11.vancuong7975(xong)WIKI

23/11/15
11.vancuong7975(xong)WIKI
  • Link docx

    Link pdf

    cấm rượu là điều vô nghĩa do những hội đàn bà bày đặt ra, và tất cả tin tưởng rằng nước Mỹ “khô” không thể tồn tại mãi mãi.

    Arnold Rothstein lịch lãm đến châu Âu vài tuần và mua ở Xcốtlen hàng chục nghìn két rượu Whisky loại một. Y lo cả việc chuyên chở qua đại dương, thuê cả tàu và thủy thủ đoàn, y kiếm chác cả ở tiền vận chuyển. Tính toán rõ ràng, lời lãi bảo đảm chắc chắn. Một két 12 chai Whisky giá khoảng 25 đôla, trong đó bao gồm cả tiền vận chuyển, hối lộ thuế quan và các chi phí phụ khác kể cả giá cao, bởi vì các nhà sản xuất rượu Xcốtlen lập tức tăng giá rượu khi biết được nỗi bất hạnh của dân rượu Mỹ. Một chai Whisky bán lậu ở Mỹ giá khoảng 30 đôla. Lãi xuất khổng lồ và mỗi đứa trong bọn, Rotkstein hay Lansky, Luciano hay Al Capone, kiếm tới hàng triệu tiền lời. Chúng còn nghĩ ra mẹo làm giàu nhanh hơn.

    Sẽ không đúng sự thật, nếu nói rằng trong thời kỳ cấm rượu ở Mỹ hoàn toàn không có cồn. Tồn tại không ít lò cất cồn nguyên chất cho y tế và công nghiệp dược. Cồn kỹ thuật là nguyên liệu không thể thiếu được trong nhiều ngành công nghiệp. Lansky có sáng kiến từ một chai rượu Whisky thứ thiệt, chế biến thành năm chai giả. Rõ ràng là y bỏ ngoài tai tuyên bố của sư phụ Arnold Rothstein là chỉ bán hàng loại một cho khách loại một. Chúng chạy kiếm cồn nguyên chất từ các lò cất hợp pháp, mà sau này một số bị chúng chiếm đoạt, mua rượu cất lậu, trộn lọc, nhuộm màu bằng đường đốt và thêm mùi vị. Chỉ sau một đêm, một két Whisky Xcốt được nhân lên gấp bốn, gấp năm lần. Theo dự đoán chính thức, trong thời gian cấm rượu, khoảng 60 triệu lít cồn nguyên chất được chế biến để làm whisky hay Rum giả.

    Một phần đáng kể các lò cất bí mật nằm ở vùng Chicago và Filadelfia. Dân di tản Ý, từ bao đời nay đã tự cất lấy rượu vì họ không đủ tiền đến quán. Khi lệnh cấm rượu ban ra, họ lập tức nâng cao công suất chưng cất liên tục ngày đêm, cả gia đình thay phiên túc trực bên máy cất, sản lượng quả là kinh khủng, ở Filadefia, Lansky có Waxcy Gordon, tên này mua rượu cất lậu và lo việc vô chai. Việc này không đơn giản, chúng phải kiếm được một lượng chai khổng lồ, phải in những mác giống y hệt thứ thiệt, phải đặt làm nút chai, két đựng và giấy gói. Khi sản xuất Whisky giả phát triển với quy mô lớn, Lansky mua nhà máy sản xuất chai, xưởng in với trang bị kỹ thuật hiện đại nhất và hàng chục xe tải để vận chuyển hàng hóa. Chưa đầy 25 tuổi, y đã xây dựng được một hệ thống kinh doanh với hàng trăm nhân viên, hoạt động không một sơ suất nhỏ và ngày càng thịnh vượng.

    Trong thời kỳ những cơn sốt vàng, cả thế giới thành tâm mong cho những người đào vàng kiên trì vượt qua thử thách thiên nhiên ác nghiệt, tìm được mỏ vàng của mình và sau một đêm trở thành giàu có. Nhưng những tên vô lại, lười biếng thì lại nằm trong hố uống rượu và chờ tân triệu phú đi qua với của cải của mình. Nhiều người bị cắt cổ, bắn chết và vàng thì chui vào túi bọn cướp. Một số tên cướp xứng đáng nhận một viên đạn vào trán, số còn lại, tẩu thoát chuyển vào thành phố, trở thành chủ ngân hàng, chủ tịch các hội kinh doanh, mua những xe hơi bóng lộn, ở trong các biệt thự sang trọng có bể bơi và bắt đầu thọc mũi vào chuyện chính trị.

