12.vancuong7975(xong)WIKI

23/11/15
12.vancuong7975(xong)WIKI
  • Link docx

    Link pdf

    đổ, bởi vì một vụ bê bối khác bị phanh phui, vạch trần sự lừa đảo và gian dối của các ngài hội đồng thành phố, sự liên kết của họ với thế giới ngầm và các thủ đoạn không khác kiểu găngxtơ Cermak ra lệnh cho giám đốc cảnh sát khám xét văn phòng của Al Capone trên phố La Alle. Các hạ sĩ quan Lang và Miller chỉ huy một tốp cảnh sát ập vào bên trong và bắt gặp Frank Nitti Henry Lang và Grank Nitti được chữa khỏi và sau đó không lâu, phải ra trước tòa. Nhưng trong thời gian xử án, người ta tìm thấy xác của Ted Newberry, cộng sự của thị trưởng: trong túi của xác chết có bức thư của Lang viết rằng, y sẵn sàng sát hại Frank Nitti với tiền công là 15 nghìn đôla. Các nhà báo biết được về bức thư nọ, thế là Chicago lại có thêm một vụ giật gân, và cũng là vụ Xcăngdan. Callahan, thành viên ,của đội cảnh sát: khám xét, đã khai là khi cảnh sát ập vào trong văn phòng. Frank Nitti không chống cự, không tự vệ chỉ hỏi họ muốn gì ở y, yêu cầu xem giấy phép khám nhà! Y không có súng lục. Không một lý do, Lang bắn ba phát vào người tay không vũ khí, vì hắn là kẻ giết thuê, sau đó hắn tự bắn vào tay để có thể nói rằng hắn hành động để tự vệ. Trước tòa, Lang tuyên bố: Nếu tòa kết án tù thì y sẽ tiết lộ các phi vụ đen tối của Cermak và các đảng viên Đảng dân chủ, và điều đó sẽ là ngày tàn của họ. Lúc đầu Lang bị kết án tù, sau đó được khoan hồng và đi khỏi Chicago để bắt đầu cuộc sống mới dưới cái tên khác. Thế là một lần nữa người ta nêu ra câu hỏi: Thực tế là bắn ai ở Miami và bắn ai, tổng thống hay Cermak?

    Tên giết người Roger “The Terible” Touhy đã trả lời, ít ra là một phần câu hỏi trên. Năm 1959, khi ra tù sau một vụ án khá trầm trọng, tên này tuyên bố rằng các viên đạn không hướng vào Tổng thống Roosevelt Zagnara, với thần kinh không ổn định, chỉ là con bài đánh lạc hướng. Bên cạnh y, trong đám đông là một xạ thủ chuyên nghiệp được thuê giết thị trưởng Cermak.

    - Ai thuê người giết Cermak? - Viên cảnh sát viết biên bản hỏi.

    - Tôi không rõ.

    - Thế tại sao anh biết điều đó. - Ai mà không biết điều đó. Cermak xứng đáng ăn một viên kẹo đồng. Hắn tệ hơn bất cứ ai trong chúng tôi. Nhưng bao giờ hắn cũng giữ cho bàn tay xinh xắn của mình được trong sạch.

    - Thế anh giải thích thế nào về sự thú nhận của Zagnara?

    - Zagnara? Thì nó là thằng điên mà lại. Các anh không nhớ là nó ước ao lên ghế điện sao? Tất cả các báo đều viết về chuyện đó.

    - Thế còn bằng chứng?

    - Hừm, rõ như ban ngày còn gì! Smith and Wesson mà người ta nhét vào tay thằng điên ấy, là loại súng lục 5 viên thế mà có tới sáu người trúng đạn. Chả nhẽ các anh cho là có viên xuyên qua hai người à?

    Anthonny Cermak, nguyên là dân Tiệp dư cư, có tượng kỷ niệm ở Bayfront Park ở Miami, với dòng chữ khắc vào đá cẩm thạch: “Tôi sung sướng rằng người trúng đạn là tôi chứ không phải ngài”. Nghe đâu đây là câu nói cuối cùng mà Cermak còn kịp thốt lên, khi bị bắn ngã trên bậc xe của Tổng thống.

    Biên bản mổ tử thi, chứng minh rằng Roger “The Terrible” Touhy nói đúng sự thật. Trong bệnh viện người ta đã tìm thấy trong phổi Cermak viên đạn cỡ 45.

