11.27 - Searatsuki (type done)

13/8/15
11.27 - Searatsuki (type done)
  • 5. Hoan-châu tức quận Nhật-nam có 4 huyện :

    1. Cửu-đức. Trong niên hiệu Vũ-đức (618-626)

    Đường Cao-tổ đặt ra 6 huyện :

    - An-viễn,

    - Vân-la,

    - Quang-an,

    - Thủy-nguyện,

    - An-ngân,

    - Hà-long,

    - Trường-giang 1.

    2. Phố-dương.

    3. Việt-thường.

    4. Hoài-hoan.


    6. Phúc-lộc, tức quận Phúc-lộc có 3 huyện :

    1. Nhu-viễn.

    2. Đường-lâm.

    3. Phúc-lộc.


    7. Nham-châu (tiếp giáp với Quảng-tây) tức quận Thường-lạc có 4 huyện :

    1.Thường-lạc.

    1. 7 huyện, dư ra 1 huyện.

    2.Tư-phong.

    3. Cao-thành.

    4. Thạch-nham.


    8. Trường-châu (tiếp giáp với Phúc-lộc) tức quận Văn-thang có 4 huyện :

    1.Văn-thang.

    2. Đồng-thái.

    3. Trường-sơn.

    4. Chân-thường.


    9. Thang-châu tức Thang-tuyền [47b] quận có 3 huyện :

    1.Thang-tuyền.

    2. Lục-thủy.

    3. La-thiều.


    10. Doanh-châu (phía tây-nam đất Quế-lâm, phía tây-bắc của nước ta) tức Cao-đàm quận có 4 huyện :

    1. Doanh-giang.

    2. Ba-linh.

    3. Hộc-sơn.

    4. Hoằng-viễn.


    11. Lung-châu (thuộc Mán) tức Phù-nam quận có 7 huyện :

    1. Vũ-lặc.

    2. Vũ-lễ.

    3. La-lung.

    4. Phù-nam.

    5. Long-lại.

    6. Vũ-quan.

    7. Vũ-giang.


    12. Hoàn-châu (thuộc Mán) tức quận Chính-bình có 8 huyện :

    1. Phúc-linh.

    2. Chính-bình.

    3. Long-nguyên.

    4. Nhiêu-lặc.

    5. Tư-ân.

    6. Vũ-danh.

    7. Ca-lương.

    8. Mông-đô.


    13. Cổ-châu (thuộc Mán) có 3 huyện :

    1. Lạc-sơn.

    2. Cổ-thư.

    3. Lạc-hưng.


    14. Giáp-châu tức quận Hoành-sơn (thuộc Mán) có 5 huyện :

    1. Đô-bản.

    2. Huệ-vãng.

    3. Vũ-long.

    4. Hoành-sơn.

    5. Thạch-lại.


    15. Sơn-châu (tiếp giáp Quảng-châu) tức quận Long-trì có 2 huyện :

    1. :Long-trì.

    2. Bồn-sơn.


    16. Diễn-châu có 2 huyện :

    1. Trung-nghĩa.

    2. Long-trì.

    Địa lý của 2 châu trên đồng như của Hoan-châu.


    17. Lâm-châu tức quận Lâm-ấp có 3 huyện :

    1. Lâm-ấp.

    2. Kim-long.

    3. Hải-giới.


    18. Ảnh-châu tức Tỷ-ảnh quận có 3 huyện :

    1. Tỷ- [48a] ảnh.

    2. Do-văn.

    3. Chu-ngô.

    Trong niên-hiệu Trinh-quán (627-649) Đường Thái-tông bỏ 3 châu : Diễn, Lâm và Ảnh.

    Trong đời vua Ý-tông nhà Đường (860-873) quân Nam-chiếu đánh phá phủ thành. Đường Ý-tông sai Cao-Biền đánh và phá được Nam-chiếu, địa-phương được dẹp yên, mới đặt ra Tĩnh-hải quân và cho Cao-Biền làm Tiết-độ-sứ.

    Từ đấy đến triều nhà Tống, nước An-nam là Tĩnh-hải quân Tiết-độ-sứ trấn/

    Theo sách Đường-chí, quận Ngọc-sơn ở Lục-châu thuộc đất Giao-chỉ vốn là Ngọc-châu. Trong niên-hiệu Thượng-nguyên thứ 2 (675) Đường Cao-tông đổi làm Lục-châu vì ở ranh châu có sông Lục-thủy cho nên mới gọi như thế. Đó đúng là đất trấn Quảng-yên (giáp Quảng-yên, giáp Khâm-châu).

