11. trang 253 - 272 - @hienhoang.ftu (done)

6/8/15
11. trang 253 - 272 - @hienhoang.ftu (done)
  • PHẦN BA

    Rụp rụp

    Ông Bình Nguyên Lộc quả quyết rằng trong một bàn ăn mười ba người, gồm mười hai người Việt một người Hoa, đồng vóc dáng, đồng trang phục, im không nói, ông cũng phân biệt được kẻ Việt người Hoa.
    Như vậy đã là tài, nhưng ông còn đi xa hơn: có thể từ hình dáng mà phân biệt được người Tàu Phúc Kiến người Tàu Quảng Đông, người Tàu tỉnh này với người tỉnh khác (1).
    Cũng trong quán ăn, trong khi chờ đợi tô hủ tiếu, tôi hơn ba lần theo dõi cử chỉ của người làm bếp, và chợt thêm ngạc nhiên về một nhận xét. Không phải ngạc nhiên về chuyện suy tưởng nhân chủng ưa liên quan với thèm ăn quán nhậu. Mà là vì tôi có cảm tưởng đôi khi dễ nhìn mà phân biệt một người Việt miền Nam với người Việt miền Trung, tức một đồng bào ở miền ông Nguyên Lộc với một đồng bào ở miền tôi. Nói cách
    khác, tôi có cảm tưởng mình cũng... tài giỏi như ông Bình Nguyên Lộc: cái mới kỳ cục!
    1.Bản gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam, Bách Bộc xuất bản, Sài Gòn, 1971, 16, 737.

    Một buổi trưa, tại Cần Thơ, trong ngôi quán ở đầu một ngõ hẻm gần bến xe Lam, lần đầu tiên tôi chú ý đến điệu bộ có vẻ ngộ nghĩnh của người chủ quán.

    Ngôi quán khá chật và tối. Giữa trưa, trong quán vẫn có ngọn điện vàng cạch thả toòng teng trên đầu người chủ. Người này mặc mai-ô quần lính, đầu đội chiếc mũ địa phương quân rộng vành, chân mang đôi giày da đen, không vớ. Tại sao phải giày và mũ trong một chỗ kín như thế? Có thể chỉ là một thói quen, hay chỉ là một trường hợp ngẫu nhiên nào đó, tức một chi tiết không có ý nghĩa gì. Tuy vậy tôi vẫn ghi lại, vì hình ảnh ấy tưởng còn hiển hiện trước mắt tôi lúc này. Hình ảnh một người khỏe mạnh, nhanh nhẹn, và làm việc hào hứng.

    Mỗi người có một cách biểu lộ sự hào hứng. Riêng cái cách của người chủ quán hôm ấy, trời ơi, trông mà mê. Hai tay ông ta thoăn thoắt: chặt khúc xương, xắt lát thịt, gắp mớ ớt, múc vá nước từ trong thùng đổ ra tô, xóc xóc mớ hủ tiếu vừa mới trụng qua nước sôi, rắc một tí tiêu bột v.v. Tất cả bấy nhiêu cử chỉ đều rập ràng, hơi có vẻ nhún nhẩy. Mỗi cái quơ tay, cái nhấc lên hạ xuống đều như có gì quá mức cần thiết một chút. Mỗi cử chỉ bao hàm bảy tám phần cần thiết, lại thêm vài ba phần thừa thãi, chỉ để cho đẹp mắt, để biểu diễn sự thích thú trong công việc. Động tác nghề nghiệp gần chuyển thành sự múa men. Một điệu vũ ca ngợi lao động.

    Đứng bên chủ quán là bà vợ, tôi đã tưởng bà làm công việc chạy bàn. Nhưng không: Lúc một cậu bé gầy gầy cưỡi chiếc xe đạp vụt về trước cửa, xách vào cục nước đá, thì đã rõ đây mới là kẻ chạy bàn chính thức; người đàn bà chỉ tạm thời thay thế cậu ta trong chốc lát.

    Khi đã đủ một vợ một con bên mình, chủ quán điều động càng hào hứng:

    - Bàn trong. Một nhỏ một lớn. Rồi! Bưng.

    - Bàn ngoài, số một. Tô lớn, khô. Rồi! Bưng, bàn số một.