    Edward J.Kelly, người tay thế Cermak làm thị trưởng Chicago, còn tệ hại hơn tất cả các thị trưởng trước y. Y giữ chức 14 năm, trong thời gian đó tham nhũng, tống tiền và “lệ phí an toàn” là hiện tượng bình thường ở Chicago, Kelly còn trắng trợn công khai hợp tác với găngxtơ và nhận phần ăn chia từ 7500 sòng bạc. Phần lớn là bất hợp pháp.

    Meyer Lansky đã dự đoán chính xác tình hình khi y cho rằng, không phải các vụ giết người mà chính tiền hối hộ và các khoản chia lời cho các nhà chính trị, tạo điều kiện cho thế giới ngầm Hoa Kỳ phát đạt chưa từng thấy. Đó cũng chính là kết luận thực tế, vì sau này xuất hiện các thống kê chính thức cho rằng thu nhập của mafia Hoa Kỳ đứng hàng thứ hai ở Mỹ. Vị trí số một tất nhiên phải được giành cho những tên lái súng kếch xù.

    Khi Meyer Lansky và Luciano tham dự đại hội Đảng dân chủ ở Chicago, chúng không những chỉ quan tâm đến các quan hệ xã giao cần thiết và chính trị, mà còn bàn bạc về tương lai các nghề kinh doanh của mình. Bên cốc Whisky hảo hạng, chúng thỏa thuận với Huey Long, thống đốc bang Louisiana, về các khoản chia lời, nếu ông ta tạo điều kiện cho chúng mở các casino ở Orlesus.

    - Thưa các ngài, - Sau đó Lansky -ra lệnh trong văn phòng giám đốc của mình - Ở phía nam chúng ta được bật đèn xanh. Long đòi đến mức mỗi đôla đều quý đối với y. Chúng ta sẽ đặt ở đó hàng trăm máy chơi tự động và xây dựng các sòng bạc cực kỳ. Các anh hãy gọi cho tôi Phil Kastello, hắn sẽ là sếp xứng đáng của New Orlans.

    Chúng bắt đầu với quy mô lớn và các khách sạn vẫn đứng ở đó cho tới bây giờ. Tôi đã ăn sáng ở một trong các khách sạn dớ, trong một phòng tròn rêu mốc che bởi các tấm riđô nhưng đã ngả màu, chỗ đó đã có thời là một sòng bạc với hàng triệu đôla quay vòng. Những người phục vụ không mấy cởi mở, điều đó không có gì khó hiểu trong các khách sạn đang tàn tạ, không một ai trong những người hầu bàn da đen muốn nói về mafia, về thời kỳ huy hoàng xa xưa, khi mà trưởng giả Phil Kastello là vua của Bourbon Street và vùng kế cận còn sang trọng hơn.

    Meyer Lansky bổ nhiệm Seymour Weiss, một người đàn ông trẻ, học thức và đầy hứa hẹn, làm thứ trưởng thứ nhất. Weiss chuyển đến khách sạn “Roosevelt”, y thành lập tổng hành dinh trong mấy
    phòng tiện nghi ở gác hai. Từ đó y trị vì vương quốc các sòng bạc và quán bar với sự phục vụ của phái đẹp, thu về những món lời khổng lồ và trả các khoản ăn chia. Phần lớn nhất tất nhiên được chuyển tới tài khoản bí mật của thống đốc Long ở Thụy Sĩ. Doc Stacher, nhà ngoại giao năng khiếu của Lansky, phát minh ra kỹ thuật hối lộ tân tiến này và đã thỏa thuận nó với Long. Bằng con đường này, ngài thống đốc nhận được từ hai tới ba triệu đôla hàng năm.

    - Ông có còn nhớ ngài Giám đốc Weiss?- Tôi hỏi người thường trực già trong bộ đồng phục lòe loẹt như ở rạp xiếc đang đứng trước khách sạn “Roosevelt” ngả mũ chào khách.

    - Seymour...? - ông ta ấp úng nhưng lập tức nín lặng, có lẽ ông nhớ tới luật rùng rợn omerta: ai nói, kẻ đó phải chết. Khẽ phẩy tay, ông ta nói bằng một giọng mệt mỏi:

    - Xin lỗi ngài, ngài có biết ở đây đã từng ở bao nhiêu người tên là Weiss không?

    Tôi biết rằng 10 đôla có thể làm cho câu chuyện mặn nồng hơn nhưng nhiều lắm thì tôi cũng chỉ biết thêm: Seymonr Weiss có để ria mép hay không, y thích các cô gái tóc trắng hay tóc nâu.

