11.24 - Nhapcua (type done)

13/8/15
11.24 - Nhapcua (type done)
  • Liêm lung[1] hoa vũ tiêu ngân lậu,

    Sơn ánh trang lâu hoán chá-cô.

    [37a] Thùy thị vô ưu cao chầm ngọa,

    Khẳng vong phạm hưởng tỉnh mê đồ?

    Dịch nghĩa

    V. Chuông sớm tháp Báo-thiên.

    1. Ham khu-vực nổi tiếng về thắng cảnh có tháp cao chống trời, và tiếng chuông rền,

    2. Khói mây muôn hinh tượng hỗn-độn được phân-minh (khi trời sáng).

    3. Trong màu cây cỏ, cung điện sáng tỏ, cái nhô lên cái thấp xuống.

    4. Trong ánh nước, trời ở trên biển ở dưới thấy xa-xôi.

    5. Qua bức rèm thấy thấp-thoáng hoa rơi khi đồng-hồ bằng bạc đã cạn nước.

    6. Sắc núi giọi vào lầu trang điểm, có chim chá-cô (gà-gô) gọi nhau.

    7. Ai là người không ưu phiền nằm gối đầu lên cao,

    8. Chịu quên tiếng chuông của nhà Phật mà thức tỉnh trên con đường lầm-lạc?

    Dịch thơ

    Tháp cao chuông giộng danh khu,

    Muôn hình hỗn-độn khói mù phân khai.

    Sắc cây cung điện sáng soi,

    Dưới trên ánh nước biển trời mờ xa.

    Cách rèm lậu cạn mưa hoa,

    Lầu trang núi giọi hòa gà-gô.

    Nào ai yên giấc không lo,

    Chịu quên chuông phật mê đồ tỉnh ra?

    []

    VI. Bạch-mã[2] sấn thị.

    Nghị tụ hòa phong noãn thị trần.

    Phân phân vũ tụ táp kiên xuân.

    Chu xa tịnh chí đam trường nhật,

    Thương mãi thù suy tập chúng luân.

    Miếu đề phi lôi đa ám thất,

    Lô tiền hạo khí hữu đường thần.

    Hoàng hôn bất tỷ thương lương địa.

    Hộ hộ phân đăng đấu tử tân

    Dịch nghĩa

    VI. Đến chợ Bạch-mã.

    1. Người ta đông-đảo (như bầy kiến tụ-tập) và gió hòa làm bụi cát dấy lên khiến buổi chợ thấy ấm áp.

    2. Dập-dìu người ta múa ống tay áo vòng vai nhau dạo chợ xuân.

    3. Thuyền xe cùng lướt đến vui rộn suốt ngày dài.

    4. Người ta buôn bán xô xẩy thôi thúc nhau, xe-cộ tụ-tập lại đông-đảo.

    5. Sau miếu sấm bay (?) có nhiều nhà cửa tối-tăm.

    6. Trước lò hương hạo khí xông lên, có vị thần hoang-đường (?).

    7. Hoàng-hôn ở đấy không sánh với nơi lạnh-lẽo.

    8. Nhà nhà đều lên đèn để khách uống rượu đua chén với nhau.

    Dịch thơ

    Gió hòa bụi chợ người đầy,

    Ống tay phất-phới vòng vai xuân hòa.

    Ngày dài vui rộn thuyền xa,

    Bán buôn xô đẩy, xe đà tụ vây.

    Sau đền nhà tối sấm bay,

    Đường thần bạo khí ở ngay trước lò.

    Hoàng-hôn chốn lạnh chẳng so,

    Nhà nhà đèn lửa, khách lo tạc-thù.

    []

    VII. Nhĩ-hà quy phàm.

    Vạn cồ y hy Nhĩ thủy vi,

    Triều bình phong thượng bố hàm quy.

    [37b] Bất thù ngọc lũy khai thiên tạm,

    Khước tác kim thành cố đế kỳ.

