11.23 - Linh_tt (type done)

14/9/15
11.23 - Linh_tt (type done)
  • Dưới thời nhà Trần thuyền buôn thông-thương với các nước. Vóc đoạn của Âu-tây, vài màu chân châu, lông chim trả, kim-la ở Ja-va, gấm man, chim ưng, cá sấu, tê, voi, trầm-hương, đàn-hương, không gì là không có, đều là những món đời sau ít có.

    Bài Kinh-khê sớ của người nhà Minh chép : Chợ nào ăn đến bến nước thì người xưa gọi là bộ [1].

    Nước Nam ta có nhiều tên như thế, như : Đông-bộ, Đại-thông-bộ.

    Đầu niên-hiệu Kiền-long (1736) đời vua Cao-tông nhà Thanh, có người Tàu hay thơ đáp thuyền buôn đến trấn Sơn-nam làm bài Nhĩ-hà-xuân [35b] du phú (bài phú chơi xuân trên sông Nhĩ) và vịnh tám cảnh ở kính-đô nước An-nam.

    Thơ ấy được chép ra như sau :

    一. 御樓觀清

    合璧雙輝。。。羽旄

    海天空闊御樓高

    三層朱戶開金鎖

    八面韶光映錦袍


    花柳含燈連。。。

    三川乘氣著人豪

    黃龍朱雀貔貅外

    鶴唳風聲演怒濤


    1. Ngự lâu quan đào.

    Hợp bích song huy [2] diệu vũ mao.

    Hải thiên không thoát ngự lâu cao.

    Tam tằng chu hộ khai kim-tỏa.

    Bát diện thiều quang ánh cẩm-bào.

    Hoa liễu hàm yên liên khuyết huýnh,

    Sơn xuyên thừa khí trứ nhân hào.

    Hoàng long chu tước tỳ hưu ngoại.

    Hạc lệ phong thanh diễn nộ đào.


    Dịch nghĩa

    1. Lầu ngự xem sóng.

    1. Hai vừng nhật nguyệt soi chiếu cờ mao.

    2. Ngôi lầu ngự cao vút bên trời không biển rộng.

    3. Ba từng cửa son, khóa vàng đã mở.

    4. Tám mặt ánh xuân giọi chiếu áo cẩm-bào của vua.

    5. Bông hoa và tơ liễu đượm khói sương liền với cung khuyết xa xa.

    6. Núi sông bốc linh khí làm tỏ rạng bậc anh hào.

    7. Ngoài quân-sĩ và chiến thuyền có vẽ hình rồng vàng và chim sẻ đỏ.

    8. Có tiếng hạc kêu gió thét và cảnh ba đào diễn ra dữ dội.


    Dịch thơ

    Cờ mao nhật nguyệt chiếu soi,

    Ngự lâu cao vút biển trời rộng không.

    Khóa vàng cửa đỏ mở xong,

    Cẩm-bào rạng chiếu ánh hồng tám phương.

    Liễu hoa cung khuyết khói vương,

    Non sông linh khí rạng gương anh-hùng.

    Quân binh chu tước hoàng long,

    Hạc kêu gió thét đùng đùng sóng vang.


    二看山夕照

    細柳餘輝散落霞

    滿城樹色半歸鴉

    樓臺幾処。。。瓦

    丘。。。千重。。。兔。。

    。。市初忙沽酒店

    養生終老釣漁家

    看山寺北池塘晚

    春草田。。岸岸蛙


    II. Khán-sơn tịch chiếu.


    Tế liễu dư huy tán lạc hà,

    Mãn thành thụ sắc bán quy nha.

    [36a] Lâu-đài kỷ xứ kinh uyên ngõa,

    Khâu hác thiên trùng phú Thố-ta.

    Quyền thị sơ mang cô tửu điếm,

    Dưỡng sinh chung lão điếu ngư gia.

    Khán-sơn tự bắc trì đường vãn,

    Xuân thảo điền trù ngạn ngạn oa.


    Dịch nghĩa


    II. Nắng chiều ở núi Khán-sơn.

    1. Ánh nắng chiều còn thừa lại chiếu lên cành liễu mành, còn mây hồng thì tan mất.

    2. Khắp thành chỉ thấy màu cây xanh, đàn quạ đang bay về ở nửa chừng.

    3. Mấy chỗ ở trên lâu-đài kinh động ngói uyên-ương [3].

    4. Gò đống ao rãnh ngàn trùng vang tiếng hát bài thơ Thố-ta [4].

    5. Chợ tan bắt đầu bận rộn nhà hàng rượu.

    6. Nhà câu cá lặng-lẽ sống an nhàn để doanh dưỡng kiếp sống cho trọn tuổi già.

    7. Chỗ bờ ao phía bắc ngôi chùa trên núi Khán-sơn lúc về chiều,

    8. Mọi bờ ruộng đầy cỏ mùa xuân đều đầy ếch nhái.


    Dịch thơ

    Ráng tan bóng xế liễu mành,

    Quạ về nửa chặng, khắp thành màu cây.

    Ngói uyên kinh động lâu-đài,

    Thố-ta nghe khắp rãnh đồi hát vang.

    Chợ tan bận rộn tửu hàng,

    Dưỡng sinh ngư-phủ sống an tuổi già.

    Khán-sơn ao nước chiều tà,

    Cỏ xuân bờ ruộng lân-la nhái bầy.



    三春池問津

    竹樹煙雲覆草亭

    滿江春色向人青

    春風細拂桃花浪

    野岸初分白鷺汀

    游倦不同行客懶

    醉迷多在扁舟醒

    津頭漫問乘波者

    指點清池補水經


    III. Thanh-trì vấn tân.


    Trúc thụ yên vân phú thảo đình,

    Mãn giang xuấn ắc hướng nhân thanh.