    Hiệp định với thống đốc G.Long mở đầu chiến dịch của găngxtơ vì lợi nhuận từ các sòng bạc lớn. Lộ trình hành quân dẫn từ New Orleans đến Hot Springs, nơi được coi là thành phố nghỉ mát của găngxtơ. Ở đó những tên cướp của giết người tìm được nơi ẩn nấp tiện nghi, dưới sự bảo vệ của cảnh sát địa phương và dự thẩm đoàn bị hối lộ. Từ đây, sào huyệt cờ bạc mở rộng ra Florida. Trong một thời gian ngắn, găngxtơ kiểm soát cả vùng Miami và Miami Beach, từ đó chỉ còn một bước là tới La Habana và Las Vegas.

    Meyer Lansky không bị hào quang sân khấu làm lóa mắt. Y đứng ở phía sau hậu trường để cho các luật sư thân thích và có khi chỉ bạn bè xuất hiện công khai. Đó là một đường lối chính trị sâu sắc. Đến bây giờ, trong lý lịch của boss găngxtơ có những chỗ trắng và không rõ ràng, mà người ta không sao tìm được các thông tin cho chúng. Bởi vì những người giúp việc ngụy trang làm việc thay cho Lansky. Khi Lansky đi chinh phục Florida, những kẻ khác mua khách sạn cho y. Bọn đàn em Frank Eriekson và Herman Stark mua trường đua ngựa Tropical Park.

    Các quan hệ giữa Lansky với cộng sự của y là Frank Costello, một găngxtơ ngoại hạng chỉ huy chiến dịch chiếm lĩnh các sòng bạc, cũng ít được biết tới. Trong nhiều trường hợp tưởng như Costello tự điều binh khiển tướng, nhưng thực ra từ trong hậu trường, nhà chiến thuật khôn ngoan Lansky điều khiển các hoạt động của Costello.

    Francesco Castiglia sinh năm 1889 ở Ý. Lên hai tuổi, y cùng gia đình di cư đến Mỹ và lập nghiệp ở Harlem. Lớn lên trên đường phố y là người hãnh tiến. Trong thời gian quyền lực nhất, y được coi là chủ tịch hội đồng bộ trưởng của chính phủ vô hình mafia ở Mỹ.

    Ban đầu y tham gia các hoạt động chính trị, quan hệ với câu lạc bộ nổi tiếng Tyammany Hall của Đảng dân chủ, nhưng sau này y chuyển sang kinh doanh rượu bất hợp pháp và cách làm ăn béo bở khác của thế giới ngầm New York. Y đổi tên thành Coslello. Ngay từ năm 1915, y đã phải vào tù vì tội mang vũ khí trái phép ra tù y chuyển về các máy chơi tự động. Khi La Guardia, tân thị trưởng liêm khiết của New York, tuyên chiến với găngxtơ, công khai thu bắt hàng đống máy chơi bạc tự động, và trước ống kính ký giả, đích thân ông cầm búa đập nát, thì Costello chuyển tới New Orleans. Hiển nhiên là được sự uỷ nhiệm của Lansky, dưới danh nghĩa là cộng tác viên kinh doanh, y đặt hơn năm nghìn máy chơi tự động “tên cướp một tay” được sản xuất trong nhà máy True Mint Co của y, trong khắp các quán bar,: quán bia, hộp đêm và khách sạn của các thành phố.

    Ở New Orlans, y xây dựng và điều hành Casino Beverly Country Club, ở Saratoza, y có Pipong Rock Casinz Joe Adonis và Jake Lansky cũng có cổ phần ở hãng này. Khi băng Lansky chuyển đến Florida, Costello đã nhanh chóng xây dựng một mạng lưới motorest(56) dày đặc trên các tuyến quốc lộ. Ở đây không những chỉ có bán Sandwich(57), khách hàng còn có thể chơi bạc ở các chỗ kín đáo phía sau. Chính vua dầu Harry Sinelair, mấy lần triệu phú, chỉ sau một đêm đã thua tới 800.000 đôla ở một trong các quán loại này.

    Trong bầu cử năm 1932, Costello thỏa thuận với một phái của Đảng dân chủ và trưởng hội Talnmany Hali Jimmy Hines, ủng hộ đề cử Roosevelt. Năm 1943, y đã đưa được Thomas Aurelio vào chức chánh án tòa án tối cao New York. Trong số bạn thân của y có thị trưởng New York O’Dwyer và giám đốc cảnh sát New York Philip Kennedy.