    Nam-quốc văn-chương chưng đầu bích.

    Tây-viên thi tửu phún chu ky.

    Lưu phong dư vận thanh bình tế,

    Do kiến hoàng long bạch trú phi.

    Dịch nghĩa

    VII. Cánh buồm về trên sông Nhĩ.

    1. Sông Nhĩ-hà thâm-u phảng-phất như muôn thuở xưa kia,

    2. Trên thủy-triều bằng-phẳng gió lên cánh buồm vải trở về.

    3. Không khác gì lũy ngọc, hào nước được mở ra làm chướng-ngại-vật thiên-nhiên,

    4. Lại làm bức thành vàng mà củng-cố kinh-đô của vua.

    5. Văn-chương nước Nam quý báu như viên ngọc-bích to bằng cái đấu,

    6. Thơ rượu ở Tây-viên thì nhả ngọc phun châu.

    7. Trong buổi thanh-bình phong vận đẹp-đẽ còn lưu truyền,

    8. Còn thấy con rồng vàng bay giữa ban ngày khi vua Lý Thái-tổ dời đô về Thăng-long.

    Dịch thơ

    Thâm-u muôn thuở Nhĩ-hà,

    Nước bằng gió dậy thuyền đà về xuôi.

    Giống như lũy ngọc ao trời,

    Thành vàng che chở khắp nơi đế kỳ.

    Việt-văn ngọc bích sánh bì,

    Vườn tây nhả ngọc tửu thi tài tình.

    Còn truyền thanh vận thái-bình,

    Ban ngày bay thấy rõ hình hoàng long.

    []

    VIII. Lãng-bạc ngư ca.

    Nhật trạo ngư ca tiếu vãn phong.

    Thương-lang tùy phận tự tây đông.

    Tương vong giáp tý câu hoàng-lịch,

    Mỗi sự ngư hà thức đế công.

    Chưởng thượng tửu bôi huyền bạch nghị,

    Hồ biên thi tứ tiễn minh hồng.

    Lư hoa địch tụ hoành cung khuyết.

    Xuy đoạn nhàn vân hệ đoản bồng.

    Dịch nghĩa

    VIII. Bài ca của ngư-ông ở hồ Lãng-bạc.

    1. Đẩy một chèo, người đánh cá hát ngân vang trong gió chiều.

    2. Trên sông Thương-lang tùy theo phận mình mà kẻ sang đông người sang tây.

    3. Họ giữ sách lịch của vua mà quên cả ngày tháng.

    4. Mỗi khi lo việc bắt cá tôm thì biết đến công ơn của vua.

    5. Chén rượu trên tay có bọt trắng[3] sùi lên,

    6. Ý tứ làm thơ ở bên bình rượu là thích lánh đời như chim hồng bay bỗng vút lên cao[4].

    7. Trong vùng bông lau, tiếng sáo thổi vọng lên ngang cung khuyết của vua,

    8. Thổi tan đám mây lờ-lững vướng mắc theo cánh buồm ngắn.

    Dịch thơ

    Ngư-ông hát vọng gió chiều,

    Thương-lang tùy phận dập-dìu đông tây.

    Lịch vua quên cả tháng ngày,

    Cá tôm được bắt lòng hoài đế công.

    Trên tay chén rượu bọt nồng,

    Bên hồ ý luyến cánh hồng vút cao.

    Ngang cung tiếng địch bên lau,

    Thổi tan mây lững mắc vào buồm con.

    [38a] Lạc khoản[5] đề: <<Mân Ngọc-Dung, Ngụy-Tiếp, Xuyên-chu tbị cảo>>. (Bản cảo của người đất Mân tức tỉnh Phúc-kiến tên là Ngụy-Tiếp, hiệu là Ngọc-Dung, tự là Xuyên-chu thị).

