13.vancuong7975(xong)WIKI

23/11/15
13.vancuong7975(xong)WIKI
  • Link docx

    Link pdf

    - Phóng viên Winchell đóng vai gì trong vở kịch này?

    - Người ta gọi hắn, hứa với hắn một vụ giật gân. Nếu vi phạm hắn phải làm trung gian: thoả thuận với FBI.

    - Buchalter tin tất mọi chuyện này?

    - Vâng. Đầu óc nó không được thông minh cho lắm. Nó đạt được mọi thứ đúng hơn là bằng hàng loạt xác chết.

    - Vâng. Khuya ngày 25-8-1939, nóng như dưới địa ngục. Lepke ở Boollyn, phố 3. Hắn lên xe, sau vô lăng là Anastasia, đi đến Manhattan, tới góc phố 5 và phố 28. Ở đấy Hoover đã chờ sẵn, đưa hắn sang xe của mình do phóng viên Winchell lái và đi thẳng tới nhà giam. Thế là xong mọi chuyện!

    Người mà Buchalter và cả những tên găngxtơ khác lo sợ, không phải là giám đốc FBI Hoover, mà là chính uỷ viên công tố Thomass Dewey, ông đã tiến hành chiến dịch chống tổ chức tội ác với một tốc độ làm chóng mặt không những găngxtơ, mà cả các nhân viên FBI. Mọi người đều biết tên tuổi và thứ tự trong danh sách các găngxtơ bị truy nã của ông và ông cũng đã gặt hái những thành công đầu tiên. Khi Ông đưa vào nhà lao thậm chí cả vua thế giới ngầm Luck Luciano, những tên găngxtơ khác lo sợ rơi vào tay ông. Buchalter chỉ đồng ý nộp mình cho FBI nếu giám đốc Edgar Hoover đảm bảo không giao y cho uỷ viên công tố Dewey.

    Nghe nói Hoover đồng ý với điều kiện đó, nhưng sau này ông ta không giữ lời hứa. Khi Buchalter bị kết án 14 năm tù vì tội buôn bán ma túy trái phép, người ta giao y cho Thomas Dewey luận tội. Hội đồng dự thẩm kết án y thêm 30 năm tù giam vì các tội khác nữa. Những chuyện mặc cả với pháp luật, mua bán giữa FBI với những tên tội phạm quả là khó tin, nhưng luật xử án và hình phạt Hoa Kỳ có khác với các nước khác ở đây móc ngoặc và đàm phán theo nguyên tắc “có đi có lại” là có thể. Luật sư bào chữa có thể mặc cả với chánh án về các điều kiện để thân chủ của ông ta có thể thú tội, cả hai bên có thể thỏa thuận ngay trong vụ án của mình và sau đó y không bị truy tố nữa nhiều khi xảy ra những thỏa thuận trong phạm vi pháp luật như sau: ủy viên công tố bảo đảm không xử tội phạm vì tội y bị truy tố nữa, nếu y thú nhận những hành động phạm pháp khác chưa có bằng chứng rõ ràng. Điều đó giải thích tại sao Buchalter lại tự nộp mình cho cảnh sát, Y tin vào lời hứa, không phải không có cơ sở trong quan hệ ở Mỹ, và y bị người ta lừa.

    Một điều thú vị là trong mắt công chúng, kẻ có tội và kẻ lừa đảo lại chính là giám đốc FBI Hoover. Báo chí kết tội ông ta phản bội không giữ lời. Cũng trong dịp này, các chi tiết đàm phán được đưa lên trên bề mặt lấy danh nghĩa hiệp hội tội ác, nhà báo Walter Winchell sắp sếp cuộc gặp mặt giữa Frank Cosiello và Hoover, găngxtơ đề nghị đổi chác trong vụ Buchalter và sếp FBI gật đầu. Thế là dẫn đến vụ bắt găngxtơ có một không hai. Ngày 24-8-1939 do chính giám đốc FBI Hoover thực hiện không vũ khí, vì đó là điều kiện của mafia. Chỉ có phóng viên Winchell trợ giúp lái xe.

    Sau này người ta tranh luận nhiều về màn kịch cảnh sát trên và cho đến ngày nay, nó vẫn còn là vấn đề tranh cãi. cần phải nhấn mạnh rằng, màn kịch trong lịch sử mafia này được dàn dựng ở Hoa Kỳ vào năm 1939 và không thể đánh giá các quan hệ và suy nghĩ của người Mỹ bằng tiêu chuẩn và tập quán của chúng ta. Thành công cá nhân và cơ sở của nó -sự quảng cáo là trên hết và không ai lên án điều đó cả Hoover gặp dịp và ông ta, cũng giống như bất cứ ai khác, kể cả uỷ viên công tố Dewey, không bỏ lỡ cơ hội.

