12. trang 272 -299 @hienhoang.ftu (done)

6/8/15
12. trang 272 -299 @hienhoang.ftu (done)
  • Sa kê
    Đất Nam Việt phì nhiêu, hoa quả ở Nam Việt phong phú tràn trề. Nhưng ở đâu kìa, chứ không phải ở Vĩnh Bình.
    Thật vậy, trái cây trong Nam, những măng cụt, sầu riêng, mận, ổi, khóm, chuối, mãng cầu, bưởi, cam, dưa v.v..., bao nhiêu thứ trái đổ về Sài Gòn là từ những nơi như Biên Hòa, Bình Dương, Định Tường, Cần Thơ, Long Khánh v.v...; chứ Vĩnh Bình gần như không có một đóng góp nào đáng kể.
    Vĩnh Bình không góp mặt ở các vựa trái cây ngoài chợ, không sản xuất nhiều về lượng. Nhưng tại đây có một số trái cây hiếm lạ: trái dừa sáp (toàn ruột, không có nước), trái giếc, trái quách, trái sa kê...
    Những thứ trái ấy, người Việt Nam ở Trung ở Bắc có kẻ chưa từng nghe đến tên, có kẻ nghe tên mà chưa từng trông thấy bày bán bao giờ ở các chợ Sài Gòn. Thậm chí xuống tận Vĩnh Bình, tại chợ Phú Vinh, nơi tỉnh lỵ, không phải lúc nào cũng tìm thấy chúng.
    Nhưng nếu chỉ có vậy cũng không có gì đáng nói. Chỗ đáng lấy làm lạ là sa kê không gặp ở chợ búa ngày nay lại gặp thấy trong tờ công văn truyền ra từ hội đồng các đình thần đời Gia Long.
    * * *
    Ngày mồng 9 tháng Ba năm Gia Long tứ niên, thừa chỉ nhà vua, Cộng đồng truyền cho trấn quan Gia Định đặng rõ: Nay nên sức bứng cây con "sa kê", phòng hộ cẩn thận, để đưa về kinh.
    Không biết trấn quan Gia Định hồi đó đã bứng cây con ở đâu; không chắc là phải cất công xuống đến Trà Vinh, vì có thể bấy giờ sa kê lan sống rộng rãi hơn bây giờ. Bây giờ thì sa kê hình như chỉ còn được trồng ở những quận Cầu Kè, Trà Cú... Y như một bậc danh vọng đã từng được triều đình vời thỉnh, lừng lẫy một thời, về già rút lui tận thâm sơn cùng cốc để mai danh ẩn tích.
    Cũng không biết những cây sa kê hồi đó rồi vua quan triều Gia Long đã cho trồng ở những nơi nào tại kinh thành Huế mà ngày nay không còn thấy bóng dáng đâu cả(1).
    Sự mất tích của nó ở ngoài Huế, sự rút lui của nó ở trong Nam có thể do nhiều nguyên do. Hoặc nó không hợp với chất đất ở nơi nào khác hơn là Cầu Kè, Trà Cú; hoặc nó không hợp với khẩu vị của đa phần ngưòi Việt Nam.
    Nếu quả nó khó tính, các nhà chuyên môn về nông học sẽ tìm hiểu nó.
    1. Trên tạp chí Bách Khoa số ra ngày 11-5-1973, ông Phạm Ngọc Ẩn cho biết vào năm 1946 có trông thấy một cây sa kê ở nhà ông Ngô Trọng Lữ, 17 đường Tôn Nhơn trong thành nội Huế (sau đổi ra số 19 đường Đinh Công Tráng). Ông Phạm nói thêm là cây sa kê có người gọi là mít nài. Tuy nhiên cũng có người cho rằng đó là hai thứ cây khác nhau (V.P. tháng 12-1985).
    Về phần chúng ta, hãy tự xét mình và nêu ra một thắc mắc: Phải chăng chính chúng ta đã trở nên khó tính? Một thứ trái cây được vua chúa quý chuộng hồi đầu thế kỷ trước, đến cuối thế kỷ này chúng ta bá tánh thảy đều chê bai, bỏ rơi. Nếu được chúng ta hâm mộ niềm nở, chắc chắn cây ấy đã được chăm sóc, đã phát triển rộng rãi chứ?
    * * *
    Sa kê trộn với dừa, ăn từa tựa như khoai lang; sa kê cũng đem nấu canh mà ăn. Nó gần như mít chưa chín vậy.
    Khẩu vị con người ta thì nói không cùng: có món người này khoái thích đến đâm nghiện nặng mà người kia không thể nuốt trôi, có món người này khen thơm mà người kia chê nặng mùi v.v... Mùi vị sa kê, đại khái như đã mô tả, có thể cho là ngon, cũng có thể cho là dở. Bởi vậy không nên có sự tranh biện phải trái với vua Gia Long. Bất quá, chỉ nên nhận xét rằng nhà vua không có cái may mắn được chọn lựa trước một đối tượng phong phú như chúng ta ngày nay. Đầu thế kỷ trước, miền Nam chưa có măng cụt, sầu riêng v.v...
    Trong vòng hơn trăm rưởi năm, ở đây có bao nhiêu thứ cây mới xuất hiện, lan tràn, và có những thứ cây suy tàn, gần mất dạng. Bộ mặt các khu vườn xung quanh ngôi nhà sinh sống của người dân miền Nam đã trải qua những thay đổi biến hóa thật sâu xa. Ngoài Bắc, ngoài Trung, trong những mảnh vườn do tổ phụ di lưu từ đời này sang đời khác của mỗi dòng họ, hiếm khi có những dáng cây hoàn toàn mới lạ.
    * * *
    Vả lại trong sự chọn lựa của vua Gia Long không phải chỉ có vấn đề khẩu vị. Chắc chắn trong đó còn có những chuyện kỷ niệm tình cảm, chuyện thói quen sinh hoạt, lưu luyến địa phương v.v...
    Nhà vua đã đặt cho trái bòn bon cái tên nam trân, đã cho khắc hình nó vào một trong cửu đỉnh là vì một trường hợp như thế.
    Về việc đưa các giống cây trong nước về trồng tại kinh thành, cứ theo những châu bản triều Gia Long còn lưu lại thì hình như chỉ có ba thứ cây được chọn: Một tháng sau khi đòi cây sa kê, ngày mồng 10 tháng Tư năm Gia Long tứ niên, Cộng đồng lại truyền cho công đường quan dinh Bình Định mua một nghìn trái dừa mộng đưa về kinh để trồng, rồi một tháng rưõi sau đó, ngày 28 tháng Năm trấn quan Hải Dương mua hai trăm cây cam để đưa về kinh.
    Còn trái mà để dâng cúng, để ăn, thì người ta thấy trong dịp lễ Hạ hưởng và Đoan dương cũng vào năm Gia Long tứ niên, triều đình mua 4.200 trái vải ở Bắc thành, 6.600 trái bòn bon ở Quảng Nam, 920 trái xoài tượng ở Bình Định, một lần 920 trái rồi một lần khác 5.600 trái xoài tượng nữa ở Phú Yên, 100 trái dưa hấu ở Quảng Bình. Tháng Năm năm ấy, triều đình mua rất nhiều cau tươi ở Quảng Nam.
    Trong bấy nhiêu thứ cây trái được chọn, chỉ có cây cam Hải Dương và trái vải là thuộc về phía ngoài Bắc con sông Gianh.
    Thiết tưởng một sự tuyển trạch khách quan không căn cứ vào kỷ niệm riêng tư, không thể đưa đến kết quả ấy. Ai cũng biết đất Bắc được chăm sóc từ lâu đời tất phải có nhiều trái ngon cây quý hơn thế.
    Tuy nhiên, nếu vua Gia Long có sự thiên lệch nào về phía miền đất do các chúa Nguyễn khai phá mở mang, về những nơi ông đã trải qua những năm gian khổ nhất trong đời chinh chiến để dựng nghiệp, thì cũng là chuyện hợp tình; và nếu ông cố ý đề cao những khám phá mới trên đất nước mà không quan tâm nhiều đến những món đã có danh tiếng sẵn, thì cũng lại có phần hợp lý. (Trái vải thì khỏi cần giới thiệu; chứ bòn bon, xoài tượng, và nhất là sa kê, dù vua đã ra sức nêu cao mà vẫn còn ít ai biết đến nữa là).
    Duy cái thiên vị tình cảm mà đến thế này thì có quá lố: Sau khi mua cây mua trái xong, ngày 24 tháng Năm cùng một năm ấy, vua Gia Long lại bày tỏ lòng mến chuộng đối với miền Nam bằng cách truyền cho công đường quan dinh Bình Thuận "mua" (!) luôn sáu đứa tớ gái trạc độ mười tuổi. Món ăn vào miệng, kẻ hầu hạ bên mình, dường như nhà vua đều thích gọi từ miền Nam ra.
    Nhưng chúng ta đã lạc ra ngoài chuyện cây trái. Và lần này chúng ta chưa muốn lao vào chuyện con người vốn nhiều rắc rối.
    12-1972
    Khi quần chúng du lịch

