11.22 - Linh_tt (type done).

11/8/15
11.22 - Linh_tt (type done).
  • Tăng-Cổn ở triều Ý-tông nhà Đường [30a] thay Cao-Biền làm Tiết-độ-sứ đất Giao-châu có viết một quyển sách Giao-châu ký.

    Sách Việt-chi của Tăng-Cổn lại chép : Đất Giao-chỉ có Lạc-điền theo nước thủy-triều lên xuống.

    Sách Quảng-đông tân ngữ chép : Người ở ven biển làm giàu nhờ ruộng cát. Ngườu mua ruộng cacts tranh nhau lấy sa-quần, vì sa-quần dễ sinh phù-sa. Có khi ruộng cát một trăm mẫu sinh ra hàng mấy trăm mẫu.

    Ở nước Nam mối lợi về bãi cát thì không có gì lớn bằng.

    Trên từ Sơn-tây, dưới đến biển Đông, phía nam giáp Thanh-hoa, ruộng cát ở cửa biển nổi lên không dưới mấy mươi vạn mẫu, trồng dâu, trồng mía, trồng lúa thóc rất dồi-dào. Ruộng ở ven biển trồng cói, trồng tre, mối lợi thu được cũng trọng hậu.

    Sách Thông-giám [1] chép : Đất Phong-châu ở An-nam có đồng-bằng Lâm-tây, bên cạnh ấy có động Thất-quán, xét ra nhà Hán gọi là My- [30b] linh, nhà Ngô gọi là Tân-hưng, nhà Tấn gọi là Tân-xương, nhà Tùy gọi là Gia-ninh, nhà Đường gọi là Phong-châu, nay gọi là đạo Sơn-tây.

    Lâm-tây đến đời nhà Lý đổi gọi là Lâm-an, nay là đạo Hưng-hóa.

    Sách Khảo-dị chép : Quan Tri-châu ở Phong-châu là Thân-Văn-Trạng bãi bỏ 6.000 binh tướng phòng-thủ mùa đông, không cần ngăn phòng ở ranh-giới châu Chân-đăng.

    Châu Chân-đăng, đời nhà Lý hãy còn tên địa-danh này, tức nay là phủ Lâm-thao.

    Sách Nam-khang chí chép : Ngũ-lãnh là :

    1. Đài-lãnh ở Đại-dũ.

    2. Kỵ-điền ở Quế-dương.

    3. Đô-bàng ở Cửu-chân.

    4. Manh-chử ở Lâm-hạ.

    5. Việt-thành ở Thủy-an.

    Quận Cửu-chân là châu Ái của nước ta.

    Sách Quảng-châu ký chép : Ngũ-lãnh là :

    1. Đại-dũ.

    2. Thủy-an

    3. Lâm-hạ.

    4. Quế-dương.

    5. Yết-dương.

    Ngũ-lãnh nay ở trong địa-giới Lưỡng-Quảng (Quảng-đông và Quảng-tây).

    Phương-Dĩ-Trĩ nói : “Đất Cửu-chân quá xa, nên theo thuyết sau là đúng”.

    [31a] Đô-thành bổn-triều (nhà Lê) là đất quận Giao-chỉ dưới thời nhà Hán.

    Sách Địa-dư chí chép : Người Giao-chỉ thì ngón chân cái tách bẹt ra, khi hai chân đứng ngang nhau thì hai đầu ngón chân cái giao nhau.

    Sách Hán-quan nghi chép : Khi bắt đầu khai phát Bắc-phương liền giao-tiếp với Nam-phương để làm cơ-sở cho con cháu.

    Tôi cho thuyết này là đúng.

    Nhưng sách Lễ-ký chép : Người phương Nam xăm trán (lấy kim chích vào da rồi bôi chàm lên), hai ngón chân cái giao nhau và ăn không nấu nướng.

    Như thế thì những điều ghi chép trong sách địa-chí chưa phải là hoàn-toàn sai hết.

    Sách Thông-giám, phần Tấn-kỷ chép : Lư-Tuần đến bên phía nam ở Long-biên.

    Sách ấy có chú : Huyện Long-biên thuộc quận Giao-chỉ. Trị sở của châu quận huyện đều ở đấy.