    Báo chí lên án Hoover không có lập trường, hứa một đằng làm một nẻo. Giám đốc FBI phải lý giải hành động của mình. Ông ta tuyên bố rằng cuộc chiến với găngxtơ không có nguyên tắc nào cả. Với những tên tội phạm, không có thỏa hiệp hay đàm phán, mà ngược lại, mọi mánh lới đều được phép. Làm gì có vấn đề danh dự trong trận chiến của những người bảo vệ pháp luật chống tội ác”.

    Quả là Buchalter phải trả giá cho sự tin người của mình, nhưng y cũng chẳng còn cách nào khác. Y phải chạy núp dưới sự bảo vệ của cảnh sát, vì bên ngoài y không thể sống nổi. Lucky Luciano đã kết án y. Người làm môi giới. Wolenski, sợ hãi và biến mất. Năm 1945 lại xuất hiện trên đất Mỹ và cho là người ta đã quên, nhưng Alberi Anastasia đã cho người giết gã.

    Thứ sáu, ngày 22-3-1940. Trong văn phòng uỷ viên công tố ở Brooklyn, một phụ nữ trẻ, tâm trạng bối rối một mực yêu cầu cho nói chuyện với phái viên chính phủ William O’Dewey. Lính gác dẫn cô ta đến gặp Burtơn Turkus, phó của O’Dewey.

    - Bà hãy ngồi xuống, - uỷ viên công tố Turkus nói, - và bình tĩnh lại. Có chuyện gì xảy ra vậy?”

    - Tôi là Reles, vợ của Abe Reles- người phụ nữ tự giới thiệu và nhìn người uỷ viên công tố trẻ.

    - Vợ của Kip Twist Reles? - ông ta hỏi.

    - Vâng.

    - Thế bà cần gì ở tôi, bà Reles?- Burton Turkue nói,- Chồng của bà đang ở trong tù cơ mà.

    - Tôi vừa mới thăm nhà tôi xong, anh ấy bảo tôi: đến gặp các ông. Tôi phải nói lại với các ông rằng, anh ấy sẽ làm mọi việc để được tự do. Anh ấy sẽ khai, sẽ nói hết với các ông. Tôi có mang, còn anh ấy thì chờ lên ghế điện. Anh ấy muốn làm điều này vì đứa con của chúng tôi.

    -Thông báo này gây chấn động như một quả bom. Sau này, Valachi và sau y là Vincen Teresa cũng khai trước ông kính ti-vi, nhưng Abe Reles là người đầu tiên.

    Ủy viên công tố Turkus đề nghị tòa án tối cao cấp giấy phép, bảy giờ tối ông tới nhà giam chở Reles về văn phòng công tố viên. Mười giờ tối, Ủy viên công tố O’Dewey bắt đầu cuộc hỏi cung lịch sử trong quá trình đấu tranh chống tổ chức tội ác ở Hoa Kỳ.

    Reles là một người lùn xấu xí với mặt rỗ, môi dày và mắt lồi nhỏ, tai dựng đứng, chân ngắn và tay dài như tay vượn. Y là người bẩn thỉu, một trong các tòng phạm nói về y như vậy, một tên giết người máu lạnh. Y chẳng có quan hệ nào với ai bao giờ. Y chỉ quan tâm tới tiền và chỉ có những xếp dày đôla mới làm y xúc động.

    Bây giờ y đang ngồi trong văn phòng công tố, đảo mắt hết nhìn O’Dewey và Turkus lại nhìn ra cửa, nơi các nhân viên cảnh sát đứng gác. Y vênh váo đóng vai găngxtơ quan trọng biết giá của mình, trong khi y là đứa tiểu nhân và y đang lo sợ.

    - Tôi chỉ khai với điều kiện nhất định - y mở đầu.

    - Anh nói đi,- uỷ viên công tố O’Dewey nói.

    - Ông bảo đảm tôi được thả.

    - Tôi không thể hứa với anh điều đó.

    - Ông phải làm điều đó. Những chuyện tôi nói ra sẽ làm ông thành người nổi tiếng nhất nước Mỹ.

    - Tôi không quan tâm tới cái đó.

    - Nhưng ông có quan tâm, tôi biết. Ông không biết tôi có thể làm sáng tỏ những chuyện gì, 50 vụ giết người chưa được điều tra, có thể còn nhiều hơn nữa. Thế nào, đồng ý chứ?