    Trên núi Ba Thê có cất mấy ngôi nhà, có một cây cầu sắt nối liền hai đỉnh núi; những cái đó đều được thực hiện hồi đệ nhất cộng hòa. Người ta cho rằng tổng thống Ngô Đình Diệm muốn làm cho núi Ba Thê thành một cảnh du lịch.
    Kể ra du lịch ở núi Ba Thê thú hơn ở nhiều chỗ khác. Tại đây, ngoài cảnh thiên nhiên còn có một di tích lịch sử danh tiếng: gò Óc Eo. Chơi núi Ba Thê, du khách đến sát cạnh nền văn hóa Phù Nam đầy bí ẩn. Vả lại, trên con đường từ tỉnh lỵ Long Xuyên đến Ba Thê, du khách có thể gặp một cánh đồng còn phơi nhiều vỏ sò, nêu rạ một nghi vấn lộ thiên mà giới khảo cứu chưa tìm ra câu giải đáp. Đi chơi một chuyến như thế, có dịp để tha hồ tưởng tượng về những tang thương đã diễn ra trên miền đất này, xưa kia, hàng nghìn năm trước. Đi chơi như thế, thích chứ.
    Vậy mà trên núi Ba Thê: nhà thì chỉ còn mấy bức vách, cây cầu Eiffel chỉ còn cái sườn sắt, ván đã mục, đã long, rời từ bao giờ.
    Sự thực, sửa sang lại cũng dễ, không tốn kém bao nhiêu. Nhưng sửa lại mà chi? Đâu có du khách nào lai vãng?
    - Như vậy có phải dân ta không ham du lịch, không thích cảnh đẹp, không mến thiên nhiên?
    - Không phải vậy. Nhưng dân ta có lối thưởng ngoạn thiên nhiên của dân ta. Nếu ông Ngô Đình Diệm xây trên núi Ba Thê một ngôi chùa...
    - Ông Ngô xây chùa?
    - Không xây, cho nên ông đã thất bại trong trường hợp này.
    Thực ra, tại chùa Từ Hiếu ở Huế, một vài nhà sư còn nhắc lại những kỷ niệm về ông Ngô Đình Diệm: ông thường lên thăm chùa, trò chuyện vói người này, dạo chơi chỗ kia, thích ăn quả của cây khế nọ v.v... Sự lui tới này tất nhiên là vì bài vị nội tổ của ông để nơi đây; nhưng mặt khác, không phải không vì ít nhiều thích thú: chùa Từ Hiếu là một trong những ngôi chùa cảnh trí đẹp nhất ở Huế, quanh chùa cây cỏ sum sê, vườn rộng và u tịch... Ông Ngô Đình Diệm không phải không biết đến cái tâm lý đi chùa vì cảnh chùa.
    Núi Sam đẹp hơn núi Ba-Thê chăng? Không chắc. - "Linh" hơn núi Ba Thê chăng? Càng không ai dám chắc. Có điều hiển nhiên, là núi Sam có nhiều miễu, nhiều chùa, nhiều am v.v... nên thu hút du khách đông vô số kể.
    * * *
    Đứng dưới chân núi Sam nhìn lên: cứ cách một quãng lại một ngôi chùa, cách một quãng một cái miễu, cứ thế cho đến tận đỉnh núi. Tây An tự, rồi miễu Bà Chúa Xứ, rồi lăng Thoại Ngọc hầu, rồi Khổng thánh miếu, rồi Tây Huê tự, rồi Bồng Lai tự v.v...
    Đến Bồng Lai chưa phải là hết. Nếu còn muốn trèo nữa, còn đủ sức trèo nữa, khách vẫn tìm thấy một miếu, tự khác để làm lý do cho khách trèo cao thêm bậc nữa.
    Vì sự thực, những chùa ấy miễu ấy - một phần nào - là những lý do để khách quyết định cuộc du ngoạn. Ở miền Nam, đồng bằng nhiều, núi non ít. Đối với dân chúng nhiều nơi, núi là một cái lạ, tai từng nghe, mắt chưa từng thấy. Bởi vậy; nghe có cảnh núi đẹp, rất muốn xem cho biết. Nhưng bỗng không mà tổ chức du lịch là chuyện xa hoa phù phiếm, là chuyện chỉ xảy ra trong cuộc sống của tầng lớp giàu sang thừa thãi, là chuyện của đàn ông, có lẽ chỉ một số đàn ông ít ỏi có ý thức, biết ngâm vịnh mới hay ngao du sơn thủy kiểu đó. Còn quần chúng đồng đảo, còn đàn bà, ông già bà lão thất học v.v..., những giới người ấy cũng muốn ngoạn cảnh chứ. Họ không có bầu rượu túi thơ. Phải tìm giúp họ một cái cớ. Phải cho cuộc đi của họ một ý nghĩa.
    Ở đây, chùa miễu đáp úng một nhu cầu phi tôn giáo.
    Chùa miễu giúp quảng đại quần chúng được hưởng một thú vui lẽ ra dành cho thiểu số. Và chùa miễu đã được quần chúng đền ơn xứng đáng; chúng phát đạt nhanh chóng, mọc lên như nấm ở những chỗ thắng cảnh.
    Trong Nam, thắng cảnh quý giá hiếm nhất là núi non. Phải chăng vì vậy mà vùng Năm Non - Bảy Núi là cái nôi của nhiều tôn giáo mới phát sinh: Phật giáo Hòa Hảo, Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa v.v...?
    9-1971