    - Bàn số ba tính tiền. Tám chục với ba lăm là trăm mười lăm. Trăm mười lăm với tám đồng là trăm hăm ba. Trăm rưởi trừ trăm hăm ba, còn lại...

    Bà vợ nhắc:

    - Hăm bảy.

    - Hăm bảy. Nè!

    Ông ta đưa món tiền lẻ, cậu con mang ra cho khách. Rảnh tay, ông ta chặt một miếng cánh gà, nho nhỏ, quăng gọn vào mồm, nhai. Lại nhanh nhẹn chặt luôn miếng khác, trao cho vợ. Người đàn bà thụt né vào sau cánh cửa; ăn xong lại ló ra, sẵn sàng...

    - Tô nước, tô khô. Bàn số hai. Rồi!

    Cứ thế, chủ quán làm việc, cắt đặt công việc, điều khiển vợ con v.v... điệu bộ vẫn lại cứ như có gì thừa thãi một chút. Bảy tám phần cần thiết, đôi ba phần để bày tỏ sự hài lòng, để biểu diễn sự hoạt động ăn khớp của một tổ chức hoàn hảo, một bộ máy hợp khuôn rập, chạy đều ro ro.

    Vừa rồi có lẽ đã có sự lạm dụng: hầu hết mỗi câu nói của người chủ quán đều có một tiếng "rồi". Nếu tôi ghi nhớ sai, ấy là vì đã quá chú ý đến tiếng đó. Nhưng hay nhất, ngộ nhất lại là cái tiếng "rồi" tưởng tượng phát ra từ mỗi cử chỉ. Mỗi cử chỉ - ngắt cọng rau, xóc mớ hủ tiếu v.v... - đến chỗ sau cùng thường được gằn mạnh. Như thể một tiếng "rồi" phát ra bằng động tác thay vì bằng âm thanh: Một tiếng câm.
    Dầu sao lần ấy tôi không có một đối tượng quan sát im lặng như ông Bình Nguyên Lộc; nhưng các lần sau này thì họ im lặng.
    Sau buổi trưa ờ Cần Thơ, về Sài Gòn những lần vào quán hủ tiếu, tôi sực nhớ hình ảnh nọ, và tò mò nhìn theo chủ quán: thỉnh thoảng lại gặp những điệu bộ ấy. Có khi ở một người đàn bà, có khi ở một người đàn ông đứng tuổi. Họ nhanh nhẹn, mau mắn; nhưng cái đặc biệt là, trong cử chỉ, họ như muốn nhấn mạnh vào tính cách toàn hảo của những hoạt động rập ràng mau mắn ấy.
    Những người ấy họ có cung cách làm việc giống nhau. Cùng cách ấy, gọi nó ra sao? Tôi tìm một chữ để diễn tả. Tôi loay hoay tìm kiếm.. A! Đây rồi: "Rụp rụp"! Họ làm việc "rụp rụp".
    Chữ nghĩa sao mà thần tình. Lại chính là một tiếng địa phương ra đời ở miền Nam này. Thế mới biết sự xuất hiện của một tiếng nói mới không bao giờ là chuyện ngẫu nhiên, không lý do. Phải có một thực tại mới, đòi hỏi được mộ tả sát đúng. Phải có một sự cần thiết réo gọi nó, đích danh nó.
    "Rụp rụp" là một đáp ứng tài tình cho một đòi hỏi như thế. Làm rụp rụp không phải chỉ là làm mau mắn, mà còn với một vẻ hứng chí trong sự mau mắn.
    - Nhưng tại sao lại bảo đó là của miền Nam? Đâu phải người nào trong Nam cũng làm việc rụp rụp?
    - Tất nhiên đó không phải là tác phong của toàn thể. Cũng không thể nào biết được là tác phong của một tỉ lệ người Nam lớn nhỏ ra sao. Có điều tác phong ấy không gặp thấy ở các miền ngoài. Vả lại, còn có chuyện khác...
    - Nào, xem chuyện khác có gì rõ rệt hơn chăng.
    * * *
    Trong một bài tục ca của Phạm Duy, có câu: "Người dân nhìn thoáng hết hồn luôn", lại có câu: "Lệch đi thì chết, cấm sờ luôn". Những tiếng "luôn" dùng kiểu đó không có trong ngôn ngữ các miền ngoài.
    Cũng thế, ở ngoài Trung mỗi khi xe đò dừng lại dọc đường, hành khách lên xe xong, anh "ết" hô to cho tài xế nghe: "Chạy!"; ở trong Nam, anh ta hô: "Chạy luôn!".
