11.26 - Juicy (type done)

14/9/15
11.26 - Juicy (type done)
  • VÂN ĐÀI LOẠI NGỮ QUYỂN 3

    nhà Hán nhà Ngô đáng nghi là do các nhà nho đời sau đã lén [44a] lấy mượn, thật không phải chép đúng sự thật.

    Đời An Dương Vương, quân nhà Tần sang đánh chiếm lấy đất[1] của Nam Việt đặt ra Quận Quế Lâm, Nam Hải và Tượng quận (Quế Lâm nay là Quảng Tây, Nam Hải nay là Quảng Đông, Tượng quận nay là nước ta.)

    Việt Vũ Đế (Triệu Đà) lúc đầu làm quan lịnh ở Long Xuyên, thay quyền quan úy ở Nam Hải, nhân việc gây hấn của Thắng và Quảng, bèn khởi binh giết quan lại nhà Tần, gồm lấy Quế Lâm Tượng quận, đóng đô ở Phiên ngung.

    Triệu Vũ Đế lại phát binh đánh An Dương Vương và thắng được, rồi lấy vũ uy quân đội và của cải thu phục vỗ về đất Ân đất Việt. Đất Mân Lạc cũng phụ thuộc vào.

    Lãnh vực chiếm cứ từ đông sang tây rộng hơn muôn dặm, từ nam đến bắc xa mấy ngàn dặm, xưng đế ngang hàng với Trung quốc.

    Lúc bấy giờ việc chép sử thiếu sót, tên các châu quận không tra cứu vào đâu được.

    Đến lúc Vệ Dương Vương là Kiến Đế bị Hán Vũ đế bắt, ba viên quận thú ở Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam đều sai sứ giả đem hộ tịch đón tướng nhà Hán [44b] là Lộ Bác Đức xin đầu hàng.

    Quan giám ở Quế Ông là Cư Ông cáo dụ 40 vạn dân (400.000) Âu Lạc đến xin đầu hàng nhà Hán.

    Nhà Hán bèn đặt ra chín quận, đặt chức quan chia ra mà cai trị.

    Từ Trưng Vương đến nhà Đinh, nhà Lê, nhà Lý, nhà Trần tuy có chia vạch bờ cõi tự củng cố lấy quốc gia, nhưng chỉ giữ lấy đất Giao Chỉ trở về nam mà thôi chớ không khôi phục được lãnh vực xưa của thời Triệu Vũ đế.

    Hán Vũ đế đặt ra chín quận:

    1. Nam-hải

    2. Thương-ngô

    3. Uất-lâm

    4. Hợp-phố

    5. Giao-chỉ

    6. Cửu-chân

    7. Nhật-nam

    8. Chu-nhai

    9. Đam-nhĩ

    (Về sau nước Việt ta chỉ gồm 3 quận là Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam. Còn 6 quận kia đều bị sáp nhập vào Trung Quốc, rốt cuộc cũng không khôi phục được.)

    Vào đầu đời Hán Quang Vũ, Trưng Vương dấy binh tự lập làm vua được nhân dân ở Cửu Chân, Nhật Nam và Hợp Phố đều hưởng ứng, lấy lại 65 thành, đóng đô ở My linh.

    Sau ba năm Trưng Vương bị thua, đất nước bị sáp nhập vào nhà Hán.

    Sách Đông Hán chí chép: Bộ Giao Châu thống lĩnh 7 quận:

    1. Nam-hải có 7 thành.

    2. Thương-ngô 11 thành.

    3. Uất-lâm 11 thành.

    4. Hợp-phố 5 thành.

    [45a] Nay những đất này đều thuộc về cảnh vực của Trung Quốc.

    5. Giao-chỉ có 12 thành. (Sách Hậu hán ghi chú: tức là nước của An Dương Vương):

    1. Long-biên.

    2. Lõa-lâu.

    3. An-định.

    4. Câu-lậu (sách Giao Châu ký chép có loài tiềm thủy ngưu, một loài trâu lặn dưới nước, lên bờ cụng húc nhau đến mệt mới bỏ đi.)

    5. My-linh.

    6. Khúc-dương.

    7. Bắc-đái.

    8. Kê-từ.

    9. Tây-tử.

    10. Chu-diên.

    11. Phông-khê.

    12. Vọng-hải.


    6. Cửu-chân có 5 thành:

    1. Tư-phố.

    2. Cư-phong.

    3. Hàm-hoan.

    4. Vô-thiếc.

    5. Vô-biên.

    7. Nhật-nam có 5 thành:

    1. Tây-quyển.

    2. Chu-ngô (nhân dân ở đây tựa theo bờ biển mà sống).

    3. Lư-dung (có bến lấy vàng).

    4. Thượng-lâm.

    5. Tỷ-ảnh.

    Ba quận này (Giao-chỉ, Cửu-chân và Nhật-nam) đều là lãnh vực nước Việt ta ngày nay.

    Đời xa xưa nói những huyện thành đã mất không biết ở chỗ nào. Chỉ có Long-biên là chỗ châu trị của Giao-châu dưới thời nhà Hán, tức Đô-thành ngày nay, còn Phong-châu là ở đất An-lãng.

    Trong niên hiệu Kiến-an đời thứ 8 (203), Trương-Tân làm Thứ sử Giao-châu, Sĩ-vương làm Thái-thú xin lập làm châu.

    Trong niên hiệu Kiến-an thứ 15 (210) vua Hiến-đế nhà Đông-Hán xuống chiếu trao cho Trương-Tân chức Giao-châu mục dời [45b] trấn về Phiên-ngung, cho ban nhạc để uy quyền trấn nhiệm được trọng hậu.