    Phụ-lục. – Đất Tượng-quận đời nhà Tần từ đời Hán trở lại là quận Giao-chỉ, nhà Lương chia ra đặt quận Hoàng-châu và Ninh-hải, nhà Tùy dẹp nhà Trần, bỏ quận ấy, đổi Hoàng-châu làm Ngọc-châu.

    Trong thời Tùy Dượng-đế, Ngọc-châu bị bỏ, đất ấy gồm nhập vào quận Ninh-việt.

    Nhà Đường đặt lại Ngọc-châu. Trong niên-hiệu Thượng-nguyên thứ 2 (675) Đường Cao-tông đổi làm Lục-[48b] châu hoặc làm quận Ngọc-sơn.

    Sách Tống-sử cương-mục chỉ chép : Quách-Quỳ đánh bại quân Giao-chỉ ở sông Phú-lương. Lý Kiền-đức (Lý Nhân-tông) đầu hàng.

    Sách ấy ở dưới có chú : Giết Ngụy Thái-tử Hồng-chân. Triệu-tiết đốn cây làm khí-cụ tấn-công, thuyền man đều bị phá. Lý Kiền-đức sợ bèn xin nộp cống.

    Nhưng nay xét theo sách Nhị Trình di-thư, trong ấy có một đoạn nói đến việc An-nam : Trong chiến-dịch ấy triều đình nhà Tống thua to lắm.

    Trình-tử nói : “ Lúc đầu tiên ở biên-giới không có lịnh cho quân-sĩ kế tiếp kiểm-điểm tập hợp lại để cứu-viện lúc khẩn-cấp. Lại có lịnh cho quân-sĩ tự phóng-túng đánh giết cho đến nỗi phải bị giết hang vạn.

    Lại không đợi đến mùa thu mát-mẻ sang mùa đông một mạch tiến thẳng qua đánh phá mới thôi.

    Tháng 7 quân tiến qua ngọn núi, bị chướng-khí mà chết thì tự cho là số-phận.

    Đến khi quân tiến qua khỏi biên-cảnh thì lương-thực không được kế tiếp chuyển-vận theo, tiến sâu vào sào-huyệt của giặc thì lấy bè chở 500 quân qua sông, lại [49a] vừa đốn chặt vừa đốt phá mấy lớp rào tre mà không được, lại chèo bè không để tiếp-tục đem viện-binh sang thì bị quân giặc hội họp bắt giết.

    Quân ta không có cứu-binh có kẻ chết, có kẻ trốn, cho nên không thành-công chỉ để tranh nhau có 50 dặm đất.

    Muốn đem quân qua nữa lại không có thuyền bè qua sông, không có lương-thực để thành-tựu công việc.

    Nhờ bên giặc có lời hơi thuận nên bên ta mới có lời thừa-ứng mà giảng hòa. Nếu như bên giặc chưa lời xuôi thuận thì bên ta không biết phải xử sự ra sao.

    Quân vận lương tử trận là 8 vạn (80.000). Quân chiến-đấu bị lam chướng mà chết là 11 vạn (110.000). Còn sống sót được 2 vạn 8 ngàn (28.000) người trở về, trong số này lại có nhiều người đau yếu. Lại còn số bị quân giặc giết lúc trước là mấy vạn nữa. Tính chung tất cả thì bên ta bị thệit mất không dưới 30 vạn người (300.000).

    Thật là vô mưu ngu tối sai lầm quá lắm “.

    Hoàng-Đình-Kiên cũng có bài ca-dao về chiến-dịch đi đánh nước Nam này, cực-lực nói lên số thiệt hại trong cuộc dụng binh đánh Giao-châu. Nay bài ca-dao này thấy chép ở trong sách Uyên-giám.

    [49b] Sách Động-thiên phúc địa của Đỗ-Quang-Đình đời Đường chép 36 cái động-thiên 1, động-thiên thứ 22 là núi Câu-lậu sơn, bề chu-vi được 44 dặm, gọi là Ngọc nhuận bảo khuê chi thiên tại huyên Lưu-dương ở Dung-châu.

    1. Động-thiên, chỗ của thần tiên ở phần nhiều ở nơi sơn động, thường gọi có chữ thiên.

    Đó là núi Câu-lậu sơn ở tỉnh Quảng-tây của Trung-quốc chớ không phải núi Cân-lậu sơn ở An-nam.

    Cách kinh-đô nước ta 30 dặm về phía tây có một hòn núi gọi là Bồ-đà lạc nham, lại có tên là Sài-sơn.

    Trên núi có một cái động con là chỗ Thiền-sư Từ-Đạo-Hạnh đời nhà Lý tu đắc đạo và hóa giải.