    Tỉnh Quảng-tây của Trung-quốc có nhiều khe động, các dân-tộc thiểu-số Mán Lèo ở lẫn-lộn, người Dao người Nùng thỉnh-thoảng có xuất-hiện.

    Dân thổ-châu ở ven theo một dãy biên-giới phía tây-bắc tiếp liền với nước ta có những phong-tục không khác gì với của vùng Lạng-sơn Cao-bằng, còn tiếng nói của họ cũng hơi giống với của người vùng Lạng-sơn Cao-bằng.

    Nước ta ở biên-giới phía bắc tiếp liền với nội-địa của Trung-quốc có ba cửa ải:

    1. Ở khoảng trên có Thủy-khẩu quan.

    2. Ở khoảng giữa có Bình-tây quan.

    3. Ở khoảng dưới có Trấn-nam quan.

    Những nơi này đều là những địa-điểm xung-yếu.

    Tôi vâng mệnh đi sứ sang Trung-quốc được những văn-tập:

    Tu Nam-quan ký (Bài ký về việc sửa cửa Nam-quan) của quan Tuần-phủ Lý-Công-Bạt, Tuần biên ký (Bài ký về việc tuần-sát biên-giới) của quan Án-sát Nhạc-Mục, liền biên chép để nhận thấy sự dụng tâm của các bề-tôi ở biên-thùy của triều-đình Trung-quốc là như thế, thật hâm-mộ.

    [38b] Bài ký Trùng-tu Trấn-nam quan.

    Theo sách Chu-lễ, quan Chưởng-cố coi giữ việc sửa-sang thành quách hào ao, trồng cây ở chỗ bờ nước cho được kiên-cố. Các quận thủ phải theo đúng pháp-lệnh.

    Lại có quan Tư-hiểm coi giữ bản-đồ của chin châu để hiểu biết đầy-đủ những chỗ hiểm-trở về núi rừng sông đầm mà đặt đường lộ.

    Đặt ra ngũ câu (năm ngòi rãnh), ngũ đồ (năm đường lộ) trong nước và trồng cây-cối để làm thế ngăn-trở cho vững-vàng. Những chỗ xung-yếu ấy đều có người coi giữ.

    Cái lễ xếp đặt những chỗ hiểm-yếu quan-trọng là như thế.

    Tỉnh Quảng-tây ở xa về cõi phương Nam, núi tre rậm, các dân-tộc người Dao người Đồng tụ-tập, chỗ ấy hiểm-trở mà một cửa ải Trấn-nam quan, phía nam giáp nước Giao-chỉ, đáng gọi là một địa-điểm hiểm-yếu.

    Cột đồng của Mã Tân-tức[6] ở tại đấy.

    Đất ấy riêng một mình bằng-phẳng rộng-rãi không có núi cao rừng sâu hiểm-trở. Đất ấy chỉ cậy vào cửa quan ải mà thôi.

    Uy-phúc của quốc-gia rộng-rãi lớn-lao, ở khắp đất-đai [39a] đều là bề tôi của Thiên-tử Trung-quốc, các dân tộc khắp bốn


    [1] Lung tức lung lung là thấp-thoáng.

    [2] Bạch-mã, tên một ngôi đền thờ thần Bạch-mã ở phố Hàng Buồm Hà-nội. Ngày xưa ở đấy có chợ, gọi là chợ Bạch-mã.

    [3] Bạch nghị. Nghị tức phủ nghị là bọt nổi lên mặt rượu. Bạch nghị là bọt trắng.

    [4] Minh hồng, chim hồng bay vút cao, ngụ ý kẻ-sĩ lánh đời.

    [5] Lạc-khoản, phần đề tên họ ngày tháng năm ở bức tranh hay bài thơ.

    [6] Mã Tân-tức tức Mã-Viện. Mã-Viện sau khi dẹp Ngỗi-Ngao, rợ Khương, nước Giao-chỉ được phong tước Tân-tức hầu.
  • Đang tải...