    Cuộc mặc cả kéo dài suốt đêm, cho tới bốn giờ sáng thứ bảy thì đi đến thảo luận: mọi chuyện mà Reles khai ra thì không được dùng để chống lại y, và y chỉ ra tòa như nhân chứng. Người ta cho gọi người ghi tốc ký đến và Reles, với trí nhớ tuyệt vời, đọc chính tả liên tục mười hai ngày liền, 25 phần khai với ngày giờ chính xác, tên địa điểm, kể cả cách thức giết người, đó là kết quả của bản khai. Nghe đâu các dữ liệu từ biên bản khai đã giúp làm sáng tỏ khoảng 200 vụ giết người chưa điều tra. Từ sáng đến tối, Abe Reles hồi tưởng lại sự nghiệp găngxtơ của mình, tội ác của mình và của cả những tên khác. Buổi tối người ta chở y trong một xe tư, với đội hộ tống mặc thường phục, đến Brooklyn, ở đó người ta thuê một phòng khách sạn Bossert cho y. Viện công tố coi việc giữ bí mật là quan trọng nhất, cho nên khi chỗ ở của Reles ở khách sạn Bossert có cơ bị lộ, người ta thuê một phòng trên tầng sáu của khách sạn Half Moon, ở bãi biển trên đảo Coney Island.

    các đơn vị đo lường củ của Anh; 1 inch =2.5 c m 1 foot -12 inch, 1 pound ~0,49 kg.

    8

    The Detective Division, Police Department, New York City, phòng điều tra sở cảnh sát thành phố New York.

    9

    Y dis là hỗn hợp tiếng Đức, tiếng Do Thái và các thứ tiếng Xlavơ được người Do Thái ở các nước Đông Âu sử dụng 236

    Abe Reles trong thực tế tên là Mazz Zweibach, một người nào đó gọi y là Kid Twist Reles và y lấy đó làm biệt hiệu. Y bắt đầu sự nghiệp tội ác ở Brooklyn, trong khu phố Brownsville và Ocean Hills, trong lãnh thổ của băng anh em Shapiro. Trong thời kỳ cấm rượu, y sống bằng buôn lậu rượu, kiếm tiền ở một số sòng bạc và hộp đêm trái phép. Thanh niên Reles học thành “nghề” và với 50 đôla hàng tuần, y giết người theo lệnh của sếp. Một lần y đã một chân trong tù, nhưng anh em Shapiro có người ở khắp nơi, kể cả cảnh sát và với món tiền hối lộ lớn, y lại được tự do. Trong dịp này, Reles nhận thức được giá trị của mình và y từ chối làm việc với năm mươi đôla bố thí. Y yêu cầu sếp Meyer Shapiro chia phần. Tất nhiên là anh em Shapiro không chấp thuận đề nghị của y, thế là Reles tự ái và thề sẽ trả thù.

    Reles quay ra liên kết với găngxtơ chuyên nghiệp Dugsy: Goldstein, bạn học trước kia của y. Khi còn là những đứa trẻ, chúng đã cùng nhau đi ăn cắp, Reles nói với Goldss tein là đã đến lúc tự đứng bằng chân của mình, chấm dứt cuộc đời làm thuê. Chúng rủ rê một vài gái điếm, kết nạp Frank Annandande, một găngxtơ từng trải và năng nổ, thuê một chỗ rẻ tiền và thế là một hộp đêm của liên doanh Reles và Goldstein ngang nhiên hành nghề ở giữa lãnh thổ của anh em Shapiro. Ngay từ khi còn trẻ, Reles đã không từ bất cứ việc gì, đánh lộn và giết người là niềm vui của y cho nên y không hề sợ sếp cũ của mình. Ngược lại, y tuyên bố khắp nơi là sẽ cho anh em Shapiro biết cùi chỏ của y cứng như thế nào.

    Mặc dù không coi liên doanh Reles-Goldstein ra gì giới lãnh đạo của băng anh em Shapiro, ít ra cũng vì lý do danh dự, không thể cho phép cạnh tranh trên lãnh thổ của mình. Sứ giả được phái đến truyền đạt mệnh lệnh của Shapiro, dẹp tiệm, cuốn gói khỏi Browasville, nếu không sẽ biết tay anh em Shapiro sẽ chết không kịp ngáp Reles đá sứ giả ra khỏi cửa hộp đêm của y và theo nguyên tắc: ai xuất chiêu trước sẽ có nhiều cơ hội hơn, y chuyển sang tấn công.

    Meyer Shapiro có một chiếc xe hơi mới, bóng lộn đậu trước nhà. Khoảng sau nửa đêm một lát, khi đường phố Brownsville đã vắng tanh, Reles cùng chiến hữu Goldstein đến gần ô tô. Bằng những thanh sắt và đá cục trên đường, chúng biến chiếc xe hòm lộng lẫy thành một đống tôn móp méo. Tiếng động làm Meyer Shapiro thức giấc, y chạy ra và không một lời cảnh cáo, y bắn liên hồi, Goldstein chết ngay tại chỗ, còn Reles thì ôm đầu máu chạy thoát.