    Tương tự như vậy, khi Whisky được bí mật tuồn qua biên giới và chở đến các sa-lông bí mật, các quán rượu kín, thì cũng có những tên vô lại nằm chờ các két Whisky trong các công sự dọc đường, Meyer Lansky và bọn đàn em tháo vát cũng làm cả loại việc này. Mặc dù. còn trẻ, ít kinh nghiệm, nhưng chúng trộm và cướp rất thành công.

    Hồi đó trong nội bộ mafia đã tồn tại vấn đề thế hệ. Những găngxtơ trẻ như Meyer Lansky hay Lucky Luciano cười thầm chế giễu các bố già lẩm cẩm cố bám lấy ngai vàng và tàn nhẫn trị vì, Lansky ủng hộ việc hiện đại hóa tổ chức tội ác muốn loại bỏ các thói quen và tập quán lâu đời xuất phát từ Sicilie và tồn tại như một bộ phận không hài hòa của nghề găngxtơ trên đường phố Mỹ, trong điều kiện xã hội mới. Những tên già được gọi mỉa mai là “Moustache Petes”- Ria mép, bởi vì theo truyền thống Sicilie, một thành viên đứng đắn của mafia phải có ria mép rậm dưới mũi, đó cũng là sự thú nhận thuộc về tổ chức tội ác này.

    Ngoài ra, ở đây còn có sự xung đột giữa các dân tộc nữa. Băng của Lansky là tổ chức tội ác Do Thái với một ngoại lệ duy nhất: nó được kết hợp với Lucky Luciano và người của y thành một hiệp hội tội ác thế lực nhất, có tài chính vững vàng nhất, không những mạnh hơn Al Capone khét tiếng, mà còn tồn tại lâu hơn tới hàng chục năm.

    Xếp mafia già cỗi Joe Masseria là cái gai trong mắt những tên găngxtơ trẻ, tài năng. Chúng không ưa tính gia trưởng của y và không chịu nổi y vì y thuộc lớp già, cứng nhắc và bất lực. Mâu thuẫn được giải quyết như thế nào. Luciano và Lansky đã sử dụng phương tiện gì để thanh toán địch thủ, chúng ta đã biết trong phần chiến tranh các băng. Tuy vậy ta hãy thử dừng lại ở một tình tiết trong “Chiến tranh các băng”, vì nó bác bỏ khẳng định của Lansky rằng y không dính dáng vào cuộc chiến. Một lần, bạn chiến đấu thân cận nhất của Lansky là Bugsy Siegel biết được Masseria mua một lượng lớn Whisky lậu và sẽ chở tới Atlantic City.

    - Ai nói anh biết điều đó, ben? - Lansky hỏi.

    - Ai nói, điều đó không thành vấn đề, - Siegel trả lời một cách bí ẩn - Cái quan trọng là tin chính xác.

    - Sao anh biết?

    - Tôi phải mua tin đó với giá 2000 đôla,

    - Bao nhiêu xe tất cả?

    - Bốn.

    - Anh biết chính xác thời gian và tuyến đường?

    - Tất nhiên là biết.

    - Hai nghìn đôla được chi đúng chỗ Ben

    Kịch bản giống hệt như trong các phim găngxtơ mà Hollywood làm tràn ngập các rạp chiếu bóng trên thế giới. Lansky và Siegel bí mật triệu tập những kẻ thân tín, giải thích công việc và nhiệm vụ, tính toán giá trị chiến lợi phẩm. Sau đó giở bản đồ, đánh dấu bằng mực tàu lộ trình của đoàn xe chở Whisky và hẹn giờ tập trung.

    - Ben này, - Meyer Lansky còn hỏi Siegel, -Whisky này được cho ai đấy?

    - Anh sẽ ngạc nhiên, Meyer, nhưng món hàng này là của Waxey Gordon yêu quý của chúng ta đó.

    - Ái chà! Thử xem thằng bé phản ứng thế nào!

    - Ừ .thì phản ứng! Nó làm rượu giả, rồi tẩu tán mà không một lời với chúng ta.

    - Thôi, lên đường! Lansky ra lệnh.

    Chúng tìm được một chỗ cua thích hợp trong rừng. Bugsy Siegel quyết định áp dụng phương pháp cổ điển mà trong quá khứ bọn lục lâm thường dùng để cướp các xe ngựa Wells Fargo hay Ponny Express, cho nên y mang theo rìu và cưa. Chúng đốn cây đổ xuống ngang đường để bắt tài xế phải dừng xe. Chúng ẩn nấp trong các bụi cây ven đường, không hút thuốc, để khỏi bị phát hiện không nói chuyện, để lỡ chẳng may có ai nghe được. Chúng chờ cho tới lúc nghe thấy tiếng ô tô và ánh đèn pha. Đúng ba rưỡi sáng, tài xế thứ nhất nhìn thấy gốc cây, dừng xe, nhảy ra khỏi Cabin và quan sát chướng ngại vật. Những xe sau cũng đã tới. Một toán khoảng 10 tên vũ trang đi theo hộ tống món hàng quý giá tập trung quanh khúc cây.