    Thương gái miền Trung

    Đi lễ để ngoạn cảnh, đó không phải là sáng kiến của đồng bào miền Nam, của lớp người gần đây.
    Từ xưa, từ hồi còn ở ngoài Bắc, người Việt chúng ta vẫn thế: vẫn viện cớ tín ngưỡng để du ngoạn, vẫn liên hệ thờ phụng thần thánh với tình yêu thiên nhiên.
    Khi Chu Mạnh Trinh đi chùa, ông đi tìm cái thú. Bởi vậy, để cho được trọn thú, ông mang cả đào nương theo. Hệt như một nhà nho khả kính bên Tàu: Tô Đông Pha. Chu Mạnh Trinh khoái nhất chùa Hương:

    "Bầu trời, cảnh bụt,
    Thú Hương sơn, ao ước bấy lâu nay!"

    Trong mười hai chữ chỉ có chữ "bụt" thuộc về tín ngưỡng; còn lại là bầu trời, là cảnh, là thú v.v...
    Bao nhiêu người khác đi trẩy hội, dù không đậu ông nghè, dù không biết làm thơ, nhưng tâm lý hẳn cũng không khác tâm lý Chu Mạnh Trinh là mấy.
    Và đó là một tâm lý cố cựu, lâu đời, của dân tộc. Ngay từ thế kỷ 12, trên văn bia chùa Lĩnh Xứng làm năm 1126 đã có câu: "Hễ chỗ nào núi cao cảnh đẹp đều mở mang lập chùa chiền".
    Chùa chiền ở nước nào cũng lánh người tìm cảnh như thế chăng? Các công trình kỉến trúc những tôn giáo khác có lấy cảnh đẹp thiên nhiên làm tiêu chuẩn chọn lựa đặt vị trí chăng? Hay trước hết cốt tìm đến những sở đạo, họ đạo đông người?
    * * *
    Ngoạn cảnh là thú lành mạnh. Nếu thiện nam tín nữ chỉ thưởng thức có một cái thú đó thì tốt quá. Nhưng người ta không hay ngừng lại nửa vời như thế. Người ta, bất cứ là ai, kể cả thiện nam tín nữ.
    Vì vậy ông Chu có mang theo mấy đào nương, cho thú vui được đậm đà thêm. Những đàn ông, những thanh niên khác, không đủ sang trọng để đưa đào đi, nhưng họ cũng muốn vui đậm lắm: họ nhắm vào đám bạn đồng hành khác phái. Hiền lành, họ cũng gây được những rung động thấm thía nơi cô bé của Nguyễn Nhược Pháp. Kẻ bạo dạn, nghịch ngợm, thì họ còn đi xa. Chắc hẳn trong khung cảnh hội hè rộn rịp, đông đảo, hỗn tạp, đôi khi họ có hoàn cảnh để đi xa lắm, quá lắm.
    Cho nên hội hè vẫn có một khía cạnh đáng ngại, ông Chu thì ham đi chùa Hương; nhưng chưa chắc ông thích cho bà đi, và cho các cô trong nhà đi đâu đấy nhé. Ấy là nói về chùa Hương thôi. Đối với những nơi khác, có khi ngưòi đàn ông đố kỵ ra mặt:

    "Chùa Thầy khánh đá, chuông đồng,
    Có đi thì trả của chồng mà đi".

