-giang ở châu Ninh-minh.

    Người ta gọi là Tiểu-thuỷ (sông con) , con sông phát-nguyên từ châu Văn-uyên thuộc tỉnh Lạng-sơn, chảy vào châu Bằng-tường, cùng với những con sông trong châu Văn-uyên hội nhau ở châu Thượng-thạch, chảy về nam đổ vào phía tây châu Hạ-thạch, chảy qua Tư-châu rồi đổ vào sông Minh-giang.

    Người ta gọi Đại-thuỷ ( sông to), con sông phát-nguyên từ châu Quảng-nguyên thuộc tỉnh Cao-bằng do cửa quan Thuỷ-khẩu ở Long-châu chảy xuống đổ vào phía trước Thượng Đống châu và Hạ Đống châu, xuôi dòng chảy đến Long-châu, hợp với hạ-lưu sông Minh-giang, chảy đến trấn Hợp-giang đổ vào Tả-giang.

    Tôi nhân vâng lệnh đi sứ đi thuyền ở Tam-giang, dọc đường hỏi thăm nguồn ngọn các con sông và dở xem bản-đồ thì nhận thấy rằng những ngọn núi cao nhất ở Lạng-sơn Cao-bằng là nơi phát-nguyên những con sông ấy, còn những sông ở Quảng-tây đều là hạ-lưu của những con sông ấy.

    Bài cửu [ 27b] long ca được truyền-tụng trong nước ta

    VÂN-ĐÀI LOẠI-NGỮ QUYỂN 3

    cho rằng những con sông ở Quảng-tây đều bắt nguồn từ Long-châu bên Tàu. như thế là sai.

    Phía bắc thành Ninh-minh châu thuộc tỉnh Quảng-tây có Mã-bào tuyền (1), cũng gọi là Thái-tử tỉnh ( giếng của Thái-tử). Nước suối ấy trong và ngọt, chứa vào bình hơn mười ngày mùi vị cũng như xưa, có thể dùng làm thuốc trừ khí độc lam chướng.

    Các sứ-giả đi cống qua khỏi cửa quan đến sông Minh-giang, lên thuyền liền phải múc lấy nhiều nước suối ấy dự-trữ mà dùng để đi đến Nam-ninh, không dám uống nước sông Uất-giang.

    Khi trở về nước, các sứ-giả đến đấy liền múc lấy nhiều nước ấy để đi đến thành Lạng-sơn, không dám uống nước ở sông Bằng-tường.

    Tương truyền : Trấn-nam vương đời nhà Nguyên đi đánh Chiêm-thành trở về, quân-sĩ uống nước sông Minh-giang mà phải bịnh, mới cầu đảo với thần. có con ngựa lấy chân trước đào đất thì nước suối phun lên, cho nên gói là suối Mã-bào.

    Sách Thuỷ-kinh chép : Sông Cân-giang phát-nguyên từ phía đông-bắc huyện Giao-chỉ, chảy đến huyện Lãnh-phương đất Uất-lâm, chảy về phía đông đổ vào [ 28a] châu Uất châu Dung.

    (1). Mã-bào tuyền (mã, ngựa ; bào, lấy chân trước đào đất ; tuyền, suối).
    Ngựa đào đất có mạch suối tuôn nước ra.
    ghi chú : số 1 mình để trong ( ) là do mình không biết đánh số 1 nhỏ ghi chú ở phía trên bên phải của chữ cần ghi chú nên mình đánh như vậy. bạn nào biết chỉnh sửa thì làm dùm mình nhé. cảm ơn rất nhiều.

    VÂN-ĐÀI LOẠI-NGỮ QUYỂN

    Nay xem ở phía tả đô-thành nước ta như sông Thiên-đức, sông Xương-giang, sông Chú-hựu đều chảy xuống trấn Hải-dương mà đổ vào biển cả, chớ không có chảy vào châu Uất, châu Dung thuộc cảnh-vực nước Tàu.

    Chỉ có con sông ở thành lạng-sơn, dòng nước chuyển sang Nhiêu-châu rồi theo dòng chảy vào cảnh-vực nước tàu hợp với sông Minh-giang.

    Ý định rằng có lẽ đó là sông Cân-giang ngày xưa đấy.

    Đất-đai một huyện đời Hán rất lớn, Long-biên ngày xưa phải là đất Kinh-bắc ngày nay ( thời Lê-Quý-Đôn thuộc nhà Lê).

    Sách sơ-học ký chú rằng :sách Giao-châu ký của Lưu-Trừng-Châu nói huyện Long-biên có núi cao, là noi phát-nguyên sông Kinh-thuỷ.

    Sách Hoàn-vũ ký (1) chép : Quỷ-môn quan ở cách 30 dặm huyện Bắc-lưu có hai hòn đá đứng đối nhau. Mã-viện đi đánh rợ Lâm-ấp có dựng bia ở đấy.