    Tại sao lại luôn? Những tiếng "luôn" ấy không có nghĩa, nhưng dĩ nhiên không phải không có công dụng. Trái lại, công dụng đó thường khi khiến nó còn được xem trọng hơn những tiếng có nghĩa rõ rệt đứng trước nó. Chẳng hạn trong trường hợp "chạy luôn": tiếng "chạy" hô phớt qua, tiếng "luôn" được gằn mạnh. Người ta nghe "Ch... luôn!"; có khi chỉ nghe có một tiếng "Luôn!".
    Không chừng đó cũng là trường họp đã xảy đến cho tiếng "vô". Mời nhau uống rượu, anh em hô: "Dô!" Có lẽ thoạt tiên là tiếng "nhậu vô", "uống vô" chăng? Dần dần tiếng trước bị lướt phớt qua rồi bị bỏ rơi. Chỉ còn lại tiếng sau; từ một tiếng trợ từ, nó tiến lên nhận lấy cái nghĩa của các tiếng nhậu, uống.
    Trong "chạy luôn", nghĩa ở tiếng chạy; trong "hết hồn luôn", nghĩa ở hết hồn; trong "nhậu vô", nghĩa ở nhậu v.v... Còn tiếng "luôn"? Nó thêm vào một thái độ phát biểu, không thêm gì vào cái ý nghĩa đã phát biểu. Trong "chạy luôn" chẳng hạn, "luôn" là một tiếng kêu hơn là một tiếng nói: nó phát lên để tỏ thái độ thúc giục, nó không nói gì về cái nội dung của sự thúc giục ấy. Nó có công dụng về ngữ khí, chứ không phải về ngữ ý.
    Như vậy trong cách nói này, cái nội dung, cái cần thiết, đôi khi bị lướt qua; cái phụ, có phần thừa thãi, lại được nhấn mạnh.
    Lại cái thừa thãi.
    Trong cử chỉ, một chút gì thừa, vượt quá sự cần thiết; trong lời nói, cũng một chủt gì thừa, vượt quá sự cần thiết. Cử chỉ và lời nói đều được phóng đại lên...
    - Vẫn không có gì rõ rệt.
    - Không rõ, về mặt nào?
    - Một dấu hiệu để phân biệt bản sắc địa phương nhự vậy không mấy cụ thể.
    - Thực ra ở đây vấn đề không phải là đi tìm một dấu hiệu phân biệt. Cái đó đâu cần tìm kiếm nữa? Đã có sự khác nhau thật rõ ràng, thật cụ thể, ấy là cái chỉ số sọ của ông Bình Nguyên Lộc: cuộc di cư của nhóm Trần Thắng Tài, Dương Ngạn Địch làm cho đồng bào ta ở miền Nam có xương sọ hơi dài thêm(1). Kẻ Nam người Bắc tha hồ yên lặng, ông Bình Nguyên Lộc đo đạc là biết ngay.
    Vậy ở đây không có chuyện tìm một dấu hiệu phân biệt. Chẳng qua là chộp bắt một nét cá tính phản ảnh trong phong cách, ngôn ngữ. Và hình như sự phản ảnh không dừng lại ở vài tiếng trợ từ, ở mấy điệu bộ. Hình như trên sân khấu cải lương, một bộ môn nghệ thuật của miền Nam, chúng ta có cảm tưởng nhận thấy cá tính ấy xuất lộ ở phong cách diễn xuất...
    - Cảm tưởng? Không có gì rõ rệt.
    - Quả nhiên.
    Sđd., trang 453.

    Đất của con người

    Nguyên Ngu Í có lần thuật chuyện một đêm ở làng Hòa Hảo(1). Hoàng hôn vừa buông xuống thì giọng ngâm sấm vãng bắt đầu dâng lên khắp tứ bề. Cách một quãng đường có một ngôi nhà gạch vuông hai tầng: tầng trên, tượng Giáo chủ; tầng dưới, một phụ nữ mặc áo dài, tay cầm cuốn kinh sấm, miệng ngâm nga trước máy vi âm. Khách đi đến đâu tiếng ngâm theo đến đó, khách thức đến đâu tiếng ngâm cũng lại theo đến đó, đến khuya lắc khuya lơ... Rồi hôm sau, mới sớm tinh sương, trời còn tờ mờ, khách vừa tỉnh giấc, tiếng ngâm đã vang lên tự bao giờ!