    Chỗ chùa Thầy nghe đâu nó rắc rối, tai tiếng, vì một cái hang:

    "Động chùa Thầy có hang Cắc Cớ,
    Trai chưa vợ thì nhớ chùa Thầy".

    Nhưng dù cho không có hang, có hóc nào, những chùa, những đền khác cũng tạo cơ hội cho đàn bà con gái sống nhũng ngày cởi mở, tự do, khác hẳn chuỗi ngày khuôn phép trong gia đình làng mạc. Thử tưởng tượng: đối với ngưòi phụ nữ trong xã hội phong kiến ngày xưa, hàng ngày phải giữ gìn từng lời ăn tiếng nói, phải giới hạn cuộc sinh hoạt sau cánh cửa..., bỗng dưng có dịp được đi xa hàng mấy ngày đường, đi đò, ngủ quán, ăn đường, chen vai thích cánh giữa đám đông, gặp bạn bè gái và trai v.v... Đó phải là những kỷ niệm khó quên, quý giá trong đời.
    Hội hè là mở cấm, là xả hơi. Trong xã hội Á Đông, nó là một thích thú đối với đàn ông, nhưng nhất là một đền bù để làm quân bình nếp sống của người đàn bà tội nghiệp.
    * * *
    Nghĩ đến cái khía cạnh ấy của hội hè trong một chuyến viếng thăm Châu Đốc vào ngày lễ bà Chúa Xứ, tôi bỗng thương cho người đàn bà miền Trung.
    Tại sao người miền Trung không có hội hè?
    Ngoài Bắc có hội chùa Thầy, hội chùa Hương, hội đền Hùng v.v... Trong Nam có ngày vía bà Chúa Xứ, bà Đen, có ngày của đức Phật Thầy Tây An, ngày của đức thầy Hòa Hảo v.v... Đứng dưới chân núi Sam vào ngày 25 tháng Tư âm lịch, tôi không nhớ có một cảnh nào tương tự như thế ở ngoài Trung.
    Ở Trung, có lẽ chỉ có một miền cố đô Huế là người đàn bà tìm được cái sinh hoạt hội hè ở điện Hòn Chén, ở những đám lên đồng v.v... Ngoài ra, tại bao nhiêu tỉnh khác, không có gì quấy động nếp sống cần cù, khuôn phép của phụ nữ.
    Lý do nào đưa tới sự thiệt thòi ấy của người đàn bà miền Trung?