    Sách ấy lại chép : Đời nhà Tấn ai đi sang Giao-chỉ đều phải noi ngả Quỷ-môn quan. Phía nam Quỷ-môn quan lại [28b] nhiều chướng-khí nhất. Cho nên có câu ngạn-ngữ :

    (1). Hoàn vũ ký tức là sách Thái-bình hoàn vũ ký gồm có 193 quyển, do Nhạc-sử đời Tống soạn, là bộ sách địa-lý xưa.

    VÂN-ĐÀI LOẠI-NGỮ QUYỂN 3

    Quỷ-môn quan,
    Thập nhân khứ, cửu bất hoàn.

    Dịch nghĩa
    Cửa Quỷ-môn,
    Mười người đi, chín chẳng về.

    Nay xét huyện Bắc-lưu gần châu Tân-an thuộc tỉnh An-quảng của nước ta, cửa Quỷ-môn này phải ở chỗ này. Nay tục truyền nói cửa Quỷ-môn ở xã Binh-lang thuộc châu Ôn, tỉnh Lạng-sơn là sai.

    Sách sử-ký chép : Phục-ba Tướng-quân ( Mã-Viện) đi ven biển mà tiến, noi theo núi mà đốn cây đi hơn ngàn dặm mà dấu chân cũng chưa đặt đến Lạng-sơn.

    Cao-biền trị binh ở trấn Hải-môn tại huyện Bác-bạch. Đó là con đường đi vào Giao-chỉ trong đời nhà Đường. Nay con đường đó bị lấp mất không dùng đi nữa cũng ở gần huyện Bắc-lưu.

    Sách Giao-châu ký của Lưu-Hàn-kỳ chép : Phù-thạch sơn ở trong biển, đứng dựng cao mấy mươi trượng nổi trên mặt nước.

    Sách ấy lại nói : có một trái núi được thần-nhân khắc và

    VÂN-ĐÀI LOẠI-NGỮ QUYỂN 3

    khâu làm như cái rạp để bắn tên. Cách ngôi nhà đá mấy mươi [ 29a] bước, ban đêm thường nghe tiếng bắn tên.

    Vương-thức đời Đường trấn-thủ nước An-nam có trồng cây điều-mộc làm rào để phòng-ngự có thể chống giữ hàng mấy mươi năm.

    Sách ấy có chú : chữ ..... âm đọc điều, là thứ dương thỉ táo có gai.

    Lại đào hào sâu ở ngoài, phía ngoài hào trồng tre, quân địch không thể mạo phạm vào được.

    Sách Ngu hành chí chép : tre điều có nhiều gai. Đất Tân-châu ở Quảng-đông vốn không có thứ tre điều này.

    Nơi thành quách quận thủ, Hoàng-tế bắt đầu trồng thứ tre này, dê và heo không thể chui ngang được. Hàng rào phòng-thủ bằng thứ tre này gọi là trúc-thành.

    Nghe đồn ở ngoài thành Giao-chỉ cũng có thứ tre gai này.

    Chữ ...... đọc lặc ( lư + đắc = lặc).

    Sách Đường-sử chép : Cao-Biền trấn-thủ nước An-nam, hằng năm có sứ-giả đến. Cao-Biền lén cho đào đường lộ năm chỗ, đặt binh hộ-tống. Đường tắt có đá ngầm.

    Nghe đồn rằng : Phục-ba Tướng-quân ( Mã-Viện) không đục

    VÂN-ĐÀI LOẠI-NGỮ QUYỂN 3

    đá làm đường được. có sét đánh phá tan núi đá, đường lộ mới [29b] được thông. Nhân đó mới gọi con đường ấy là Thiên-uy cảng. Thiên-uy cảng nay ở huyện Quỳnh-lưu tỉnh Nghệ-an.

    Theo sách Bắc mộng toả ngôn (1) chép : Phía bắc Giao-chỉ cách Hải-nam có con đường nước, nhiều thuyền lớn phải chìm ở đấy. Cao-Biền đến xem chỗ ấy thấyco1 hòn đá chắn ngang ẩn ở dưới nước, nhân đó mới tâu xin đục bỏ hòn đá ấy để thông các nguồn lợi ở Hải-nam.

    Bài-biểu đại-lược nói : " Người ta mới cầm chèo thì bị hòn đá chắn ngang bến, vừa lên thuyền mà đi liền thác xuống chín suối".

    Vua xuống chiếu nghe theo lời tâu. Ca0-Biền liền gọi thợ đục bỏ hòn đá ấy. Đến nay nhân-dân còn nhờ công-đức ấy.

    Có người nói : Cao-Biền dùng thuật mượn sấm sét phá tan hòn đá ấy.

    Sách Phiên-ngung tạp ký của Trịnh-Hùng đời Đường chép : đất Giao-chỉ rất màu-mỡ.

    Xưa có vua gọi là Hùng-vương, tướng văn gọi là Hùng-hầu, tướng võ gọi là Hùng-tướng.

    (1) Bắc mộng toả ngôn, tên sách gồm 20 quyển do Tôn-Quang-Hiến đời Tống soạn ra , ghi chép các dật-sử.