    Xuân phong tế phất đào hoa lãng,

    Dã ngạn sơ phân bạch lộ thinh.

    Du quyện bất đồng hành khách lãn,

    Túy mê đa tại biển chu tinh,

    Tân đầu mạn vãn thừa ba giả,

    Chỉ điểm Thanh-trì bồ Thủy-kinh.


    Dịch nghĩa


    III. Hỏi tìm bến Thanh-trì [5].


    1. Tre cây khói mây phủ lấy ngôi đình lợp cỏ tranh.

    2. Sắc xuân đầy sóng hướng màu xanh biếc vào người.

    3. Gió xuân phất nhẹ, sóng nước đầy hoa đào,

    4. Đồng nội vừa phân rõ bờ nước đầy cò trắng.

    5. Hành-khách biếng nhác với nỗi đi chơi mỏi chân không đồng nhau.

    6. Say sưa mê mỏi rồi thì phần nhiều lại tỉnh ở trong thuyền con.

    7. Đầu bến hỏi khắp những ai đi trên sóng nước,

    8. Chỉ bảo bến Thanh-trì để bổ-túc bộ Thủy-kinh [6].


    Dịch thơ


    Trúc mây cây phủ đình tranh,

    Đầy sông xuân sắc, giọi xanh hướng người.

    Gió xuân gợn sóng đào rơi,

    Bờ đồng cò đậu trắng-ngời phân minh.

    Mỏi chân biếng nhác bộ hành.

    Mê rồi lại tỉnh đặt mình thuyền xuôi.

    Hỏi thăm khách lướt sóng nhồi,

    Thủy-kinh bổ túc, chỉ nơi Thanh-trì.



    四 菩提遠脁

    遠脁菩提驛路東

    往來生齒自無窮

    鶏鳴殘月催行客

    雲捲長途見塞翁

    竹暗淡揺村落雨

    樹高低過廟前風

    荒營嵗久迷蓮卉

    誰識當年野戰功


    IV. Bồ-đề viễn thiếu.

    [36b] Viễn thiếu Bồ-đề dịch lộ đông.

    Vãng lai sinh xỉ tự vô cùng.

    Kê minh toàn nguyệt thôi hành khách,

    Vân quyền trường đồ kiến tái ông. [7]

    Trúc ám đạm dao thôn lạc vũ,

    Thu can đê quá miếu tiền phong.

    Hoang doanh tuế cửu mê bồng hủy,

    Thùy thức đương niên dã chiến công /


    Dịch nghĩa


    IV. Bồ-đề xa trông.

    1. Xa nom đường trạm Bồ-đề chạy về hướng đông,

    2. Người ta qua qua lại lại không dứt để lo việc sinh nhai.

    3. Gà gáy trăng tàn thôi thúc hành khách.

    4. Mây cuốn đường dài gặp khách đi ở cửa ải.

    5. Bụi tre ảm-đạm tối-tăm lay động lúc mưa rơi ở trong xóm,

    6. Cây ngọn cao ngọn thấp khi gió thổi qua trước miếu.

    7. Doanh trại bỏ hoang đã lâu năm, cỏ bồng cỏ dại mọc tối-tăm um-tùm.

    8. Thì ai còn biết chiến công đánh giặc ở đồng nội chỗ Bồ-đề của vua Lê Thái-tổ nữa ?


    Dịch thơ



    Bồ-đề đường trạm xa trông,

    Người người qua lại không cùng sinh nhai.

    Trăng tàn gà gáy dục người,

    Gặp người quan ải đường dài cuốn mây.

    Xóm mưa tăm-tối tre lay,

    Thấp cao cây động miếu ngoài gió tung.

    Doanh hoang che khắp cỏ hồng,

    Còn ai biết đến chiến công bấy giờ ?


    五報天曉鐘


    塔。。鯨吼噉區

    萬象煙涵混沌刳

    樹色浮沉宮殿曉

    水光上下海天迂

    。。蘢花雨消銀漏

    山映粧樓喚鷓鴣

    誰是無憂高枕臥

    肯忘楚響醒迷途


    V. Báo thiên hiểu chung.


    Tháp xanh kinh hống hám danh khu,

    Vạn tượng yên hàm hỗn độn khô.

    Thụ sắc phù trầm cung điện hiểu,

    Thủy quang thượng hạ hải thiên vu.




    [1] Do đó, chữ búa trong danh-từ chợ-búa vốn do chữ bộ chuyển ra.

    [2] Hợp-bích tức Nhật nguyệt như hợp bích là mặt trời và mặt trăng như hai ngọc bích hợp lại.

    [3] Uyên ngõa tức uyên ương ngõa là loại ngói lợp trên mái nhà có miếng úp miếng ngửa hiệp vào nhau như đôi chim uyên-ương, con trống con mái không rời nhau.

    [4] Thố-ta cũng đọc là thố-tư (đánh bẫy thỏ): tên một bài thơ thuộc phần Chu-nam trong kinh Thi, đại ý nói nhà Chu đang hồi thịnh-trị nhiều nhân-tài, người đánh bẫy thỏ cũng có tài dùng vào đại sự.

    [5] Thanh-trì, tên đất ở tỉnh Hà-đông, phụ-cận Hà-nội.

    [6] Thủy-kinh, tên sách do Tang-Khâm đời Hán soạn ra, được Linh-Đạo-Nguyên đời Bắc-Ngụy chú thích, biên chép những con sông ở Trung-quốc về đời cổ, cũng có ghi những sông lớn ở Việt-nam.

    [7] Tái ông là người đi ở cửa quan ải, chớ không phải sự tích Tái ông thất mã.
  • Đang tải...