    Lễ bái hiện đại hóa

    Một người địa phương kể chuyện: năm nọ, vào ngày vía Bà, ông ta bị kẹt xe tại chân núi Sam vào khoảng mười giờ sáng, đến năm giờ chiều mới về tới nhà, ở tỉnh lỵ.
    Đành rằng bấy giờ quãng đưòng ấy hẹp và xấu, tuy nhiên núi Sam chỉ cách tỉnh lỵ Châu Đốc có năm cây số: kẹt đến như thế là quá cỡ. Đủ biết ngày vía Bà người ta đổ về núi Sam đông đến chừng nào.
    Tiếc rằng một nơi thu hút nhiều du khách đến thế lại không có thứ kỷ vật gì để du khách mua về. Khách từ xa đến, tò mò, có thể uống tại chỗ thứ nước thốt nốt chứa trong ống tre. Nhưng mua để mang về làm kỷ niệm, họa chăng chỉ có đồng xu cạo gió kẹp vào cán gỗ tiện. (Thực ra, đồng xu cạo gió ấy cũng đã tiến về các lề đường Sài Gòn từ lâu). Còn lại bao nhiêu những thứ bày bán ở trước các miễu, các chùa tại đây, hầu hết hoặc là sản phẩm của Campuchia, hoặc là của Trung Quốc qua từ ngả Campuchia, hoặc là sản phẩm của... Sài Gòn, Chợ Lớn!
    Giá có được những xâu chuỗi hột, những tượng Phật gỗ, những món đồ đan nho nhỏ v.v... sản xuất tại địa phương. Ở đây không có ngành thủ công nghệ nào đặc sắc chăng?
    Tại Đà Lạt chẳng hạn, nơi mà du lịch được khai thác theo quan niệm Tây phương, ngưòi ta không quên trù liệu kỷ vật cho khách: phong lan, nhà sàn, nhạc khí người Thượng, khung hình ghép bằng mảnh vỏ thông, trái thông ghép hình con gà, con phụng v.v...
    Nhưng du lịch theo quan niệm Tây phương lại chỉ dành cho tầng lóp trưởng giả, không phải là lối du lịch của quần chúng. Giả sử ở thác Prenn có được một cái đền, một cái miếu để đến xin xăm cầu tài. Khách thập phương sẽ đổ về đông hơn biết bao.
    Do đó, hình như có một khía cạnh tâm lý trong sinh hoạt tín ngưỡng ở ta, ở một số dân Á châu, mà ngành khai thác du lịch tưởng nên chú ý đến. Không có ngôi chùa danh tiếng Phật quốc tự, có lẽ người Đại Hàn khó lòng vời thỉnh được ai lên tận đỉnh núi Thổ Hàm sơn ở Khánh Châu (Kyongju). Giữa Nhật Nguyệt đàm bên Đài Loan có ngôi chùa Huyền Quang...
    Nếu những chùa Huyền Quang, chùa Phật quốc nọ chưa lôi cuốn được số khách thập phuơng đúng mức, thì còn nên xét đến một điểm này: thiếu xin xăm cầu tài chăng?
    * * *
    Sáng ngày 25 tháng Tư âm lịch năm nay, vào khoảng mười giờ, số thu tại miếu bà Chúa Xứ lên đến 10.870.000đ. Ngót mười một triệu bạc.
    Cho đến mãn ba ngày vía, số thu sẽ đến bao nhiêu? Và số thu của ngân sách toàn tỉnh trong một năm liệu có đuợc gấp ba lần thế chăng?
    Miễu bà Chúa Xứ không phải là thành công duy nhất ở trong Nam. Lăng Ông Bà Chiểu, miễu Bà Đen ở Tây Ninh v.v..., hàng năm cũng có những khoản thu lớn lao. Như vậy đây không phải là nhũng trường hợp thành công ngẫu nhiên; đây là sự gặp gỡ ở một công thức khai thác thích hợp.
    Chiêm bái thần thánh mà có dịp đi đôi với xin xăm cầu tài thì tuyệt. (Cũng như thưởng lãm thắng cảnh mà đi đôi với chiêm bái thánh thần là điều rất tốt).
    Riêng tại miễu bà Chúa Xứ còn có thêm một sáng kiến. Khách đến cúng vái có thể "vay" của Bà một món tiền nhỏ hai chục đồng. Tờ bạc ấy đem về cất vào tủ, giữ lấy hên trong năm, nếu làm ăn buôn bán phát tài thì năm tới khách đi lễ vía, trả Bà cả vốn lẫn lời. "Lời" là một đôi trăm, năm ba nghìn đồng chăng? Tùy khách.
    Một lối khai thác tín ngưỡng như thế không mấy ăn khách ở xã hội nông nghiệp trước kia, ở thời kỳ của những chùa Hương, chùa Yên Tử v.v... ngoài Bắc. Ngày ấy, đa số khách trẩy hội vốn là nông dân. Bây giờ, con số những ngưòi sống bằng áp-phe, bằng buôn bán, bằng kinh doanh... mỗi ngày mỗi đông. Hình thức chiêm bái thánh thần cũng phải tùy thời biến đổi.
    Mặc dù thần thánh không làm ăn, chỉ có con người mới phải vất vả làm ăn thôi, nhưng lề lối làm ăn của con ngưòi đã ảnh hưởng rõ rệt vào lề lối phụng thờ thần thánh.
    Từ chùa Hương của thời kỳ kinh tế nông nghiệp ngoài Bắc cho đến những lăng miễu có tủ sắt lớn, có Bà cho "vay" bạc, cả một xã hội mà hoạt động thương mại phát triển như trong Nam ngày nay, ta thấy đời nào đạo ấy.
    Việc lễ bái tự nó lặng lẽ cải cách, lặng lẽ hiện đại hóa. Không chờ ai hô hào.

    Mắm và dân tộc

    Đi Châu Đốc không nên chỉ biết đến lễ bái mà không biết đến mắm. Đi, có thể vì Phật lắm; nhưng về, vẫn nên về với mắm, ít ra tí chút để làm quà. Nếu không, e không khỏi bị chê bai là dốt nát về các thứ vật báu của đất nước.
    Mắm không phải là kỷ vật, càng không phải là kỷ vật của khách hành hương. Kỷ vật cốt để cất giữ lâu dài, còn thứ vật báu của chúng ta cốt để tiêu thụ nhanh. Tuy nhiên, mỗi lần gợi đến những kỷ niệm hành hương về hướng núi Sam, kỷ niệm không khỏi phảng phất mùi mắm trèn, mắm thái...
    Mới độ nào nói chuyện thơ Chàm ở Bình Thuận qua loa đại khái, chưa đi đến đâu, đã vội lảng sang chuyện mắm mòi(1). Bây giờ đang từ chuyện lễ bái ở miền Năm Non - Bảy Núi(2) lại nhảy sang chuyện mắm trèn! Như thế chịu được sao?
    - Quả thực mắm chưa từng có nhiều dịp sóng đôi với thi ca, với tín ngưỡng. Nhưng xét cho cùng kỳ lý, một
    1. "Mình với ta".
    2. "Khi quần chúng du lịch".

