0014.01.12 Trang [134]-[139] teacher.anh (done)

15/8/15
0014.01.12 Trang [134]-[139] teacher.anh (done)
  • http://www.mediafire.com/view/x2knu2zgzantcn3/0059._Nghien_Cuu_Ngon_Ngu_Hoc00012.pdf


    cùng một yếu tố cấu tạo từ nhất định, và nhờ đó, chúng được sắp sếp thành hệ thống. Dĩ nhiên, ý kiến này không phải là không đúng, ví dụ: cùng một yếu tố có rất nhiều từ: vô căn cứ, vô nhân đạo, vô nguyên tắc, vô trách nhiệm, vô lí, vô bổ, vô ích, v.v...; cùng một yếu tố viên, có rất nhiều từ: giảng viên, học viên, thuyết trình viên, tổ viên, đảng viên, đoàn viên, chi ủy viên, v.v…; cùng một yếu tố , có rất nhiều từ: văn sĩ, thi sĩ, nhạc sĩ, kịch sĩ, họa sĩ, nghệ sĩ, lực sĩ, v.v… Nhưng nếu lúc nào cũng quá nhấn mạnh vào tính hệ thống ấy một cách không cần thiết để quá dè dặt trong việc thay thế từ ngữ Hán - Việt thì thật là không thỏa đáng. Đành rằng, khi thay văn sĩ, thi sĩ bằng nhà văn, nhà thơ,nhạc sĩ, họa sĩ, nghệ sĩ… vẫn phải giữ nguyên như cũ thì về hình thức, dường như tính hệ thống của yếu tố đã bị “phá vỡ”. Song, suy cho đến cùng, sự “phá vỡ” tính hệ thống đó thật ra không có gì tai hại cả. Chỉ riêng trong thuật ngữ, tính hệ thống kiểu này mới có tác dụng chi phối mạnh mẽ rõ rệt, nhưng đó lại là vấn đề thuộc một lĩnh vực khác mà ở đây chúng ta không bàn đến.

    Chỉ xét đơn thuần về mặt khái niệm của từ ngữ, thì quan hệ đẳng nghĩa giữa từ ngữ “thuần Việt” và từ ngữ Hán - Việt tương ứng có thể biểu hiện ra thành bốn trường hợp sau đây:

    1) Ngoại diện khái niệm hoàn toàn trùng nhau. Nếu dùng hai vòng tròn để chỉ ngoại diện khái niệm của từ ngữ thuần Việt và ngoại diện khái niệm của từ ngữ Hán — Việt thì hai vòng tròn ấy hoàn toàn chồng khít lên nhau, ví dụ: máy bay — phi cơ, sân bay, phi trường, yêu nước — ái quốc v.v... (H.I)

    Vòng tròn chỉ ngoại diện khái niệm của những từ ngữ.

    Vòng tròn chỉ ngoại diện.JPG

    Và như thế là về mặt ngữ nghĩa, từ ngữ “thuần Việt” có “khả năngthay thế từ ngữ Hán —Việt một cách triệt để (1).

    2) Ngoại diện khái niệm của từ ngữ “thuần Việt” lớn hơn và bao trùm
    ngoại diện khái niệm của từ ngữ Hán - Việt (H.II), ví dụ: xây dựng – kiến thiết. Trong trường hợp này, từ ngữ “thuần Việt” cũng có “khả năng” thay thế hoàn toàn từ ngữ Hán—Việt.

    Vòng tròn chỉ ngoại diện 2.JPG


    (1) Nói “có khả năng” thay thế không có nghĩa là nhất thiết hoặc tất yếu phải thay thế trong tất cả mọi trường hợp.

    (thiếu trang 136 - bổ sung sau)


    cho lực lượng trong “Thế giới hiện nay có hai lực lượng đối địch nhau — lực lượng hòa bình và lực lượng gây chiến”; ngược lại, cũng chỉ có thể nói: "Muốn cử tạ phải có sức mạnh”, chứ không nói: “Muốn cử tạ phải có lực lượng” được.

    Trên đây là bốn trường hợp của quan hệ đẳng nghĩa giữa từ ngữ “thuần Việt” và từ ngữ Hán — Việt, xét đơn thuần về mặt khái niệm. Song, hai từ ngữ “đẳng nghĩa”về khái niệm, chưa hẳn đã “đẳng nghĩa” cả về mặt phong cách và biểu cảm, hay nói một cách khác, về màu sắc tu từ nói chung. Do đó, khi xét khả năng thay thế của từ ngữ “thuần Việt” đối với từ ngữ Hán - Việt, chúng ta không những phải coi trọng sự tương đồng của chúng về mặt khái niệm mà còn phải chú ý đến cả sự tương đồng hoặc đối lập của chúng về mặt màu sắc tu từ nữa.