    Kennedy đã chứng kiến khi người ta định ám sát Costello. Ngày 2-5-1957, 11 giờ khuya Kennedy Costello trở về từ bữa tiệc thừa mứa, xe dừng trước nhà của Costello, gần Centrail Park. Khi Costello đi vào phòng khách của cư xá sang trọng “Majestion”, thì có tiếng chân bước vội phía sau, y quay lại và thấy một người đàn ông súng lục trong tay. Súng nổ. Nhưng Costello đã kịp nhảy sang một bên. Đạn chỉ làm trầy da trán y.

    Chánh cảnh sát Kennedy nghe thấy tiếng súng, chạy vào phòng khách, nhưng kẻ ám sát đã biến mất, Kennedy đặt Sostello lên xe và chở tới bệnh viện. Đây chỉ là vết thương ngoài da, ngày hôm sau Costello đã có thể về nhà.

    Trong phòng khách trang hoàng tốn kém của các nhà ở sang trọng, xung quanh Central Park, những người quản trị cũng giữ luôn nhiệm vụ bảo vệ. Viên quản trị ở “Majestie” nhìn thấy người bắn và cũng tả lại chi tiết cho cảnh sát. cảnh sát có hồ sơ về một tên găngxtơ nhãi ranh khớp với lời tả. Thậm chí gã có cả động cơ ám sát. Gã tên là Vincent Gigante, làm việc cho bố già Tony Beuder trong lĩnh vực ma túy và nghe đâu có lúc bất đồng với Costello, cảnh sát sở hình sự New York bắt Gigante dẫn y và một số người nữa đến cho viên quản trị nhận mặt.

    - Người này bắn!- ông ta chỉ Gigante.

    Trong bệnh viện, khi thay quần áo cho Costello, với sự giúp đỡ của các nhân viên FBI người ta đã lục soát các túi của y. Không có gì phương hại cả. Chỉ có mẩu giấy với số liệu: Tropicana. May 570.000$. Đây là thu nhập hàng ngày của casino Tropicana ở Las Vegas. Hiển nhiên là Frank Costello, mà bọn đàn em thường gọi một cách kính nể: “Bác Frank”, nói rằng y không bao giờ có mảnh giấy đó trong túi, rằng y không biết dòng chữ đó có nghĩa gì.

    Tropicanạ là một trong các khách sạn lớn nhất ở Las Vegas, một casino nổi tiếng. Khi tôi đến Las Vegas, lần theo dấu vết mafia và đến xem casino Tropicana, tôi không thể tin được chủ casino thu tới
    70.000 đôla một ngày. Tôi không hỏi doanh thu của sòng bạc, vì biết rằng sẽ không nhận được câu trả lời, mặc dù ở Mỹ có thói quen nói bằng số (đường phố được ký hiệu bằng số, người hướng dẫn du lịch không biết ai là tác giả đài kỷ niệm, nhưng lại biết chính xác nó trị giá bao nhiêu tiền).

    Mafia coi thường pháp luật nhà nước nhưng lại tuân thủ luật của nó. Vụ án với tội phạm Gigante diễn ra như chờ đợi. Nạn nhân, “Bác Frank”, ăn mặc đứng đắn tuy đắt tiền, đóng vai một người lịch lãm đáng kính, tỏ ra vô cùng cao thượng đối với kẻ suýt nữa đã bắn chết y. Trước tòa dự thẩm, người quản tri khẳng định kẻ bắn súng là Gigante. Costello phải xác nhận nhân chứng đó và chỉ cần nói: đúng rồi, người này bắn tôi. Nhưng Gigante và cả Costello đều là người của mafia “Bác Frank” lắc đầu: y không bao giờ nhìn thấy kẻ tấn công, cho nên không thể nhận ra ai cả, Gigante bước ra khỏi phòng xử án như một công dân tự do.

    Trò hề xử án có cơ sở của nó: Vito Genovese. Dưới sự bảo vệ của các vệ sĩ vũ trang, y sống trong một biệt thự ở vùng quê Atlantich Highlands. Y có thế lực và hợm mình tới mức thú nhận tổ chức vụ ám sát chính y đã thuê Gigante, trả tiền công cho gã, y chịu trách nhiệm về sự thất bại, nhẽ ra y phải chọn tay súng khá hơn. Sau tuyên bố này, Atlantic highlands đã đón tiếp các bố già mafia New York đến để hòa giải Genovese đề nghị hòa bình, chúng bắt tay nhau và làm gương cho kẻ khác thấy các thành viên mafia phải giải quyết mâu thuẫn như thế nào.