    địa vị ưu tiên dành cho món mắm ở xã hội ta không phải không xứng đáng.
    Phần lớn các dân tộc khác trong thời cổ đại lấy săn bắn làm chính. Dân tộc ta lấy chài lưới làm chính: dân tộc khác tìm chất đạm trong thịt thú, dân tộc ta tìm chất đạm trong cá mắm. Trong các hang động người cổ sơ ở Âu Phi chất chứa nhiều đống xương thú vĩ đại; trong các di tích tiền nhân để lại trên đất nước ta chỉ còn lại những đống vỏ sò lớn lao, chỉ có dấu vết thức ăn thủy sản.
    Cũng trong các hang động tiền sử bên Âu Phi, người ta tìm thấy nhiều bức bích họa quý giá, vẽ hình thú vật săn bắn. Trong các hang động tiền sử của ta, cho đến nay tuyệt nhiên chưa phát giác ra một loại bích họa nào như thế.
    Vậy chim với thú, săn với bắn, vậy cái ăn của nhiều dân tộc khác đã đưa họ tới một chiều hướng nghệ thuật với những ngành nghệ thuật sở trường khác hẳn ta. Vậy dân tộc ta không sớm trau dồi về hội họa, cá mắm cũng có; phần nào trách nhiệm trong vấn đề nghệ thuật đó chăng?
    Và biết đâu cá mắm chúng đã khỏi dính líu đến chuyện tín ngưỡng? Bởi vì, ở các dân tộc chuyên nghề săn bắn, những hình vẽ chim thú bị tên bị giáo đâm, trên cán búa, trên vách hang cổ sơ v.v... không phải chỉ có mục đích trang trí mà còn có ý nghĩa phù phép, tín ngưỡng. Cái ăn của họ ảnh hưởng đến sinh hoạt tinh thần, thiêng liêng của họ như vậy; cái ăn của ta sao có thể kém quan trọng?
    Bởi vậy, chẳng những nên nói về mắm, bên cạnh thi ca lễ bái, mà lại nên nói kỹ nói nhiều. Thậm chí, giá viết được một cuốn toàn thư về mắm Việt Nam càng hay: đó là một công trình lập ngôn có mùi vị dân tộc không thể chối cãi, tha hồ trường tại với non sông.
    Ôi, một tác phẩm trong đó mắm cà Nghệ An, mắm sò ở Lăng Cô, mắm cá rảnh ở Phan Thiết, mắm ruốc Vũng Tàu, mắm trèn ở Châu Đốc, mắm thơm mắm mít miền núi, mắm cá đồng ở Hậu Giang, mắm cua ở Bình Phú, mắm tôm ở Bắc v.v... cho đến cái thứ nước mắm cá linh bắt đắc dĩ của Việt kiều trên đất Miên năm xưa, bấy nhiêu quần hùng cùng tề tựu đủ mặt, để phát huy chân bản sắc, để kể lể về lai lịch ngọn nguồn, về từng cái hoàn cảnh ra đời riêng tây, về từng chỗ sở trường sờ đoản của nhau v.v..., một tác phẩm như thế là một cái gì rất đáng ao ước. Nhưng rất khó thực hiện. Bởi lẽ phải là một đấng thiên tài mới thực hiện nổi.
    Góp nhóp các cách làm mắm, dùng mắm, để chỉ dẫn những điều thực tiễn thì khối người làm được. Còn biết thưởng thức và phát huy cho đúng, cho đến nơi đến chốn cái "hay" của hết thảy các thứ mắm, công việc đó dành cho hạng nghệ sĩ thiên tài, có cái lưõi bắt được của trời.
    Lưỡi ấy, tài ấy, tôi không có. Cho nên bất quá chỉ dám khoe cái ngon củạ mắm mòi mà không dám xía vào cái ngon của mắm trèn. Cá mòi đã bỏ Phan Thiết mà đi; nghe đâu vào độ Phan Thiết bắt đầu mất cá mòi thì ven biển xứ Pérou bỗng lại xuất hiện vô số cá mòi.
    Pérou: dân tộc xa xôi ấy ăn uống ra sao nhỉ? Phong thổ, đất đai, cây cỏ bên ấy ra sao nhỉ? Liệu cá mòi có cơ hội ngộ chăng với một thứ lá cây chát chát nhự lá sộp? Liệu nó có khỏi bị vô hộp sắt như muôn vàn thứ cá xoàng xĩnh khác trong thời buổi kỹ nghệ máy móc này?
    Bao nhiêu lo âu, thắc mắc hướng về thân phận con cá mòi ở nơi biển khách! Nỗi thắc mắc căn cứ trên sự tin tưởng rất chủ quan rằng trên thế gian không dễ được mấy dân tộc có thiên tư về mắm như dân tộc ta.
    Đối với mắm mòi cố tri thì thế, nhưng đối với mắm trèn mắm thái thì không dám đường đột. Danh tiếng đã lừng lẫy đấy, nhưng hãy còn xa lạ thế nào. Nếu có phải nói đến, sẽ chỉ dám nói về mối liên hệ lạ lùng giữa các bà giáo cùng các món mắm trong Nam, hay về các thứ hũ đựng mắm mà thôi.