    - Không phải tự nhiên mà nó nằm đây,- một tài xế nói, rồi nhìn ra xung quanh nhưng không phát hiện được gì khả nghi. Người của Lansky theo đõi hiện trường và chờ tín hiệu của Bugsy.

    - Dù ai làm đi chăng nữa, chúng ta cũng phải dọn để đi tiếp. Nó không đến nỗi lớn lắm để ta phải bó tay.

    Họ cúi xuống, lên gân muốn nâng khúc gỗ lên. Trong ánh sáng đèn pha ô tô, những bóng đen kéo dài của họ trông như những bóng ma. Đúng lúc đó vang lên những phát súng đầu tiên. Những người đàn ông bên cạnh cây đổ, hoàn toàn không có một mảy may cờ hội. Ba người chết ngay tại chỗ, năm người nữa tắt thở trong vòng 20 phút, những người sống sót đầu hàng vô điều kiện nhưng bị một trận nhừ tử. Bốn xe tải đổi hướng đi và sáng ra hàng đã nằm yên trong một kho khác. Trong vụ này, Lansky đã phạm một sai lầm vỡ lòng, y không che mặt và người của Masseria biết được ai chỉ huy vụ cướp.

    Nhưng con cáo già Masseria không ra tay, y có kế hoạch khác, y muốn thu phục tên găngxtơ tương lai Luciano, bạn của Lansky. Cho nên y căm tức bặm miệng và chuẩn bị thanh toán món nợ bằng cách khác. Ta đã biết mọi chuyện kết thúc ngược lại, thế hệ găngxtơ trẻ hiển nhiên là chiếm ưu thế.

    Waxey Gordon điên tiết vì mất món tiền lớn. Món hàng Whisky này y đã trả trước bằng tiền mặt, thế mà bây giờ y phải ngậm đắng nuốt cay, vì y không được phép cho Arnold Rothstein biết rằng y vi phạm hiệp định. Hiển nhiên là đích thân Lansky báo tin này cho Rothstein. Vì tiền mà sinh ra sự thù địch kéo dài mãi tới năm 1931. “Chiến tranh Do Thái” sau nhiều bước ngoặt thăng trầm, cuối cùng thu hẹp lại thành mâu thuẫn sống còn, chỉ cho phép một người chiến thắng tồn tại.

    Quả là sai lầm nếu cho mafia là hội những, hiệp sĩ luôn tôn trọng các luật lệ lâu đời. Chúng ta thanh toán Waxey Gordon bằng thủ đoạn nham hiểm, người thi hành bản án là Jake Lansky, em của Meyer Lansky, Y tới Filadelfia, trao cho cảnh sát các bằng chứng tố cáo Gordon, tên này lập tức bị bắt và tống vào tù. Năm 1933, Gordon bị tòa kết án tù. Ngay cả khi ra tù, y cũng không sao quay lại nghề cũ được. Trong chiến tranh y sống bám vào chợ đen, nhưng bị cảnh sát bắt, y lại phải ngồi tù. Băng của Lansky đã tiếp thu cả địa hạt và khách hàng của y.

    Samuel Bloom là kẻ gây lộn chuyên nghiệp. Y nhập hội Lansky hoàn toàn ngẫu nhiên. Một lần y thắng bạc một triệu phú Xcốtlen 100.000 đô la và sau đó y biết rằng kẻ máu mê cờ bạc nọ lại là chủ một nhà máy Whisky lớn King’s Rusom. Tên găngxtơ liền trổ tài ngoại giao và chủ nhà máy nọ hứa cung cấp những khoản Whisky loại một đặc biệt. Thế là chúng chở rượu lậu trên các tàu vận tải, thậm chí có lúc bằng cả tàu quân sự của hải quân Hoa Kỳ và kiếm được những món lời khổng lồ. Samuel Bloom là một trong những kẻ ăn chia, y nhét túi nhiều tới mức còn có thể mua một biệt thự lộng lẫy và sống như trên thiên đường. Nhưng con bạc thường khó chia tay với đam mê của mình. Bloom lại thua hết tiền, có lần tới
    100.000 đôla sau một tối ở Apactmen của Rothstein trong khách sạn Park Central. Sau đó y tụt nhanh xuống tận hố phản bội.