    Nhưng trong cuộc gặp mặt ở biệt thự sang trọng ở Atlantic Highlands, người ta thấy vắng mặt Albert Anastasia, sếp hãng Musder Inc. Điều đó nghĩa là không đồng ý. Vito Genovese được mật báo là Albert Anasttala đã rủa độc y phản bội Cosetllo, và cả Luciano. Và khi sếp Murder Inc đã phán lời rủa, thì đó không phải là sự đe dọa mà là bản án tử hình, Vito Genovese là kẻ hai mặt và y biết rõ rằng y chỉ có một khả năng duy nhất: tấn công và xóa sổ Anastasia trước khi chính y bị Anastasia xóa sổ.

    Khách sạn Park Sheraton vào năm 1957 thuộc vào loại khá nhất ở New York. Giống như phần lớn các khách sạn tương tự, nó cũng có sa-lông uốn tóc hạng nhất, đầy đủ tiện nghi. Ngày 25-10-1957, cũng như thường lệ, vào lúc 10 giờ 15 phút, nhà triệu phú lịch thiệp Anastasia đến thăm người thợ cạo Bocchina. Nhưng y vừa ngồi xuống ghế thì hai người lạ mặt bước vào. Họ khoát tay ra hiệu cho Bocchina đi vào góc phòng. Albert Anastasia tắt thở gục đầu xuống thành ghế và hai tên giết người thản nhiên bước ra khỏi hiệu, cảnh sát không điều tra được gì cả. Một thời gian sau đó, các nhân viên cục điều tra liên bang đã xác minh được một trong những kẻ sát nhân là Carlo Gambio, người mà nhờ sự ban ơn của Vite Carlo Genovese, đã trở thành kẻ kế tục Anastasia.

    Carlo Gambino bắt đầu như kẻ bắn súng thuê, nhưng hiếm có tên mafia nào lừng danh như hắn. Hắn đã trở thành hình mẫu cho nhân vật chính trong tiểu thuyết nổi tiếng Bố già của nhà văn Mari Puzzi. Khác với nhiều đồng nghiệp. Gambino sống khá thọ và nhắm mắt xuôi tay trên giường bằng cái chết tự nhiên.Y là “bố già” của 20 “gia đình” mafia ở Mỹ.

    TÙ NHÂN SỐ 16877
    Không hiểu tại sao găngxtơ Hoa Kỳ lại nghĩ ra lắm tên giả như vậy. Khi mà FBI có một tập hồ sơ dấu vân tay hoàn hảo, thì đó chỉ ra sự ngụy trang vô bổ. Hơn nữa, những cái vỏ bằng chữ này lại hầu như trong suốt và nhiều khi ngây thơ quá đỗi. Khi yêu cầu cho xem công văn số 11 của FBI ngày 8-8-1939, được bảoquản trong tòa nhà giám đốc FBI ở Pensylvania Avenue ở Washington, tôi đã vỡ lẽ đôi chút. Đây cũng là thứ hiếm có trong ngành hình sự: lệnh truy nã Louis Bachalter được in tới một triệu bản. Trong lệnh có viết sẽ thưởng 25.000 đôla cho ai bắt được hay bắn chết tên tội phạm nguy hiểm. Thành phố New York sẽ trả số tiền này cho thông tin dẫn đến nơi ẩn nấp của “Lepke” Buchalter, xuất hiện dưới cả các tên: Louis Buchalter, Louis Buchhouse. Louis Kawar. Louis Kauvar, Louis Cohen, Louis Saffer và Brodeky. Năm dấu vân tay phải, năm dấu vân tay trái, ảnh từ anbom tội phạm và dưới ảnh là thông tin; 42 tuổi, người da trắng gốc Do Thái, cao 5 foot 5 inch(58) nặng 170 pound tầm thước trung bình, tóc đen, mắt nâu, da màu sẫm có vợ; có con trai Harold 18 tuổi, tai to, mũi nhọn, cao cằm dài. Dưới đó là chú thích. Hãy thông báo bất cứ thông tin liên quan nào về The Detective Division. Police Department, New York City(59) bằng điện thoại hay điện báo, trực tiếp hay bằng thư từ.