    Không khí u huyền. Khách bất giác rùng mình.
    Nguyễn Ngu Í sanh ra sát miền Nam, sống ở miền Nam lâu đến thế mà anh còn rùng mình. Người xa lạ với sinh hoạt miền Nam hơn thì chẳng cần đến tận thánh địa mới tìm được sự xúc động vì cuộc sống tâm linh của miền Nam. Một hôm, trên chuyến xe sớm từ cầu Bắc Cần Thơ đi Mỹ Thuận, tôi đã ngỡ ngàng trước cảnh xóm làng bên đường.
    1. Tạp chí Bách Khoa số 173, ngày 15-3-1964
    Dọc hai bên đường, trong bóng đêm trước giờ hừng đông, qua những tàn cây rậm rạp, ánh đèn lố nhố nhấp nha nhấp nháy. Cảnh tượng hàng nghìn ngọn đèn con lao xao giữa trời trong sương sớm như thế thật lạ lùng đối với một người từ các miền ngoài vào; ngoài đó đâu có bàn thờ ông Thiên trước sân?
    Ở trong này nhìn đâu cũng thấy biểu hiện của tín ngưỡng. Ngoài sân thờ ông Thiên, trong nhà thờ ông Địa, và khắp cùng nơi nơi rong chơi các ông Đạo! Đất đai miền Nam cơ hồ thuộc về các đấng thần linh.
    * * *
    Thế mà lạ: không ở đâu con người được đề cao bằng ở đây. Đây mới chính thị là đất của con người.
    Xuống chơi Cà Mau mấy hôm, nghe tên sông, tên rạch, tên ấp, tên thôn, mới hay làm sao: xóm Ông Đồ, ấp Ông Khâm, ấp Bà Năm, ấp Trùm Thuật, ấp Ông Muôn, ấp Ông Nhơn, sông Ông Đốc, ngọn Ông Trang, rạch Biện Nhan, rạch Ông Quyên, rạch Bà Quang, rạch Ông Búp, rạch Bà Khuê, rạch Ông Nô, rạch Bà Hương, mũi ông Trang v.v...
    Thân mật, ấm cúng không biết chừng nào: ông nọ bà kia, người với rạch, với sông, với xóm làng, đất đai, cùng nhau quấn quýt, chan hòa làm một. Đất đai sông rạch gắn liền với con người, nhưng là hạng người nào? Cái doi đất nhô ra ở gần cửa sông Bảy Háp đó, nó mang tên vĩ nhân nào vậy? Một đấng anh hùng dân tộc, một đại đế nào đó chăng? - Đừng có nhảm! Ấy là mũi Bà Quang: không có vĩ nhân nào xen vô đó hết. Bà Quang? Có lẽ không còn ai nhớ rõ Bà Quang sống ở thời nào, thọ bao nhiêu tuổi, gia thế ra sao, thậm chí cái họ của bà chắc cũng mai một: chỉ còn lại vỏn vẹn một chữ tên. Tuy nhiên, có điều chắc chắn đó là một người đàn bà đã cùng bà con chòm xóm lặn lội sình lầy, góp một tay vào công cuộc khai hoang phần đất mới mẻ này. Tức một con người rất gần gũi, một con nguời trong đám dân gian, bà Quang, bà Hương, ông Quyên, ông Muôn v.v... đều thế cả.
    Từ Cà Mau nghĩ đến cả miền Nam: nào cù lao ông Chưởng, nào tỉnh cũ Bà Rịa, nào kênh ông Hội đồng Quới, kênh ông Bác vật Lang, nào kênh ông Hội đồng Chà, kênh ông Huyện Chơn V.V... Không còn là người của quần chúng hay thật gần với quần chúng nữa; nhưng cũng không phải là nhân vật quá xa cách, không có một vua chúa nào cả, chắc chắn đây vẫn là những con người đã trực tiếp tham dự vào các công trình xây dựng mở mang tại địa phương.
    Những người có góp công trực tiếp ấy, đôi khi chính nhà vua lấy tên mà đặt cho sông núi, như Thoại Sơn, Vĩnh Tế Hà, để cho tên tuổi được "cùng trời đất không ma diệt"(1). Nhưng trong những trường hợp của các bà Năm, ông Búp v.v... không vua nào ban cho vinh dự thì anh Bảy, chị Ba, ông Kèo, bà Cột v.v..., thì đám dân chúng vô danh trong vùng tự động suy tôn, và rốt cuộc cũng lại vẫn "cùng trời đất không ma diệt".
    1. Bia núi Sập (dịch).
    Ở đất Bắc, nơi núi sông đã lẫy lừng từ nghìn xưa, thì con người nép vào uy danh của bản quán, nuơng cậy ở khí thiêng của sông núi: thi sĩ Tản Đà, văn sĩ Hồng Nhân(1), cụ Tiên Điền, Hồng Sơn lạp hộ, Uy Viễn tướng công, ông tú Vị Xuyên v.v...
    Ở miền Nam, đất mới chưa kịp có tên, thì xây dựng đến đâu, con người cho non sông mượn tên của mình đến đó, trước bạ tên tuổi của mình vào đất đai đến đó.
    Cái sự khác biệt của một miền người lấy tên đất với một miền đất lấy tên người, dẫu sao cũng chưa cụ thể. Đi về Hậu Giang, ngồi trên máy bay nhìn xuống, có thể thấy rành rành sự can thiệp giữa bàn tay con người trên cuộc diện đất đai: những con kinh thẳng tắp như lằn gạch phân chia cả một vùng đồng bằng mênh mông thành từng ô từng ô đều đặn... Cảm tưởng đại khái như khi nhìn vào bản đồ kỳ dị của những đường phố ở các đô thị San Francisco, Washington, Chicago, Vancouver..., bản đồ mà như thể trang giấy gạch ca-rô!