    Một đêm tối trời, một đoàn xe lớn chở đầy Whisky xuất phát từ Boston. Dọc đường 15 ngàn két rượu biến mất không để lại dấu vết. Vì thiệt hại quá lớn, khoảng một triệu đôla, găngxtơ lồng lộn điều tra và tìm ra dấu vết: có bàn tay Samuel Bloom trong vụ cướp. Với món tiền hối lộ lớn giúp y khỏi cảnh túng quẫn. Bloom đã bán lộ trình đoàn xe cho băng cạnh tranh. Lansky thu thập được các bằng chứng về sự phản bội, mặc dù vậy, y vẫn không thể thi hành tử án với người đồng sự của mình.

    Mafia Sicilie biết rõ là người Do Thái không giết lẫn nhau, cho nên nó tự lo việc trừng phạt. Các tên giết người của Luciano thi hành bản án tử hình. Thế rồi một ngày đẹp trời. Luciano xuất hiện và thông báo quyết định Sam Bloom tới châu Âu một thời gian để nghiên cứu nghệ thuật thời phục hưng. Xác chết bị đổ bê tông và ném xuống sông Hudson.

    Trong những năm năm mươi khi điều tra vụ mất tích Samuel Bloom, các nhân viên FBI đã phát hiện ra một số phi vụ nữa của tay cờ bạc máu mê với các bang cạnh tranh. Y liên lạc với con buôn Whisky và làm ăn với băng vận chuyển Whisky bằng đường khác: từ Nassau trên đảo Baham tới Florida và vùng nam Carolina. Đó không phải là áp phe nhỏ, mỗi chuyến hàng tới hàng chục ngàn két Whisky.

    Không bao giờ Lansky tiết lộ các hãng mà y điều khiển từ trong hậu trường, y cũng giữ kín các tổ phần. Nhưng tháng 8 năm 1938, một nhân viên FBI khai trước tòa như một nhân chứng rằng, một thành viên của băng Lansky tên là Katzenbegr tiết lộ là, sếp của y sở hữu một hãng lớn chuyên nhập khẩu rượu bia Thomas J.Malloy an Company trên phố 26 ở New York. Cũng theo Katzenberg. Lansky là chủ nhân của sân đua ngựa Revere Race Track ở Boston, sân đua ngựa ở Calofornia và có cổ phần hầu như trong tất cả các sòng bạc bất hợp pháp ở Hoa Kỳ. Theo kết quả điều tra của FBI ngày 24.8.1971, cùng với Siegel và Frank Costello, y có phần lớn các cổ phần ở hãng King’s Ransom Distilling Company hãng White House Seotch Distling Company, y cũng sở hữu cả lò cất Capital Distillers.

    Còn Arnold Rothstein, mặc dù tiên đoán được tình hình kinh tế và nhờ đó mà làm giàu, cũng kết thúc bi thảm như tất cả các con bạc máu mê, bởi vì trong các trò chơi cờ bạc chỉ có một người thắng, đó là chủ nhà băng. Rothstein thông minh và học thức, cuối cùng cũng thua hết gia sản. Tháng 11 năm 1928, y bất đồng với các con bạc khác ngay trong phòng của mình ở khách sạn Park Centrae và bị ai đó bắn bị thương nặng. Y chết trong bệnh viện không kịp tiết lộ tên kẻ giết mình. Vì y không để lại đôla nào và Lansky biết rằng y có thu nhập hàng triệu đôla, chúng được xuất từ túi Lansky mà tên này liền đi điều tra nguyên nhân cái chết của Rothstein. Y xác nhận có lẽ Rothstein bị tâm thần. Y dám cá và thua tới nửa triệu đôla trong một lần chơi và chỉ một lần y thắng được khoản tiền cá lớn như vậy, lần đó y cuộc rằng Herbert Hoover sẽ thắng Afred E.Smith trong bầu cử Tổng thống năm 1928.

    Đầu năm 1929, Meyer Lansky trẻ, thành công và khá giả so với tuổi trước 30, do hỏi cô con gái Anna của Moses Citron làm vợ. Ông già Citron hài lòng là sẽ có chàng rể thành công và hai gia đình chuẩn bị lễ cưới vào ngày 9 tháng 5. Khi Meyer Lansky phải điền vào các giấy tờ đăng ký, người ta phát hiện ra y không có quốc tịch Hoa Kỳ. Nhưng ở nhà, trong ngăn kéo y có bản copy đơn xin nhập quốc tịch Mỹ số 100973 mà người ta quên giải quyết. Thế là vấn đề quốc tịch được giải quyết không khó khăn gì. Nhưng y đã không trung thực điền vào các mục khác, và điều đó vẫn bị coi là có tội lớn ở Hoa Kỳ. Chả là khi còn trẻ, tuy đã vài lần bị kết án, nhưng trong đơn, ở mục tương ứng, y điền NCR (no criminal record - không có tiền án). Chi tiết trên đã gây khó chịu cho y khi bị xử án và cả khi y xin cư trú ở Israel sau này.