    Lepke là một cái tên kỳ quặc, không phải tên thánh, cũng chẳng phải biệt hiệu. Nghe đâu y được mẹ gọi như vậy khi còn nhỏ, trong ngôn ngữ ydis(60)Lepkele nghĩa là tên gọi thân mật của Louis. Lepkele tới trường học đọc, học viết và trước hết là học làm tình, sau đó y trở thành tội phạm, sếp FBI Hoover coi y là một trong những tên tội phạm nguy hiểm nhất trong lịch sử Hoa Kỳ, Buchalter đã gây nên hàng loạt các tội ác nghiêm trọng, nhưng trước hết là hàng chục vụ giết người.

    Bố của y là một người tử tế, làm việc trong một công sở, trong năm người con chỉ có mình Louis, sinh năm 1897, là thoái hóa như vậy. Trong khi đó, bề ngoài trông y nhút nhát như chuột nhắt. Trong ảnh
    của FBI, y có cặp mắt như lo sợ điều gì, chứ không ngỗ ngược hoặc khiêu khích, chắc chắn y không giống tên giết người không ghê tay, một tội phạm nguy hiểm.

    Nghe nói y rất điềm đạm, đúng mực, tối tối ở nhà vui vẻ trong bầu không khí gia đình, dạy dỗ con cái ngoan, ngoãn, không hút thuốc, không uống rượu, đến nhà thờ Do Thái đều đặn. Nhưng con người “tử tế"đó đã giết hoặc cho giết tới 70 người, là chuyên gia đàn áp trong hoạt động công đoàn. Thời trẻ, y sống lúc thì như kẻ trộm, lúc thì như tù nhân. Lần đầu tiên y bị bắt vào trại cải tạo vì tội ăn cướp xảy ra năm 1915. Từ trại về, y chuyển đến sống với người bà con ở Bridgeport. Ở đó, y lại bị bắt vì tội ăn cắp và phải vào tù. Hai năm sau, y ra tù và đến New York tiếp tục nghề ăn cắp. Y vụng về và bị bắt quả tang, thế là lại phải ngồi một năm ở nhà đá năm 1922 y mới tìm thấy đất dụng võ: công đoàn. Y liên kết với Jake Sapiro và cả hai bắt đầu hành nghề như những tên giết thuê của “đội trừng phạt’ của công đoàn ngành dệt, 11 lần y bị truy tố trước tòa vì tội giết người. 11 lần y trắng án vì thiếu chứng cứ.

    Lối sống Mỹ nổi tiếng bởi nhiều nét đặt biệt, giai cấp công nhân Mỹ cũng đấu tranh vì quyền lợi và tiến bộ xã hội bằng các phương tiện độc đáo. Trong thời kỳ chiến tranh thế giới thứ nhất, đã bắt đầu xuất hiện những tên găngxtơ làm việc trong các tổ chức công đoàn như những người bảo vệ ăn lương, như những tên đánh lộn chuyên nghiệp. Khi công nhân bãi công đòi quyền lợi, các chủ nhà máy có bên phía họ lực lượng cảnh sát ăn hối lộ, bảo vệ những kẻ phá hoại đình công và đàn áp thẳng tay công đoàn. Công đoàn phải tự vệ và họ không có phương tiện nào khác ngoài đội quân găngxtơ chuyên nghiệp. Găngxtơ làm việc chỉ vì tiền và chúng hoàn toàn không đắn đo là làm cho ai, chống ai. Cho nên đến năm 1924, cặp Buchalter và Shapiro lại là thành viên của băng Augie Orgen, nhận lương từ các chủ nhà máy, đàn áp công nhân.

    Năm 1928, ở hãng may mặc International Tailoriug Company đã nổ ra một cuộc đình công lớn, phát triển thành một vụ bạo loạn vũ trang, công nhân ném một trong các chủ nhà máy từ cửa sổ tầng mười xuống đất. Về phía mình, một công nhân hy sinh khi đang đứng gác chống bọn phá hoại đình công. Công đoàn ngành dệt đã chi ba triệu đôla cho cuộc đình công, nhưng họ không đạt được sự nhân nhượng nào của chủ nhà máy. Một năm sau, thợ nhuộm đình công. Chủ các xưởng nhuộm mời băng Orgen tới giúp. Với tiền công 50.000 đôla, chúng phải dẹp được cuộc bãi công. Nhưng Lepke Buchalter lại có quan điểm khác và ý muốn kiếm lời trong vụ này. Y đứng về phía công đoàn, bắn chết Orgen, ngồi lên chỗ của hắn và bắt đầu tuyển mộ lính đánh thuê. Chẳng bao lâu, đội quân các tay súng bắn thuê của y lên tới 250 người. Sau đó y bắt đầu chiến dịch một mặt chống công nhân trong các tổ chức công đoàn. Mặt khác chống lại các chủ nhà máy.