    Trước hết, phải xếp về một phía tất cả những từ ngữ “thuần Việt” và từ ngữ Hán - Việt lúc nào cũng chỉ mang màu sắc tu từ trung tính. Ví dụ, những từ ngữ như : máy bay— phi cơ, xe lửa —hỏa xa, xây dựng— kiến thiết, mọi mặt — toàn diện, sức mạnh— lực lượng, v.v… Rõ ràng là những từ ngữ này có thể dùng trong mọi phong cách (phong cách khoa học, phong cách nghệ thuật, v.v…) và hoàn toàn có tính cách trung tính về mặt biểu cảm. Do đó, đối với những từ ngữ này, tiêu chuẩn dùng để xét khả năng và mức độ thay thế chỉ còn là tiêu chuẩn về khái niệm mà từ ngữ biểu đạt.

    Những từ ngữ “thuần Việt” và từ ngữ Hán — Việt tương ứng còn lại sẽ là những từ ngữ ít nhiều có màu sắc tu từ khác nhau. Trong trường hợp này, tiêu chuẩn về khái niệm của từ ngữ không còn là tiêu chuẩn duy nhất quyết định khả năng thay thế nữa.

    Về mặt phong cách, cần chú ý đến hai phong cách lớn: phong cách khoa học và phong cách nghệ thuật. Có những từ ngữ Hán — Việt đã được dùng quen trong phong cách khoa học, nên không thể tùy tiện thay thế bằng những từ ngữ “thuần Việt” kém chính xác hơn. Ví dụ, trong phong cách khoa học, không phải lúc nào ngôn ngữ cũng có thể thay bằng tiếng nói, vì như thế sẽ rất dễ nhầm lẫn với tiếng nói trong “tiếng nói của anh A, anh B”…; thanh điệu cũng không thể thay bằng giọng, vì cũng sẽ dễ lẫn lộn với giọng trong giọng Nam, giọng Bắc, v.v… Trái lại, trong nhiều trường hợp, phong cách nghệ thuật và các phong cách khác cho phép dùng tiếng nói, giọng... thay thế cho ngôn ngữ, thanh điệu...

    Về mặt biểu cảm, cần chú ý đến những mặt đối lập sau đây:

    Giữa màu sắc cổ và bình thường, ví dụ: nam nhi-đàn ông, nữ nhi - đàn bà, tà dương – mặt trời chiều, cố đô - kinh thành cũ, v.v...

    Giữa màu sắc bác học và bình dân, ví dụ: bách chiến bách thắng- trăm trận trăm thắng, thanh thiên bạch nhật - ban ngày ban mặt, v.v...

    Giữa màu sắc trang trọng và bình thường, ví dụ: phu nhân — vợ, diễn văn — bài nói, đáp từ — lời đáp, phát biểu — nói, v.v...

    — Giữa màu sắc thanh nhã và thô tục, ví dụ: tiểu tiện -đái, hậu môn — lỗ đít, v,v...

    Sẽ không thích đáng, nếu đáng lẽ phải dùng những từ ngữ “thuần Việt” ấy để biểu thị những màu sắc bình thường, bình dân, thô tục, thì lại đi dùng những từ ngữ Hán — Việt, hoặc ngược lại.

    Cuối cùng, về mặt cách thức diễn đạt, cũng có khi vì muốn tránh lặp, chúng ta có thể dùng một từ ngữ Hán —Việt mà trong trường hợp bình thường có thể thay thế bằng một từ ngữ “thuần Việt”, ví dụ: “…Đảng đoàn kết và lãnh đạo nhân dân ta thi đua kiến thiết chủ nghĩa xã hội, xây dựng đời sống vui tươi no ấm…” (Hồ Chủ tịch).

    Đây cũng là một nguyên nhân giải thích tại sao có một số từ ngữ Hán - Việt và từ ngữ “thuần Việt” hoàn toàn đẳng nghĩa với nhau mà vẫn song song tồn tại trong lời nói, như: giang sơn – non sông, ái quốc – yêu nước, v.v…

    Việc thay thế từ ngữ Hán - Việt "không cần thiết" bằng từ ngữ "thuần Việt" đang là một vấn đề thời sự. Nó là một nội dung quan trọng của việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Trên lí luận cũng như trong thực tế, chúng ta có thể khẳng định được rằng xu hướng dùng từ ngữ “thuần Việt” thay thế cho từ ngữ Hán - Việt là một xu hướng tích cực. Thực tế cũng đã chứng tỏ: nhiều từ ngữ “thuần Việt” có khả năng thay thế thực sự cho từ ngữ Hán - Việt; song nếu lúc nào cũng tuyệt đối hóa khả năng đó thì sẽ không tránh khỏi gò ép, cứng nhắc và máy móc.
  • Đang tải...
tducchau thích bài này.