    NHỮNG NGÓN TAY DÀI
    Người ta nói rằng mafia có những ngón tay dài can thiệp vào tất cả các ngành công nghiệp, nắm trong tay các tổ chức công đoàn, thu “lệ phí an toàn” từ các chủ hiệu và có ảnh hưởng đến chính trị Hoa Kỳ. Đó là những khẳng định quá quen thuộc, nhưng có điều chắc chắn là một số thành viên của hiệp hội tội ác đã cố gắng gây ảnh hưởng đến các sự kiện chính trị của thế giới mới, không phải từ những lý do chính trị hay tư tưởng, mà hoàn toàn vì mục đích lợi nhuận.

    Ở Chicago, Al Capone có một thế lực chính trị đáng kể, y đưa được người của mình vào các chức vụ quan trọng và y được đền bù lại một cách xứng đáng. Quả là thỉnh thoảng mới nổ ra các vụ bê bối chính trị, phát hiện ra các quan hệ giữa các chính trị gia với thế giới ngầm Hoa Kỳ, nhưng áp-phe và ám sát đã trở thành một phần của đời sống hàng ngày ở Mỹ. Kể cả cơn bão chính trị Watergate quét bay Richard Nixon khỏi ghế tổng thống, cũng không làm thay đổi nếp nghĩ và hướng đi của chính trị Hoa Kỳ.

    Mới ba mươi tuổi, Meyer Lansky không những chỉ là một trong các triệu phú trẻ nhất Hoa Kỳ. Biết cách tận dụng các thuận lợi trong thời kỳ cấm rượu, y còn bảo đảm được nguồn thu nhập liên tục từ các ngành khác. Y không ngừng phát triển kinh doanh các máy chơi tự động, luôn luôn mở rộng các sòng bạc phi pháp, thu về những khoản khổng lồ từ các “ru-lét nghèo” một loại xổ số bất hợp pháp với số tiền đặt là năm xen. Y xây dựng hàng loạt Horse Saloons-Sa lông ngựa cho giới thượng lưu Mỹ để những kẻ cá ngựa giàu có khỏi nhọc mình ra tận trường đua. Họ có thể cá cược, vui mừng khi được cuộc hay thất vọng lúc thua cuộc trong các bar sang trọng với sự phục vụ của phái yếu. Ở đó họ có tất cả: cảm xúc từ trò chơi may rủi, khoái cảm của rượu ngon và sự chăm sóc dịu dàng của người đẹp.

    Ở Mỹ cũng như ở các nơi khác trên thế giới, những năm ba mươi không phải là thời gian vui mừng và hy vọng. Gánh nặng của khủng hoảng kinh tế đè nặng lên tất cả, thất nghiệp tăng nhanh và cùng với nó là sự khốn đốn của dân nghèo, nỗi tuyệt vọng của nhiều nhà tài chính bị “ngày thứ sáu đen” trên thị trường chứng khoán năm 1929 bẻ gãy cổ. Hậu quả của những vụ phá sản còn kéo dài cho tới nhiều năm sau này. Trong tình hình đó, Meyer Lansky bàn tính với các chiến hữu thân tín về tương lai loài người, điều đó có nghĩa là tương lai của chính y và băng của y.

    Năm 1932, Meyer Lansky và Lucky Luciano triệu tập thuộc hạ của mình đến khách sạn sang trọng và đắt tiền Claridge để cùng nhau bàn bạc về công việc làm ăn sắp tới. Meyer Lansky có cái mũi nhạy bén, y ủng hộ mở rộng các sòng bạc, xây dựng ở Florida và Cu Ba những Casino lộng lẫy, mà bên cạnh chúng, Monte Carlo, Baden hay Sanremo trông giống như những túp lều rách nát. Nhưng Casino phải được sự cho phép của chính quyền vì không thể giấu được tòa nhà sang trọng. Thường thì thống đốc bang hay hội đồng thành phố cấp giấy phép. Trên sân khấu chính trị có nhiều người quan trọng không thể dọa được bằng súng lục, nhưng có thể hối lộ được. Meyer Lansky đã được chọn đường lối này. Y thỏa thuận với thuộc hạ thân tín hệ thống đút lót ít và nhiều, từ sự cần thiết, bắt đầu thọc gậy vào các sự kiện chính trị.