    Theo luật tồn tại tới ngày nay, y nhận “lệ phí an toàn” của cả hai phía, bảo vệ họ trước các tên găngxtơ, nghĩa là trước các thành viên của chính băng của y. Bằng khủng bố, đình công, phá hoại và dọa dẫm, y bắt các chủ nhà máy trả y từ 5 tới 50 nghìn đô la, để có thể trong yên tĩnh sản xuất, Buchalter hoành hành trước hết trong công đoàn ngành may mặc Amalgamated Clothing Wokers, sau đó là công nghiệp da và giao thông. Chẳng tốn mấy công sức, y kiếm được hàng năm tới hàng triệu đôla không thuế.

    Nếu chủ nhà máy nào do dự trong việc trả tiền Buchalter tổ chức đình công, cho đốt kho, phá máy hoặc phái bọn đàn em đi nện cho ông chủ không biết điều một trận nhừ tử. Và y cũng dùng các phương pháp tương tự chống lại các thủ lĩnh công đoàn. Chủ tịch công đoàn các nhà máy bánh mỳ William Snyder hợp tác với Buchalter. Nhưng khi Buchalter gợi ý giảm lương các tài xế xe tải và bọn họ dọa sẽ đình công, thì Snyder chấp nhận các yêu sách đúng đắn của họ. Nhẽ ra ông ta đừng làm như vậy.- Dám chống lại Buchalter. Snyder đã tự ký vào bản án của mình.

    Buchalter là tên găngxtơ không còn chút lương tâm nào. Y tổ chức vụ xử người thủ lĩnh công đoàn không vâng lời một cách hiếm có. Y mời cả khách tới chứng kiến vụ xử tử để họ thấy cái gì sẽ đến với họ, nếu như họ tỏ ra không nghe lời. Y triệu tập 12 đại diện của công đoàn tài xế đến một nhà hàng ở New York và làm như vậy muốn đàm phán một cách thiện chí. Họ vừa ngồi vào chỗ thì xuất hiện một người lạ mặt vũ trang, hắn bắn chết William Snyder ngay trước mặt mọi người và thản nhiên bước ra. Lập tức, không một lời phản đối, đại diện công đoàn tài xế chấp nhận các điều kiện Buchalter.

    Năm 1932, y là “Napoleon” của các tổ chức công đoàn. Năm sau, y nắm được nhân viên và chủ các rạp chiếu bóng. Y có tiếng nói quyết định trong các nhà máy làm giày, trong công nghiệp mỹ phẩm và công nghệ thuộc da, Y ăn chia trong các quán rượu, bar và quán nhảy. Nạn nhân tiếp theo trên con đường công danh của y là các tài xế tắc xi, công nhân, các lò mổ, chăn nuôi gia cầm, các nhà hàng, hiệu giặt tẩy. Sau đó y chuyển sang áp phe ma túy, một điều nhẽ ra y không nên làm.

    Năm 1935, một ngôi nhà trên phố Seymour Avenue ở Brooklyn bị nổ tung, không ai ngờ rằng trong ngôi nhà đó được đặt một nhà máy sản xuất nha phiến. Buchalter mua ở Hồng Kông sáu kiện hàng nha phiến thô, rồi tinh chế ở Seymour Avenue. Y buôn lậu cả bạch phiến nguyên chất và chỉ trong vòng một năm, y kiếm tới hơn 10 triệu tiền lời. Nhưng sau vụ nổ, các thám tử FBI và cảnh sát New York đã phát hiện ra dấu vết của y. Vì hợp tác với cả băng Lansky và Luciano, y có thể dẫn cảnh sát tìm được dấu vết làm ăn phi pháp của găngxtơ, và thế là y trở thành nguy hiểm đối với cả mafia.