    Về sau Trương-Tân bị người Man Lão giết.

    Sĩ-vương hoàn toàn giữ Giao-châu, đóng đô My-linh tức thành Long-biên.

    Đến khi Ngô Tôn-Quyền sai Chu-Chất làm Thứ-sử, Sĩ-vương cho em tuân theo mệnh lệnh.

    Sĩ-vương chết.

    Trong niên hiệu Hoàng-vũ thứ 5 (226), Ngô-Quyền cho là châu thành rộng rãi bèn cắt ba quận Nam-hải, Uất-lâm, Thương-ngô về phía bắc Hợp-phố lập ra Quảng-châu, đặt trị sở ở Phiên-ngung, lấy bốn quận Giao-chỉ, Nhật-nam, Cửu-chân, Hợp-phố làm làm Giao-châu, đặt trị sở ở Long-biên.

    Viện phân tách Giao-châu và Quảng-châu bắt đầu từ đấy.

    Tôn-Hạo lại đặt ra ba quận Vũ-bình, Tân-xương và Cửu-đức đều cho thuộc vào Giao-châu.

    Nhà Tấn dẹp nhà Ngô, cũng noi theo như vậy, lập ra bộ Giao-châu. Giao-châu thống lĩnh 7 quận, 54 huyện:

    Bảy quận ấy là:

    I. Hợp-phố , nay thuộc Quảng-châu, thống lãnh 6 huyện:

    1. Hợp-phố.

    2. Nam-bình.

    3. Đãng-xương.

    4. Từ-văn.

    5. Độc-chất.

    6. Chu-quan.

    II. Giao-chỉ thống lãnh 14 [46a] huyện:

    1. Long-biên.

    2. Cậu-lậu.

    3. Vọng-hải.

    4. Lõa-lâu.

    5. Tây-vu.

    6. Vũ-ninh.

    7. Chu-diên (nay là An-lãng).

    8. Khúc-dương.

    9. Giao-hưng.

    10. Bắc-đái.

    11. Kê-từ.

    12. An-định.

    13. Nam-định.

    14. Hải-bình.

    III. Tân-xương thống lãnh 6 huyện:

    1. My-linh.

    2. Gia-ninh.

    3. Ngô-định.

    4. Phong-sơn.

    5. Lâm-tây.

    6. Tây-đạo.

    IV. Vũ-bình thống lãnh 7 huyện:

    1. Vũ-bình.

    2. Vũ-hưng.

    3. Tiến-sơn.

    4. Căn-ninh.

    5. An-vũ.

    - Đổi tên 3 huyện:

    o Dương-toại,

    o Phù-linh,

    o Khúc-tư,

    ở quận Cửu-đức ra huyện:

    o Việt-thường,

    o Tây-an.

    - Tăng quận Nhật-nam, thêm 2 huyện là:

    o Thọ-lãnh,

    o Vô-lao.

    - Lại lập thêm 3 quận là:

    1. Quận Tống-bình thống lãnh 3 huyện:

    o Xương-hưng,

    o Nghĩa-hoài,

    o Tuy-ninh.

    2. Quận Tống-thọ tức cắt đất Việt-châu cho thuộc vào.

    3. Quận Nghĩa-xương không có thống lãnh quận nào cả.

    Từ đó những triều khác như đời nhà Lương, nhà Trần có thay đổi tăng giảm chia cắt không nhất trí.

    Trong niên hiệu Vũ-đức thứ 5 (622) Đường Cao-tổ đặt ra An-nam Đô-hộ phủ. Danh xưng An-nam bắt đầu từ đấy.

    An-nam Đô-hộ phủ thống lãnh 17 châu phủ:

    1. Giao-châu thống lãnh 8 huyện:

    1. Tống-bình.

    2. Nam-định.

    3. Thái-bình.

    4. Giao-chỉ. Trong niên hiệu Vũ-đức thứ 5 (622) Đường Cao-tổ đặt ra Từ-châu, lại đặt ra 3 huyện:

    o Từ-liêm,

    o Ô-diên,

    o Vũ- [47a] lập, vì có sông Từ-thủy và Liêm-thủy, nhân tên hai con sông ấy mà đặt.

    5. Chu-diên. Trong niên hiệu Vũ-đức thứ 4 (621) Đường Cao-tổ đặt ra Diên-châu, lại đặt ra 2 huyện:

    o Cao-lăng,

    o An-định.

    6. Long-biên. Trong niên hiệu Vũ-đức thứ 4 (621) Đường Cao-tổ đặt ra Long-châu và 2 huyện:

    o Vũ-ninh,

    o Bình-lạc.

    1. 18 châu phủ mới đúng, được lần lượt kể tiếp theo sau:

    7. Bình-đạo,

    8. Vũ-bình.

    2. Lục-châu. Sách Đường-chí chép chỗ ranh châu có sông Lục-thủy. Lục-châu tức quận Lục-sơn có 3 huyện:

    1. Ô-lôi.

    2. Thanh-hóa.

    3. Ninh-hải.


    3. Phong-châu (xưa là nước Văn-lang) tức quận Thừa-hóa có 5 huyện:

    1. Gia-ninh,

    2. Thừa-hóa,

    3. Tân-xương (chung với đất huyện My-linh).

    4. Cao-sơn.

    5. Chu-lục.

    4. Ái-châu tức quận Cửu-chân có 6 huyện:

    1. Cửu-chân.

    2. An-thuận.

    3. Sùng-bình.

    4. Quân-ninh.

    5. Nhật-nam.

    6. Tường-lâm.











    [1] Lục lương nay là đất Lưỡng Việt (Việt Đông và Việt Tây).
  • Đang tải...