    Một trong các ứng cử viên tổng thống là AI Smith, đảng viên Đảng dân chủ, một người được ưa chuộng tuy hơi thô tục, đã từng giữ chức thống đốc bang New York. Ông ta không phải là kẻ thù của thế giới ngầm, mà đã có thời là cộng sự nhiệt tình, một thương gia tháo vát, rất nhạy với các món lời béo bở. Mặc dù vậy, trong cuộc họp ở khách sạn Claridge, Meyer Lansky đã khuyên găngxtơ ủng hộ cả hai ứng cử viên: thống đốc bang New York - Franklin Delano Roosexelt và AI Smith. Các cố vấn chính trị của y đã đánh giá sai đối tượng.

    Năm 1932 ở Chicago, nơi mà Al Capone thế lực đang trị vì, đại hội Đảng dân chủ được tiến hành để bầu ứng cử viên tổng thống. Thế lực găngxtơ New York kéo về Chicago cổ động. Chúng đóng quân trong các khách sạn sang trọng nhất, một số ủng hộ Smith, số khác thì cổ động Roosevelt. Meyer Lansky điều khiển hoạt động từ sau hậu trường, cử người đi thăm dò dư luận và thu nhập tin tức. Găngxtơ cư xử như những chính khách lịch thiệp, với những bộ comlê láng nhất chúng xuất hiện trong những buổi dạ hội, và chúng hào phóng chiêu đãi mọi người Whisky Xcôtlen hảo hạng, vì với chúng, nó đâu phải loại hàng khan hiếm.

    Cố vấn chính trị của Lansky là Albert Marinelli có khá nhiều kinh nghiệm và các quen biết, thế lực, tuy nhiên trong việc này dự báo của y đã sai lầm nghiêm trọng. Mặc dù y đánh giá đúng rằng Roosevelt có cơ hội hơn, nhưng y lại không nắm được chính kiến của ông ta đối với tổ chức tội ác Lansky và Luciano quyết định ủng hộ ông ta và chờ được đền ơn. F.D.Roosevelt bước vào Nhà Trắng, nhưng một trong những việc làm đầu tiên của ông ta là chiến dịch chống tổ chức tội ác. Ông ta đã tước bỏ quyền lực và ảnh hưởng của hội Tammany Hall, lãnh tụ của hội này là Jimmy Hines thậm chí phải vào tù. Trước mặt găngxtơ là một tương lai đen tối, vì giám đốc FBI Hoover nhận được lệnh thanh toán thế lực của thế giới ngầm.

    “Lẽ ra tôi phải nghe theo lời khuyên của Arnold Rothstein” Meyer Lansky tuyên bố sau nhiều năm “Ngay từ đầu tôi đã nói rằng AI Smith là một người tuyệt vời, có thể xây nhà trên lời hứa của ông ta. Hơn nữa. bao giờ ông ta cũng cảm thông các vấn đề người Do Thái và người Ý từ Lower East Side, và không phân biệt họ với dân Ailen, mặc dù ông ta là người Alien. Không còn nghi ngờ gì nữa về sự quan tâm của ông ta đối với dân nghèo. Ông ta vận động bầu cử trong khu phố của chúng tôi, nói chuyện với chúng tôi, cư xử như một người trong chúng tôi và thực tế ông ta là người của chúng tôi. Nhẽ ra tôi phải hiểu được rằng chạy sang phía Roosevelt là một điều sai lầm.

    Mặt khác, chúng tôi không có sự lựa chọn thứ hai. Ở Chicago chúng tôi đi đến kết luận rằng Roosevelt chắc chắn sẽ thắng nhưng đáng lẽ chúng tôi không được để Smith đổ. Sau những kinh nghiệm sống, tôi nhận thức ra rằng, con người ta cần phải trung thành với bạn hữu của mình. Một khi phản lại điều đó, anh ta phải trả giá đắt. Cũng như chúng tôi đã phải trả giá đắt trong trường hợp Roosevelt. Ông ta quên những hứa hẹn của mình và tấn công chúng tôi từ phía sau”.

    Cuộc chiến công khai, mối thù không đội trời chung giữa mafia và Roosevelt sau này đã khởi xướng. Xuất hiện nghi vấn là Lansky, Luciano, Costello, Adonis và các tên khác đã đứng đằng sau vụ ám sát Tổng thống Roosevelt và tay súng Giuseppe Zangara, một người Ý đáng ngờ là kẻ giết thuê.