    Giám đốc FBI tăng cường tổ chức điều tra tội ác của thế giới ngầm. Các thám tử ngày đêm theo dõi Buchalter, nghe trộm điện thoại của y, nhưng y vẫn tỉnh táo điều khiển băng của mình và cai trị bằng bàn tay sắt. Ai không nghe kẻ đó phải chết. Chỉ trong năm 1939, y đã cho thủ tiêu 12 người không ăn cánh. Thậm chí y còn tuyên án tử hình cộng sự viên thân tín Max Rubin người này làm việc cho y ở Salt Lake City và sau đó ở New Orleans, nơi gã có nhiệm vụ chuẩn bị cơ sở để thâu tóm các tổ chức công đoàn. Rubin cảm thấy cô đơn trong môi trường lạ và khi nào rỗi, gã lại về sống với gia đình. Bởi vì gã bỏ “nơi làm việc” mà không xin phép sếp Buchalter, gã phải trả giá cho sự vô kỷ luật ấy bằng sinh mệnh của mình. Nhưng tay súng được Buchalter phải đi thi hành bản án đã ngắm tồi.: Max Rubin chỉ bị thương nhẹ, và thế là sau này, gã trở thành một trong những nhân chứng chủ chốt trong vụ án xử Buchalter.

    Buchalter lẩn tránh cảnh sát như con thú bị săn, thay đổi chỗ ở liên tục vì biết rằng người ta treo thưởng bắt y, rằng cả bộ máy cảnh sát Hoa Kỳ truy lùng y. Trong báo xuất hiện tin người ta thấy y ở Habana, ở Mexico, y đi khắp châu Âu và ở cả trong khách sạn Pupp ở Karlovy Vavy(61). Người ta tìm y suốt hai năm trên khắp thế giới, và cuối cùng bắt được y. Một thời gian dài y giấu mình trong quán rượu Orielal Palece tại Conev Island, ở đó Albert Anastasia và Abe Reles đã liệu cho y.

    Xuất hiện một vài giả thiết về hậu cảnh và cung cách Buchalter bị bắt.

    - Tất cả chúng tôi từ Lower east Side họp mặt,-sau này Doc Stacher xác nhận - để bàn bạc phải làm gì với nó.

    - Nghĩa là tòa án mafia?

    - Các ông muốn gọi thế nào cũng được. Lepke trở nên nguy hiểm. Không ai cảm thấy yên ổn với những tên giết người của nó. Chỉ có một lối thoát duy nhất xóa sổ nó.

    - Nhưng các anh đâu có bắn y.

    - Không, chúng tôi không thể cho phép mình lắm điều đó. Sechultz là người cuối cùng. Chỉ có Bugsy Siegel là muốn giải quyết nhanh.

    - Người này lúc đó ở California kia mà.

    - Hắn bay đến và nói là chúng tôi đừng lôi thôi mất thì giờ với Buchalter.

    - Ai quyết định vấn đề này?

    - Meyer Lansky là capo. Y cũng bay đến nhưng với cách giải quyết hoàn toàn khác.

    - Y sợ cảnh sát?

    - Tôi không biết y có sợ cảnh sát hay không nhưng y nói đúng. Không thể lặp lại biện pháp áp dụng với Dutch Sechultz. Thời thế khác trước, chúng tôi cũng khác trước, chúng tôi có tài sản địa vị, chúng tôi là chủ các hãng phát đạt, các khách sạn, tất cả khác trước rồi.

    - Tôi biết là các anh không cho người giết y và cũng biết y bị bắt như thế nào, nhưng tôi quan tâm cái gì đã xảy ra trước đó, trong hậu trường.

    - Hậu trường! chẳng có gì như vậy cả. Lansky thuyết phục Dimples, bạn thân nhất của Lepke

    - Moe Dimples Wolensski?

    - Vâng, chính hắn. Wolesski phải nhử Buchalter vào bẫy. Wolesski nói với nó là chúng tôi đã ký một hiệp ước với sếp FBI Edgar Hoover.

    - Các anh đã gặp ông ta?

    - Tôi không gặp. Còn người khác có gặp không, tôi không thể khẳng định hay phủ nhận, vì tôi không có mặt lúc đó,- Doc Stacher nói rồi vươn vai như thể y chỉ là người đứng ngoài, vô tội.

    - Khắp nơi đều viết là có cuộc gặp mặt đó.

    - Nhà báo nói láo mà, phần lớn không đúng sự thật.

    - Thôi được rồi, thế Wolessky nói với Buchater là các anh thoả thuận với Hoover, về vấn đề gì vậy?

    - Nếu Buchalter tự đến một mình, thì tuy phải ra toà, y chỉ nhận một án nhỏ để người ta khỏi xì xầm mà. FBI sẽ để yên tất cả những người khác. Chúng tôi phải làm điều đó, vì Lepke hoành hành như thằng điên, có lẽ nó cho khử hết chúng tôi, từng người một. Nó điên rồi và muốn bịt miệng bất cứ ai biết tí gì về nó để khỏi có thể làm chứng chống lại nó.
  • Chia sẻ trang này