    Cảnh-trí cũng thanh-tú đẹp-đẽ. Bốn bề chung quanh, ở ngoài đều là ruộng bằng-phẳng. Về phía tây có hòn núi đất được mười mấy ngọn núi gọi là núi Câu-lậu sơn.

    Núi này không có cảnh-trí nào tuyệt đẹp, cũng không có nham động và dấu-tích lạ-lùng.

    Sách ấy lại chép : Núi An-sơn ở Giao-châu có dự vào số 72 phúc-địa, nay không biết núi này ở đâu.

    [50a] Bài biểu của Đào-Hoàng đời Tấn chép rằng : Quận Nhật-nam cách Giao-châu, đi đường biển hơn ngàn dặm, phía ngoài cách nước Lâm-ấp (Chiêm-thành) chừng 700 dặm, đó là trấn-thành Nghệ-an, vượt biển đến kinh-đô thì đường thủy xa như thế.

    Bài biểu ấy lại chép : Vùng thượng-du chỗ quận Hưng- cổ ở Ninh-châu tiếp giáp cách quận Giao-chỉ 1.600 dặm đó là từ phủ Lâm-an thuộc tỉnh Vân-nam đi xuống trấn Tuyên-quang đến kinh-đô nước ta, đường bộ xa như thế.

    Tờ sớ của Trần-Nghiêu-Tẩu đời Tống giữ việc chuyển-vận ở Quảng-châu có nói : “ Thuộc hạt của tôi, ruộng thì nhiều đá núi, đất thì ít chỗ trồng dâu nuôi tằm, thế mà người ta đều nói thuộc hạt của tôi có gấm tám mùa tằm. Thật là không phải cái tục ở vùng Ngũ-lãnh “.

    Suy độ vật sản-xuất ở đấy thì e rằng đó là nước An-nam. Nay người dân ở Quảng-châu ngoài việc cày cấy ở ruộng nước, mối lợi trọng hậu về địa-lợi chỉ có trồng gai trồng đay mà thôi.

    Tỉnh Quảng-đông đất rộng người đông, nhưng có tục thích buôn bán 1, phần nhiều trồng cỏ cây, thuốc lá, gạo thóc thì rất [50b] ít. Quá nửa dân ở đấy ăn bám ở tỉnh khác hoặc mua gạo ở nước Nam.

    Tỉnh Quảng-tây đất xấu người thưa có tục siêng cần việc cấy gặt thu góp được nhiều, ảnh-hưởng tràn đến những vùng lân-cận.

    Sách Kiên-biều bí tập chép : Nước Đại-tây-dương ở về phía tây Trung-quốc 6 vạn dặm (60.000) gọi là nước Âu-hải, có ba vị giữ chủ quyền :

    1. Vị giữ việc giáo-hóa (giáo-dục).

    2. Vị giữ việc tinh-toán (tài-chánh).

    3. Vị chuyên việc xử-đoán (tư-pháp).

    1. Trục mạt, chạy theo mạt-nghiệp là nghề buôn. Còn bổn-nghiệp là nghề nông.

    Cả ba vị được tôn-trọng bằng nhau, nhưng người người đều sợ vị giữ việc xử-đoán. Nước láng-giềng sang xâm-lược cũng do vị xử-đoán ra lịnh điều-độ.

    Nhưng không phải mọi người đều có thể làm được vị xử-đoán. Cần phải là người vốn có thành-tích danh-vọng, tuổi quá 80, mà còn tinh-lực thì được người ta suy-tôn lập lên. Quyền-hành của vị xử-đoán không được lâu dài (vì đã hơn 80 tuổi rồi) mà lại nhọc-nhằn về việc vận-dụng 1, cho nên người ta cũng không ưa thích chức-vị ấy lắm.

    Đất nước ấy có nhiều tê voi cọp beo. Người dân thì làm nghề săn bắt mà sống. Nước ấy cũng có thóc lúa rau khoai. Văn-tự thì [51a] có một thể chữ riêng.

    Người người đều theo đạo Thiên-Chúa mà không biết ở Trung-quốc có đạo Nho, đạo Phật và đạo Lão.

    Thiên-Chúa là vị chúa-tể trước nhất đã sinh ra người ra vật.

    Người trong nước lập nhà thờ mà thờ phụng chung với nhau.

    Theo lời của họ nói :

    - Trời có 33 từng.

    – Đất có bốn mặt treo lơ-lửng ở không-gian.

    1. Vận-dụng, khéo dùng trí kế biến thông mà không câu nệ.
  • Đang tải...