    Franklin Đelano Roosevelt được bầu làm tổng thống Hoa Kỳ và đang chờ lễ đăng quang. Ngày 15-2-1938 ông đến Florida, Miami chuẩn bị đón tiếp tân tổng thống rất long trọng và theo truyền thống Hoa Kỳ, cũng rất hào nhoáng. Mọi nơi tràn ngập quốc kỳ, vòng hoa, đèn kéo quân và các khẩu hiệu chào mừng. Một đám đông lớn tề tựu ở Bayfront Park để chuẩn bị đón nhà chính trị gia nổi tiếng. Roosevelt đi đến bằng thuyền của người bạn triệu phú Astor, sau mười ngày phép câu cá trên biển, ở cảng, ông lên xe, vẫy chào mọi người ra đón, khoảng chín rưỡi đoàn xe hộ tống Tổng thống tới Bayfront Auditiorum. Dân chúng nhiệt tình ùa ra đường làm xe dừng lại. Từ trong xe mui trần, Tổng thống không biết rằng có một khẩu súng đang chờ nhả đạn vào mình.

    Hai người đàn ông vội vã lách đám đông đi tới. Một là thị trường Chicago Anthony J.Cermak đi đến để chào tân tổng thống. Người đàn ông thứ hai là Giuseppe Zangara, một người Ý nhỏ, tóc đen, đi đến để giết tổng thống, Cremak nhảy lên bậc xe, chào tổng thống và đám đông. Đồng thời Zangara rút súng, bắn luôn năm phát. Gã bắn Roosevelt hay thị trưởng Chicago?

    Vệ sĩ Gennerich kéo mạnh Tổng thống xuống xe và thấy Cermak trúng đạn, lăn xuống đất. Roosevelt hiểu ngay sự cố và thấy kẻ ám sát đã bị bắt giữ. Cho nên ông đứng lên trong xe, vẫy vẫy đám người chưa hết kinh hoàng và tuyên bố ông vẫn bình an. Lúc đó trong mắt dân Mỹ, ông trở thành người anh hùng. Vị Tổng thống nào còn sống sau khi bị ám sát, sẽ có một bỗ đứng chính trị vững chắc.

    Cảnh sát nhanh chóng xác minh sự thật: kẻ ám sát bắn năm phát. Một viên trúng Cermak, hai viên tiếp theo làm bị thương nhẹ hai người đàn ông trong đám đông. Một phụ nữ bị bắn xuyên ngực, chết trong bệnh viện. Người thứ năm chỉ bị xây xước sơ. Nhưng còn một người đàn ông nữa bị bắn trúng. Người thứ sáu.

    Giuseppe Zangara bắn từ súng mác Smith and Wesson loại băng năm viên cỡ 32. Một trong những viên đạn được mở ra từ người đàn ông bị bắn thứ sáu có cỡ 45. Ở đâu ra viên đạn này? Cùng lúc có người nào nữa cũng bắn? Và bắn ai? Những tay súng chuyên nghiệp khó có thể nhầm.

    Tên ám sát Zangara là một kẻ kỳ quặc. Y không mấy phát triển và biệt hiệu “II nono” (thằng lùn) mà những đứa trẻ cùng phố tặng cho y càng làm tăng thêm cảm giác mặc cảm tự ti vốn có của y. Y sinh ra ở vùng đất nghèo Calabria thuộc Ý, không mảnh đất cắm dùi lại còn đau ốm luôn. Y bị đau dạ dày và ngay từ đầu y đã biết ai gây ra nỗi bất hạnh đó: người giàu. Hiển nhiên là y có một quan niệm cứng nhắc bệnh hoạn, có thể y là kẻ tự kỷ ám thị và chắc chắn y bị méo mó về tâm lý. Y luôn lớn tiếng là sẽ giết hại vua chúa, tổng thống, giám đốc và thế giới sẽ yên ổn ngay.

    Bệnh dạ dày cũng theo y phiêu bạt cùng nhiều dân Sicilie đến thế giới mới. Vừa mới xác minh được là ở Hoa Kỳ không có vua chúa trị vì, y quyết định bắn chết tổng thống, trước hết là Coolidge, sau đó Hoover và cuối cùng là Roosevelt.

    Trong khi đó y không có lý do bất mãn. Zagnara là thợ nề lành nghề. Các thành phố Mỹ được xây dựng lên thực tế là bằng bàn tay của các thợ xây dựng Ý, họ có uy tín và lương cao. Từ “thằng lùn”, y trở thành một người Mỹ ăn vận lịch sự, với tài khoản ngân hàng đáng kể. Thậm chí còn chuyển chỗ ở tới Folida, nơi có khí hậu gần giống như vùng quê Calibria của y. Rồi tình cờ y biết được tên Tổng thống Roosevelt sẽ đến Miami. Với tám đô la, y mua khẩu súng lục Smith and Wesson. Sau đó y bắn, nhưng không trúng đích. Thị trưởng Cermak trúng đạn và tắt thở trong bệnh viện Joe Zagnara bị đưa ra tòa, sau đó lên ghế điện. Nhưng có đúng y là kẻ giết Cermak không?