    Sách Thủy-kinh chú chép : Niên-hiệu Kiến-an thứ 23 (218) đời Hán Hiến-đế, lúc bắt đầu xây dựng thành có loài giao-long khoanh kết vào nhau ở hai bến phía nam và phía bắc, cho nên đổi tên Long-uyên ra Long-biên.

    Phần Địa-lý chí trong sách Tiền Hán-thư Hậu Hán-thư đều chép là Long-biên là vì Nhan-Sư-Cổ và Chương-Hoài-Thái tử kiêng tránh tên húy của nhà Đường [2] cho nên mới đổi ra như vậy (Long-uyên đổi ra Long-biên).

    Xét ra Kinh-đô [31b] nước ta là nơi chung tụ khí linh-tú của núi sông cho nên lắm lần có điềm rồng thần.

    Năm đầu niên-hiệu Thuận-thiên (1010) vua Lý Thái-tổ dời đô đến đấy tạm đậu thuyền ở dưới thành thấy con rồng vàng hiện ở thuyền ngự, nhân đó đổi tên Đại-La thành ra Thăng-long thành.

    Năm đầu niên-hiệu Thiên-thành (1028) đời vua Lý Thái-tông rồng lại xuất-hiện ở điện Càn-nguyên.

    Đến giữa niên-hiện Đại-bảo (1049-1054) đời vua Lý Thái-tông rồng lại xuất-hiện ở gác Đoan-minh.

    Sách Quàng-đông tân ngữ của Khuất-Đại-Quân chép : Ta xem núi-non ở Giao-chỉ, long-mạch phát từ Quý-châu, mà Quý-châu là phần dư thừa của các con sông. Núi ấy từ đất Ba-thục kéo tới, đại-khái long-mạch chạy qua như sóng cuộn muôn đợt lướt tuôn không dừng, thẳng đến Giao-châu rồi sau mới kết thành đất nước ấy.

    Đất Vân-nam là cửa sau của Giao-châu (nên gọi là cửa hữu), Quảng-tây là cửa trước (nên gọi là cửa sau), thuộc ranh-giới phía đông là Quảng-đông và Khâm-châu.

    [31a] Sách ấy lại chép : Đất Giao-chỉ có 17 quận, 49 châu, 127 huyện, mỗi năm nộp thóc cho quan Tư-nông hơn 1.260 vạn hộc (12.600.000).

    Thuế-má của cả những đất Mân (Phúc-kiến), Quảng (Quảng-đông, Quảng-tây), Điền (Vân-nam) và Kiềm (Quý-châu) cũng không bằng của Giao-chỉ. Thì đất-đai rộng lớn, thuế-má dồi-dào của nước ta có thể nhận thấy được.

    Kinh-đô nước ta quay mặt ra biển có những trấn Hải-dương, An-quảng ở về phía đông-nam, có trấn Nghệ-an lại ở phía tây-nam. Phía tả biển cả ở trấn An-quảng là Khâm-châu. Ở phía tả Khâm-châu, một khu đất chênh-vênh ở giữa biển là Quỳnh-nhai.

    Phía tả núi Hoành-sơn ở trấn Nghệ-an là Thuận-hóa. Ở phía hữu Thuận-hóa là Quàng-nam là nước Chiêm-thành.

    Khuất-Đại-Quân nói : “Các Nhai-châu 600 dặm về phía nam tức nước Chiêm-thành. Mỗi khi thuận gió nồm người ta nghe tiếng gà gáy ở Chiêm-thành như tiếng chuông to du-dương từ ngoài biển đưa vào.” Sự gần kề là như thế.

    [32b] Quỳnh-nhai che đỡ cho Quảng-đông. Chiêm-thành cũng có thể che đỡ cho Quỳnh-nhai.

    Sách Minh-sử chép : Từ Quỳnh-nhai đi thuyền thuận gió một ngày một đêm thì đến nước Chiêm-thành.

    Căn-cứ vào đấy thì Thuận-hóa, Quảng-nam và Chiêm-thành là quá-cung làm con hổ viễn-án, còn Hải-nam là một minh-đường [3] lớn ở phía ngoài quốc-đô. Mạch-lạc hùng-vĩ xa rộng, hình thế bao-lá dáng là vương kinh thiên phủ.