    * * *

    Tại sao ở miền Nam, nơi mà vai trò của con người hiển hiện nổi bật lên như thế, con người lại dành cho thần thánh vai trò lớn lao chừng ấy? Tín ngưỡng lại thịnh hành, đạo lại nảy sinh nhiều, lan tràn rộng chừng ấy?
    Có lối giải thích bảo rằng các ông đạo ra đời cũng chỉ là để... làm ăn mà thôi: "Đa số các ông đều nhắm mục đích duy nhất: khẩn đất núi, tạo lập vườn tược.
    1. Tức Phạm Quỳnh (ở Thượng Hồng)
    Các ông tự tiện chiếm hữu một khoảnh đất bên sườn núi bấy giờ hãy còn hoang vu ít kẻ tranh giành, lấy lý do tu hành để hy vọng được miễn thuế. Và bao nhiêu tín đồ đến làm công quả là bấy nhiêu nhơn công tình nguyện"(1).
    Có lối giải thích nữa bảo rằng các ông đạo ra đời là vì việc nước: mỗi ông đạo là một hội kín hoạt động chống Pháp(2). Lá cờ khởi nghĩa của nhóm Thiên Địa hội Phan Xích Long có bốn chữ Bửu Sơn Kỳ Hương; phá đạo đốt chùa của hệ phái Tứ Ân Hiếu Nghĩa tại núi Tượng là Palasme de Champeaux với Trần Bá Lộc; đạo Cao Đài, đạo Hòa Hảo v.v... đều có thái độ chính trị.
    Lại có lối giải thích bảo rằng cái không khí tôn giáo tràn ngập miền Nam, đồng bào ta thừa hưởng từ những dân tộc lâu đời sống trong vòng ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ, quê hương các đạo Bà-la-môn, đạo Phật v.v...
    Như vậy đã có lối giải thích bằng lý do kinh tế, có lối giải thích bằng lý do chính trị, có lối giải thích bằng lý do văn hóa. Miền Nam là đất mới, các vấn đề của miền Nam đều mới, chưa có gì dứt khoát, cố định; vậy có thể nói điêu thêm một lối giải thích nữa.
    Bình Nguyên Lộc nhiều lần nói đến chuyện "chợ đen sắc thần" ở Bến Nghé, Đồng Nai. Dân đã mở đất xong, lập làng xong, nhưng thần làng thì xin mãi chưa được triều đình xa xôi sắc phong cho: bèn có vụ sắc thần của làng này bị đánh cắp đem bán cho làng nọ.
    1. Sơn Nam, Tìm hiểu đất Hậu Giang, Phù Sa 1959
    2. G. Coulet. Les sociétes secrétes en terre d'Annam, Ardin, Saigon, 1926.