    Của mắm và người

    Nếu là một bà giáo, là hai bà giáo, thì có thể nghĩ rằng đó là chuyện ngẫu nhiên, là sự gặp gỡ tình cờ của đôi gia đình trong việc nữ công.
    Lại nếu là việc xảy ra ở một tỉnh một quận nào đó thôi, thì có thể cho là đặc điểm sinh hoạt của địa phương.
    Đàng này, ở Vũng Tàu, Bà Rịa, ở các bắc Mỹ Thuận, bắc Vàm Cống, ở Châu Đốc..., đâu đâu các món mắm ngon bày bán phần lớn cũng mang nhãn hiệu của một bà giáo! Tại sao không phải là bà thông bà phán nào, là bà bác sĩ kỹ sư nào, là bà Năm bà Bảy, bà Hiệp Lợi, bà Phát Thành v.v..., tức là một nhà buôn nào? Làm sao giải thích được sự chọn lựa đầy thiên vị của mắm miền Nam? Giải thích được cái duyên nợ giữa giáo chức miền Nam vói món ăn thuần túy dân tộc?
    Ai có thể vì mắm mà "nói lên" ý nghĩa của cái hiện tượng ấy?
    Mặt khác, các thứ hũ chai đựng mắm ờ đây dường như chúng cũng đòi "nói lên" một ý nghĩa nào đó.
    Mắm là thứ ướt át và có mùi. Nhung mua mắm ở chợ Châu Đốc chẳng hạn, khách hàng khỏi lo lắng: có những thứ bao thứ bọc thích hợp, có những lọ bằng thủy tinh, lọ bằng nhựa, vừa đẹp vừa kín. Mang món quà như thế đi đường không có chút gì bất tiện; khách có thể mang thẳng lên phi cơ mà nhân viên kiểm soát không để ý đến.
    Thực ra mắm thái mắm trèn có là bao, so với sản lượng mắm của những trung tâm danh tiếng từ lâu đời: Phan Thiết, Mũi Né, Phú Quốc v.v... Thế mà du khách không thể tìm được một món quà mắm trình bày tiện lợi thích ý ở các trung tâm sản xuất lớn lao kia.
    Chỗ đặc điểm này hình như có thể cho phép nghĩ đến một khía cạnh tâm lý. Tâm lý, dĩ nhiên không phải của mắm, mà là của người. Người miền Nam.
    Miền Nam có những điều làm cho người ngoài Trung mới vào lấy làm ngạc nhiên một cách thích thú. Chẳng hạn đi chợ mua cá, giá cả xong xuôi, lập tức cá được vót ra đập đầu, lóc da, mổ ruột, làm thịt sẵn sàng, bỏ vào bọc nhựa sạch sẽ. Mua gà, mua vịt? Cũng thế. Mua xong, mang đến một chỗ có "chuyên viên" chờ sẵn, vứt đấy; một lát sau trở lại thì gà vịt sống đã thành ra một bọc thịt có thể cho ngay vào xoong chảo. Nếu khách không bận mua thứ gì khác, thì trong khi chờ "chuyên viên" làm thịt gà vịt, khách có thể ngồi xuống cạnh đó nghỉ chân, để cho một vài "chuyên viên" khác làm móng tay, móng chân v.v... Móng tay xong, thịt gà cũng vừa xong. Lại chẳng hạn, có những thứ cá khó trị, như cá thác lác: cá thì dẹp, thì nhỏ, mà phải lóc da, lừa xương, chọn lấy toàn thịt để dùng. Công việc rắc rối ấy sẽ làm nản lòng vô số bà nội trợ, nếu người bán hàng ở miền Nam này không làm giúp tất cả: họ ngồi giữa chợ, lấy thịt thoăn thoắt hàng vạn con cá thác lác như thế, chờ đổ vào bọc ny lông cho khách.
    Chợ ngoài Trung đâu có vậy. Có lẽ cả ngoài Bắc cũng không.
    Lại nữa, hãy xem cái cách bán mía, bán trái cây ở mỗi miền. Ngoài Trung, trước kia, không ai nghĩ ăn mía mà khỏi xiếc mía. Ở trong Nam, để khách khỏi xiếc, người bán róc sẵn từng khúc. Khỏi xiếc, có thể khách còn lười cắn chăng? Người bán cắt sẵn từng miếng bỏ bọc hay ghim vào que. Nhưng khỏi xiếc, khỏi cắn, khách còn đòi khỏi nhai mía nữa thì sao, liệu có cách ăn khỏi nhai chăng? - Có. Người bán ép mía thành nước.
    Mặc dù, cho đến nay, người bán mía trong Nam chưa nghĩ ra cách giúp khách hàng dùng mía mà khỏi phải nuốt; nhưng họ cũng đã đi quá xa, so với đồng nghiệp các miền ngoài.
    Bán rau thì thái sẵn, trái cây thì gọt vỏ sẵn, chẻ sẵn v.v..., tất cả đều là quá xa trong sự chu tất.
    Tại sao vậy? Ngưòi Nam đâu có xuất sắc về đức cần cù, chịu thương chịu khó? Nhất là khi so sánh người nông dân của miền Nam phì nhiêu mỗi năm làm một mùa lúa sạ, với người nông dân của miền Bắc đất hẹp dân đông, của miền Trung cằn cỗi? Vậy làm sao cắt nghĩa cái tâm lý vừa ưu du nhàn dật, vừa kỹ lưỡng chu đáo, vừa lười vừa siêng của người miền Nam?
    Phải chăng nét tâm lý đó là của một xã hội đã có hoạt động thương mại phát triển cao? Ở xã hội nông nghiệp, ngưòi nông dân siêng nhất chỉ siêng với lúa, với ruộng, với hoa màu; cái siêng ấy không hướng về một thứ khách hàng nào. Nông dân không có khách hàng. Trái lại, ở đô thị, cái siêng năng của thương gia chuyển thành một tâm lý cố gắng phục vụ khách hàng. Thế cho nên ở ruộng, người miền Nam không nổi tiếng cần cù, nhưng ở chợ ở phố họ chu đáo.
    Vả lại, họ được những cơ sở công kỹ nghệ của một miền tiến bộ về kinh tế tiếp tay. Họ cần cái máy ép nước mía, cần thứ lọ thứ chai ra sao, thứ hộp thứ bao gì: đã có chỗ sản xuất sẵn sàng cung cấp. Những nhà làm mạch nha kẹo gương ở Quảng Ngãi, làm mè xửng ở Huế v.v... thiếu hẳn cái lợi thế đó, cho nên các sản phẩm kia trình bày xấu xí.
    Sau cùng, không thể không công nhận cái bén nhạy, phong phú sáng kiến của lớp ngưòi mới ở một miền đất mới: con dao róc mía, gọt vỏ trái cây, thái rau v.v... có thể ra đời ở bất cứ lò rèn nào; nó chỉ ra đời ở những lò rèn trong Nam.
    10-1971