    Trong những năm 80, trên các tuần báo ở Praha thỉnh thoảng xuất hiện ảnh của thị trường Chicago Antonia Cermak(53) với các bài báo mà nội dung của chúng có thể được tóm tắt bằng câu sau: mọi người hãy mở mắt ra xem ông ta còn tiến tới tận đâu!

    Các nhà báo yêu mến và kính trọng ông ta. Họ quảng cáo cho lối sống Mỹ: không phân biệt giàu nghèo dân tộc ai cũng có cơ hội cả, mặc dù họ có xuất hiện chẳng hạn, từ Dolat Bhota(54). Nhưng Cermak đã nhanh chóng học được lối sống tự do Mỹ: catch-as-catch-oan” - cướp mọi thứ mà anh có thể.

    Thời AI Capone, Chicago là thành phố Sodoma và Gomora(55): lừa đảo và hối hộ, cả các ngài hội đồng cũng có cổ phần trong các hộp đêm của Al Capone và bằng của hắn. Các phương tiện công cộng cũng bị sử dụng một cách “đặc biệt”. Quỹ thành phố bị hụt két tới 2,5 triệu đôla, và đây chỉ là một phần nhỏ số tiền bị các chính trị gia “liêm khiết” biển lận mà cảnh sát chứng minh được. Nhiều vụ tham ô được giấu kín. Trong mọi vụ đều có bàn tay của Thompson, ứng cử viên Đảng Cộng hòa vào ghế thị trưởng. Có lẽ nhờ vậy mà đại diện của Đảng Dân chủ Antonny J.Carmak mới giành được thắng lợi trong bầu cử.

    Cermak giành được ghế thị trưởng một cách dễ dàng mặc dù trước đó, y không có mấy cơ hội. Tình cờ, một vụ bê bối đã nổ ra đúng lúc. Khi đã hầu như chắc chắn là Thompson sẽ tái cử, thì uỷ viên công tố ra lệnh khám xét văn phòng của Dantel Seritelli- trưởng ban đo lường thành phố, người bà con của Al Capone. Phó ban của Seritelli là Harry Hockstcin, bạn của Frank Nitti phó sếp của Al Capone. Kết quả kiểm tra làm mọi người choáng váng: hàng triệu đôla biển lận. Al Capone phải can thiệp để không một tên nô lệ nào phải ra trước tòa. Tuy vậy, vụ này đã ngáng chân Thompson và chuyền bóng vào tay Cermak.

    Cermak cũng giống như những kẻ đi trước và thành công chính trị chỉ là phương tiện dẫn đến thành công trong kinh doanh mà thôi. Nhưng y khôn ngoan hơn và đã tốt nghiệp “đại học” Tammany Hall. Khi nhận chức, y đưa người của mình vào tất cả các vị trí quan trọng của chính quyền thành phố. Tất cả đều nhận hối lộ của thế giới ngầm, Anthonny J.Cermak cùng hội cùng thuyền với găngxtơ. Hơn nữa, y có thể đánh giá không những tình hình hiện tại, mà cả tương lai của các bố già mafia. Y phải có những thông tin tận nguồn để có thể kịp thời thoát khỏi sự phụ thuộc vào băng Al Capone và đặt cược vào con ngựa chắc chắn hơn. Vinh quang của Al Capone đang từ từ tắt dần, ngày tận số của hắn đang tới gần. Cermak cũng dự tính được rằng cấm rượu sẽ sớm kết thúc và y bắt đầu quan tâm tới các sòng bạc. Thế là thực chất y đặt chân vào lĩnh vực quyền lợi của Meyer Lansky và các cộng sự thế lực của hắn. Khi Al Capone phải vào nhà đá, Cermak tổ chức một mạng lưới sòng bạc riêng của y với sự giúp đỡ của các Chuyên gia Ted Newberry và Big Bill Johnson của băng Morano. Frank Nitti, phó sếp của Al Capone không phải là thủ lĩnh thế lực như sếp của y, và khi nhận thức ra thị trưởng Cermak là một địch thủ quá mạnh, y đầu hàng và bàn giao cho Cermak phần lớn các sòng bạc.

    Nếu như Cermak không chết sau vụ ám sát ở Maiami, có lẽ y sẽ sớm nếm mùi tuyệt vọng và sụp
  • Chia sẻ trang này