    Sự việc ấy nói lên tình cảnh thiếu thốn trong một phương diện sinh hoạt của đám lưu dân một thời. Từ các mỉền ngoài vào đây, trước lo khai phá đất hoang; nhưng một khi cái ăn, cái sống vật chất đã tạm xong, thì phải tính sang các nhu cầu tinh thần chứ. Không có, nó bơ vơ, tội nghiệp làm sao! Hãy nghe Sơn Nam kể khổ: "Trong khi chưa lập được đình chùa, thì miễu thờ cọp giữ vai trò quan trọng về đường tinh thần. Ngày giặc Pháp tấn công, dân chúng vùng Tân Hưng bỏ nhà, chạy vào rừng. Nhưng hàng đêm, họ trở về miễu cọp, ngồi xúm xít, nhìn nhau, nhìn khói hương mà rơi nước mắt"(1).
    Khát khao tin tưởng cũng là một nỗi khát khao khẩn thiết . Ai là kẻ đứng ra đáp ứng? Chắc chắn không có mấy lăm nhà trí thức ôm sách vở, mấy lăm vị hòa thượng khệ nệ kỉnh kệ chuông mõ theo những đoàn di dân đầu tiên vào Bến Nghé, U Minh v.v... Lúc nhận thấy có sự đòi hỏi gắt gao về tín ngưỡng, nhìn quanh quất không tìm đâu ra vị lãnh đạo hay nhà dìu dắt chuyên nghiệp nào về tinh thần, các thầy Đoàn Minh Huyên, ông cử Đa, ông Bảy Do v.v... đành ra tay sáng chế tại chỗ để cung ứng nhu cầu. Phong trào ra đời của các tôn giáo, các ông đạo, nó chứng tỏ tài xoay xở của lớp ngườì đến vùng đất mới, mọi việc đều phải tự cấp tự túc. Nó là một lối tự liệu lý về việc tinh thần.
    Tự đặt ra đạo để tin, chuyện có ngộ nghĩnh một chút, nhưng không trái với óc tháo vát của thế hệ người Việt vào Nam mở đất. Chiếc nóp để ngủ, điệu ca vọng cổ để tiêu sầu, tuồng hát cải lương để giải trí v.v..., mối thứ trong lãnh vực riêng của nó đều là những sáng chế tại chỗ trong hoàn cảnh thiếu thốn của địa phương, xa lìa đất tổ.
    1. Tìm hiểu đất Hậu Giang, trang 88.
    Vậy những ông đạo đầu tiên bất đắc dĩ phải ra đời. Nhưng có điều một ông đạo đã ra đời trót lọt, thành công, thì sau đó các ông đạo cứ tiếp tục ra đời mãi. Thành ra có sự lạm phát ông đạo. Thành ra có sự chậm trễ, lỗi thời. Đến cái thời đại Bắc Trung Nam không còn cách trở, giao thông nhanh chóng, các tôn giáo lớn đã có cơ sở hoạt động khắp nơi trong Nam, các giáo lý cao thâm được các giáo sĩ xuất sắc truyền bá rộng rãi, mà các ông đạo vẫn cứ tiếp tục xuất hiện rao giảng những điều thô sơ...
    Dẫu sao, như thế các ông đạo không còn chứng tỏ sự thống trị của thần linh ở miền Nam mà lại chứng tỏ tài hoạt động xoay xở của con người. Thần linh ở đây xúm nhau đề cao vai trò con người!