    Sách Thành trai tạp ký chép : Quan Công-tào ở Long-biên là Tả-phi đã từng hóa thành cọp trong mấy tháng rồi trở về làm chức lại nữa.

    Sách Thông-giám chép : Năm đầu niên-hiệu Kiền-nguyên (758) vua Đường Túc-tông đổi chức An-nam Kinh-lược-sứ ra chức Tiết-độ-sứ nhiệm-lãnh 12 châu : Giao-châu, Lục-châu, Phong-châu, Ái-châu, Hoan-châu, Trường-châu, Phúc-châu, Lộc-châu, Chi-châu, Vũ-châu, Diễn-châu và An-châu.

    Nước ta làm Tiết-trấn [33a] bắt đầu từ đấy.

    Đến giữa niên-hiệu Hàm-thông (860-873) đời vua Đường Ý-tông mới bắt đầu kiến-lập Tĩnh-hải-quân.

    Sách Thông-giám chép : Tháng giêng niên-hiệu Thiên-hựu thứ 3 (906) Đường Chiêu-tuyên-đế gia thăng Tĩnh-hải Tiết-độ-sứ Khúc-Thừa-Dụ lên chức Đồng-binh chương-sự [4].

    Thừa-Dụ là Khúc tiên-chủ. Khúc-Hạo, Khúc-Thừa-Mỹ là dòng-dõi của Khúc-Thừa-Dụ. Điều này không có chép ở chính sử nước ta.

    Địa-đồ nước ta phía đông-nam đến tận biển, phía đông đến châu Khâm châu Liêm, phía bắc tiếp liền với Quảng-tây, phía tây tiếp liền với Vân-nam, phía tây-bắc vượt đến ranh-giới Vân-nam, Quảng-đông và Quảng-tây, phía tây-nam kế tiếp nước Ai-lao, phía nam cắt phân nửa nước Chiêm-thành.

    Hình-thế tiếp liền sông biển, nắm lấy núi sông, đáng gọi là một nước rào giậu vững-vàng ở bốn bên.

    Kinh-đô đặt ở Long-biên giữa khoảng hai phủ Thường-tín và Quốc-oai. Phía tây-bắc chiếm dọc theo núi. Phía đông-nam có sông to ngăn trở, thật là một nơi đô-hội đủ cả về đường thủy và về đường bộ.

    Phía tây thì có những phủ Lâm-thao, Đoan-hùng, Đà-dương và hai xứ Tuyên-quang, Hưng-hóa.

    Phía chính bắc [33b] là một xứ Thái-nguyên sản-xuất ngọc, đá quý, vàng, bạc, đồng, thiếc, chì, sắt, tre, bỗ, củi, than, cung-cấp đủ nhu-cầu cho công và tư, lại có trà, thóc, giấy, dâu, mè, cam, quít, các sản-vật thổ-nghi như khoai, đậu, củ mài, khoai môn, lúa, bắp, dưới nước có nhiều cá ba-ba (cua đinh).

    Phía tây có phủ Ứng-thiên, Quảng-oai.

    Phía bắc có phủ Thuận-an, Từ-sơn.

    Phía đông có hai phủ Hồng (Thượng Hồng và Hạ Hồng) và Sách (Nam-sách), đồng ruộng màu-mỡ.

    Phía nam có những phủ Tiên-hưng, Khoái-châu, Lỵ-nhân, Thiên-trường, Kiến-xương, Thái-bình, Nghĩa-hưng, rất thích-nghi với lúa chiêm, đất-đai màu-mỡ hàng ngàn dặm, ruộng bằng muôn khoảnh, một năm hai mùa, mỗi mẫu thu lợi được hơn 200 quan. Nhân-dân ở bờ biển no đủ về cá gạo muối, đời sống rất tốt đẹp, lại có mối lợi về cói lác trai sò tốt và ngon. Đó là chưa kể vào món thuế ao đầm sông rạch. Ở phía đông có Kinh-môn phủ và lộ An-quảng lại nhiều cá muối cây gỗ châu ngọc đồi-mồi, là nời thuyển biển [34a] tụ tập, hàng-hóa ngoại-quốc lưu-thông ở các cửa quan và chợ-búa được tiện lợi đủ thay thế cho thuế-má.