    Những đám khói

    Mỗi lần đi đâu về, tôi thường mất đi mấy hôm. Trong người ngầy ngật, lờ đờ, không thích hoạt động, không thấy hào hứng bắt tay làm một việc gì.
    Về Sài Gòn là trở về với công việc. Nhưng không khí hoạt động của Sài Gòn không dễ xóa nhanh được ấn tượng còn vương vấn trên các giác quan. Ấn tượng của nơi vừa sống qua mấy hôm. Hoặc tiếng kêu lốc cốc leng keng đuổi theo những đàn bò mỗi chiều kéo về dọc bờ sông Ba, bò đeo mõ đeo lon dưới cổ, con lớn con bé lũ lượt trên một bãi sông nhiều rau răm đồng, tiến về một xóm đầu sông khuất trong sương khói lù mù bên cạnh thị xã Cheo Reo. Hoặc cái bóng mát của một đám mây, vào buổi trưa thanh vắng, thong thả lướt từ ngọn đồi nọ sang ngọn đồi kia trên thành phố Gia Nghĩa tịch liêu. Hoặc tiếng gió Lào ở Quảng Trị, tiếng gió "nam cồ" ở Phú Yên, làm nôn nao cả ruột gan, làm náo động những đêm hè. Hoặc cái màu hoa muồng vàng trên các tỉnh cao nguyên. Hoặc những giờ lướt bằng "tắc ráng" trên các con rạch, con xẽo ở Hậu Giang...
    Những cái đó không dễ xóa nhanh. Sau khi tiếp xúc với chúng, ta trở về Sài Gòn, các giác quan ta vẫn còn lưu luyến với chúng. Các giác quan như vẫn còn no nê. Cần có một thời gian nghỉ ngơi để tiêu hóa những cái đó.
    * * *
    Và một trong nhữhg hình ảnh tan biến chậm chạp nhất trong cảm quan tôi là hình ảnh các đám khói ở chân trời miền đồng quê Kiến Tường.
    Mùa nắng, đưòng tốt, xe đò chạy từ Cai Lậy đến Mộc Hóa, cách nhau bốn mươi sáu cây số, mất chừng hai tiếng đồng hồ: Mỗi giờ hăm ba cây số. (Và mùa mưa thì gian nan hơn, chậm hơn nhiều).
    Xe lắc lư bò dọc theo con kinh Mười Hai. Bò thong thả, thế mà bụi mù cũng đủ làm khổ sở những ngôi nhà bên đường. Nhà sơ sài, vách lá, nền nhà và sân đất khô nứt nẻ đường ngang đường dọc thật lớn và thật sâu, bờ hè lở như cóc gặm. Vườn cũng sơ sài như nhà: không có cây ăn trái, cũng không có được bao nhiêu thứ cây, quanh đi quẩn lại hình như sân vườn nào cũng chỉ được mấy cây tràm.
    Nhà như thế, vườn như thế, cảnh ngoài đồng càng sơ sài hơn: trống không đến tận chân trời.
    Không có làng mạc nào cả; bấy giờ là cuối tháng giêng đầu tháng hai, không có hoa màu nào cả. Chỉ có cỏ ngập mênh mông; và thỉnh thoảng, xa xa, một vài chòm cây - hoặc tre hoặc me tây - những thứ cây chịu đựng được cả nắng hạn cả mưa lụt.
    Trên cánh đồng trống trải và rộng như thế, lâu lắm mới thấy một dáng người loay hoay. Và người đâu, thường có cờ đấy. Vâng: cờ, tức quốc kỳ.
    Ở đây, người thưa thớt quá. Trên đồng vắng, một đôi người lơ thơ dễ bị máy bay nhận lầm là quân du kích. Để khỏi bị bắn bậy toi mạng, người dân ra đồng làm lụng thường cắm cây cờ bên cạnh. Một chiếc roi xỏ vào một lá cờ, ghim sâu xuống đất, thế là an tâm. Một người câu cá: một lá cờ. Đôi ba mẹ con lúị húi xới đất: một lá cờ. Một trẻ mục đồng: một lá cờ...
    Dân thị thành tha hồ nghĩ đến những lá cờ cắm trước đầu xe các ông tổng thống, thủ tướng, các nhân vật chính quyền được tiền hô hậu ủng v.v... và tha hồ nghĩ ngợi về tầm quan trọng của mỗi người dân ở đây. Phải, ở đây mỗi người đều quan trọng: không phải từng gia đình cần xác nhận lập trường bằng một lá cờ sơn vẽ trước nhà, trên vách, mà gần như mỗi cá nhân cũng xác nhận công khai giữa trời cho ai nấy biết rõ màu sắc chính trị của mình. Để cho giản tiện, trên vùng lãnh thổ "an ninh đến chín mươi phần trăm" này, nhà nước nên khuyên dân chúng khi ra khỏi nhà, mỗi người dắt sau lưng áo hai lá cờ, như Tạ Ôn Đình trên sân khấu...
    Trên cánh đồng như thế, một buổi xế trưa đầu mùa xuân năm nay, tôi có dịp đi về một làng biên giới. Đồng không mông quạnh. Ở chân trời, vài đám khói ùn lên, chậm chạp, tỏa cao và rộng. Khói đốt cỏ: Nông dân phát cỏ, dồn lại đốt, để chuẩn bị làm mùa. Chao ơi, những đám khói đốt cỏ ở chân trời trong nắng trưa, sao mà xúc động, cảm hoài. Những đám khói kể lể nỗi niềm bao la cuối một chân trời mênh mông. Đứng him mắt mà trông: khói lặng lờ, không vội vã, khói bát ngát, nhẫn nại, xa vời; hàng giờ hàng giờ, khói tỏa, vừa hiền từ vừa mơ mộng...
    Sau một ngày đi, mệt mỏi, tê mê, đến đêm ta vừa đặt lưng xuống nằm ngủ, những đám khói ấy lại ùn lên trong giấc mơ. Và trong giấc mơ, không gian mênh mông càng vắng lặng, khói tỏa càng chậm, càng bát ngát...