    * * *

    So sánh đặc điểm tín ngưỡng ở Nhật Bản và Ấn Độ, bác sĩ H. Nakamura nhận thấy công trình kiến trúc tôn giáo-nổi bật ở Ấn, tức những ngôi tháp stupa, là dành chôn hài cốt, dành cho cái chết, còn công trình điêu khắc xuất sắc ờ Nhật, pho tượng Đại Phật, thì lại dành cho người sống chiêm bái.
    Tại miền Nam ta, không biết cảnh tượng tín đồ kéo đến làm công quả cho các ông đạo khẩn hoang vỡ đất mà Sơn Nam nói vào thờỉ trước nó tấp nập ra sao; chỉ biết cảnh tượng những lăng Ông miếu Bà vào những ngày hội ngày vía bây giờ thì náo nhiệt hết cỡ: bây giờ khách thập phương đến để xin xăm, cầu tài, vay của Bà một món tiền về buôn bán làm ăn v.v... Dù là nơi phát rẫy làm công quả, dù là nơi vay tiền Bà, những nơi đó cũng không có bao nhiêu tính cách thần bí siêu linh, mà tựa hồ những trung tâm hoạt động náo nhiệt, liên quan mật thiết đến cuộc sống xã hội. Những nơi đó không chút gì tịch liêu lạnh lẽo, mà vô cùng sinh động, mà hừng hực hơi nóng của sinh hoạt, của sự sống.
    Ở đây, quả nhiên con người lồ lộ khắp nơi.

    8-1972

    Đất và người

    Ở An Giang, núi Sập có tên là Thoại sơn, con sông gần đó tên là Thoại hà. Ở Châu Đốc, núi Sam có tên là Vĩnh Tế sơn, con kinh đào gần đó tên là kinh Vĩnh Tế.
    Chuyện tên sông, tên núi ấy là cả một chuyện lạ.
    Thoại, tức Nguyễn Văn Thoại, tức Thoại Ngọc hầu, người đã điều khiển việc đào hai con kinh nọ. (Châu thị) Vĩnh Tế là bà vợ của Thoại Ngọc hầu. Và cái việc lấy tên vợ tên chồng của ông quan này đặt cho sông ấy núi ấy là do sáng kiến của vua Gia Long.
    Vua Gia Long bình sinh có lẽ rất lấy làm quý Việc đào kinh khơi ngòi này, cho nên con kinh Vĩnh Tế đã được chọn làm đề tài khắc vào Cao đỉnh bày trước Thế miếu. Quý là phải: đào kinh bấy giờ là việc hết sức cần thiết cho công cuộc khai thác miền đất mới, là một trong những công trình có tầm quan trọng lớn lao đối với lịch sử mở mang nước nhà. Việc đáng quý ấy làm vẻ vang sự nghiệp của vua Gia Long.
    Đối với một công trình mà nhà vua đã nhận thức rõ tầm quan họng như thế, nhà vua lại cho mang tên tuổi của vợ chồng một vị quan.
    Tại núi Sập ngày nay còn tấm bia đá trên có khắc bài văn, trong đó Thoại Ngọc hầu nói đến cái ân huệ nhà vua ban cho mình... "vinh lắm thay tên ấy, không những vinh cho núi ấy, mà càng vinh cho lão thần có duyên tri ngộ ít người gặp được". Vị lão thần nghĩ đúng. Trường hợp của ông quả thật là hiếm hoi, không mấy người gặp được, ở bất cứ nước nào, dưới bất cứ chế độ nào.
    Thử ngược về năm trăm năm trước. Năm 1470, vua Lê Thánh Tông đuổi quân Chiêm Thành tới tận đèo Đại Lãnh; Lần đầu tiên, ta đặt chân lên ngọn núi này, ta cắm bia để ghi dấu đại sự. Việc quả là trọng đại. Núi phải đặt tên là núi Lê Thánh Tông chăng?
    - Không! Chỉ là núi Đá Bia, là Thạch Bi sơn!
    Thành thử, trong thời quân chủ ở nước ta, dường như vua chúa không có cái ý đem tên tuổi mình gán vào những thành tích lớn lao trên đất nước.
    Ấy là một vấn đề. Trong câu chuyện sông núi ở An Giang Châu Đốc này lại còn vấn đề quan niệm về người đàn bà nữa, người đàn bà trong xã hội.
    Một ông vua lại có ý nghĩ đem tên một người đàn bà còn sống, vợ một viên quan cai trị địa phuơng, đặt tên cho sông cho núi để tên ấy trường tại với giang sơn! Vua xét, rằng người đàn bà nọ đã khổ nhọc giúp chồng trong việc đốc xuất đào kinh: cái ý nghĩ trên đây đã rộng rãi, mà cái lối xét công này cũng thật chu tất.