    Ở phía bắc có phủ Lạng-giang và xứ Lạng-sơn có nhiều lò nung đất, ruộng đất cũng phong phú.

    Ở phía tây-nam có hai trấn to là Thanh-hóa, Nghệ-an sản-xuất những loại cây to như gỗ lim, gỗ sến, gỗ táu, quế, trầm-hương, đàn-hương, cau, sừng tây, da tây, sừng voi, da voi, vàng, bạc, đồng, sắt.

    Phía tây Nghệ-an ăn thông với các nước Bồn-man, Lão-qua, Cao-miên. Trâu bò được chuyển đến bán cho ta.

    Than ôi ! Dưới thời nhà Hán nhà Đường người Tàu sang làm quan ở đất này được mấy người là quan-lại thanh-liêm?

    Chính-trị hà-khắc còn dữ hơn cọp. Thuế-má tàn bạo còn độc hơn rắn dữ, thì dân làm sao kham nổi?

    Trời sinh bậc vua chúa tự lập một nước, theo phong-tục mà trị dân để cùng sống được an-nhàn rộng-rãi, giản-dị, sợ Trời, thờ nước lớn, cung kính giữ lễ thường, yên dứt chiến-tranh, Nam Bắc (nước ta và nước Tàu) vô sự, cũng là việc hạnh-phúc ở một phương.

    [34b] Từ-Minh-Thiên đời Nguyên làm chức Phó-sứ trong phái-bộ Lý-Tư-Diễn sang nước ta có viết một quyển sách Thiên triều Nam hành ký có thuật việc vua nhà Trần đời trước dâng sản-vật địa-phương với tờ biểu và tờ chiếu-thư của Nguyên Thế-tổ ban cho vua nhà Trần.

    Sách ấy chép : Ngày 25 tháng 11 niên-hiệu Chí-nguyên thứ 25 (1288) đời Nguyên Thế-tổ, sứ-bộ nhà Nguyên rời khỏi Yên-kinh. Ngày 28 tháng 2 niên-hiệu Chí-nguyên thứ 26 (1286) sứ-bộ nhà Nguyên đến nước ta (thời-gian hành-trình độ 3 tháng 3 ngày). Tôi tưởng là sứ-bộ vừa đi xe vừa cỡi ngựa.

    Quốc-vương nhà Trần tiếp-kiến sứ-giả với lễ ý chất-phác và thành thật.

    Sau công-quán dành cho sứ-giả có hai lớp nhà. Vua nhà Trần do cửa sau vào trong ấy, mở cửa giữa mời sứ-giả đến. Vua đứng chắp tay xá chào, hỏi thăm long-thể vua Nguyên cùng an-ủi sứ-giả đi đường được yên-ổn mà thôi.

    Lễ tuyên-chiếu ở điện Tập-hiền cũng giản-lược. Vua đứng trước vái hai vái khi dâng hương, rồi vái hai vái khi đọc tờ chiếu.

    Người dự nghe là những quan hầu-hạ ở hai bên của Vua, chớ không có triệu-tập bá-quan tăng-giới đạo-sĩ và kỳ-lão.

    [35a] Lễ xong thì thết yến đãi sứ-giả.

    Ngày hôm sau mời sứ-giả xem bản sơ cảo của tờ biểu.

    Ngày kế lại mời sứ-giả xem Vạn Phật, tình ý và văn-chương thù-tạc rất chu-đáo.

    Còn bản danh-mục ghi tên những sản-vật địa-phương toàn là những món quý báu khó được ở Trung-quốc.




    [1] Thông-giám, tức Tư-trị thông-giám.

    [2] Đường Cao-tổ họ Lý, tên Uyên.

    [3] Minh-đường, chỗ nước chung tụ ở trước huyệt mộ theo nhà phong thủy.

    [4] Đồng-binh chương-sự là chức Tể-tướng đời nhà Đường.
  • Đang tải...