    Bây giờ thì anh em Shapiro hiểu đã đến lúc gay cấn và chúng quyết định cho Reles một bài học. Meyer Shapiro nghĩ ra một kế hoạch quả là phi thường. Y muốn đánh Reles xấu xí vào chỗ nhạy cảm nhất. Y biết là Reles đang yêu một cô gái xinh đẹp ở vùng kế cận. Thế là mấy đêm liền y đi tìm cô gái, trong quán ăn trước cửa rạp chiếu bóng, y đến cả quán nhảy, quan sát từng cặp trên sàn nhảy. Sau ba ngày, y tìm ra cô gái tên là Pat mới 18 tuổi và rất xinh. Đầu tiên y lặng lẽcho xe bám sát cô gái, đến một phố nhỏ y bỗng vượt lên trước, dừng xe, mở cửa và chộp lấy tay cô gái kéo vào trong xe. Cô gái giẫy giụa tự vệ, định nhảy ra khỏi xe đang chạy, nhưng Shapiro giữ chặt cô gái bằng tay phải. Y dừng xe ở một chỗ vắng, cưỡng hiếp cô gái rồi sau đó y đánh nạn nhân tới mức không nhận ra.

    - Nói với thằng mất dạy Reles của mày là đây mới chỉ là mở đầu, nếu nó không biến nhanh, -Shapiro nói với Pat rồi lên xe đi mất, bỏ lại cô gái loã lồ đầy thương tích trên đống rác.

    Reles còn chưa hồi phục từ những vết thương bữa trước thì được tin chuyện gì đã xảy ra với người yêu của mình, y chỉ biết nằm trên giường và cắn chặt răng. Sau đó y tháo bỏ bông băng, ngồi dậy và bắt đầu hành động. Trước hết, y phải mộ thêm găngxtơ, vì chỉ với hai người, y chẳng có thể làm gì được băng của Shapiro. Y tìm đến găngxtơ từng trải Louis Capone, một tội phạm với một thực tế phong phú, dù hắn chẳng phải bà con gì với Al Capone khét tiếng. Capone dẫn Albert Anastasia đến Phill Stauss và Maione cũng đến nhập hội. Đó đã là một hội cướp sừng sỏ, có thể bắt đầu ra quân. Tuy tất cả không tạo nên một ê kíp đồng bộ, thậm chí còn cạnh tranh lẫn nhau và một số cũng không ưa gì nhau, nhưng tham vọng làm giàu một cách dễ dàng và có thế cả tính thích phiêu lưu mạo hiểm đã đưa chúng đến với nhau. Sau khi bãi bỏ lệnh cấm rượu, nhiều tên găngxtơ đi tìm đất làm ăn mới, Abe Reles đưa ra cơ hội và chúng vồ lấy luôn.

    Cờ bạc, cho vay nặng lãi và ăn cắp ô tô là nội dung kinh doanh của chúng. Chúng trở thành những người đi tiên phong trong ngành tội lỗi: ăn cắp xe, cho đến nay ở Mỹ và cả ở Ý, đây vẫn là một trong những “kinh doanh” béo bở nhất. Chúng ăn cắp xe mới, thay số khung và số máy, chạy giấy tờ mới và bán xe với giá “mềm” hơn, có khi chúng tháo xe, từ khuya đến sáng, để lấy phụ tùng. Tuy vậy, chúng thành công nhất trong các tổ chức công đoàn, tống tiền cả công đoàn lẫn chủ nhà máy, ai không trả tiền “bảo hiểm” sẽ phải nhanh chóng trả giá đắt hơn nhiều, có khi chính bằng tính mệnh của mình.

    Chúng tổ chức đánh bạc với tiền đặt từ 5 đến 25 xen ở những khu phố tồi tệ nhất New York, ngay trên vỉa hè hoặc trên các hẻm giữa các nhà. Với vài xu, những người nghèo nhất mua vài giờ hy vọng. Sếp của mạng lưới này là Loris Benson, đêm nào cũng như đêm nào, mang nộp cho Reles mười nghìn đô la.

    Abe Reles không hề thương xót kẻ thù. Một lần y suýt toi mạng về tay Jack Painter, cũng một găngxtơ có hạng. Chúng gặp nhau trên phố và Reles không có súng lục trong người. Jack Painter dí nòng khẩu côn vào sườn và đẩy Reles vào tường, Reles bình tĩnh giải thích cho địch thủ của mình đừng làm điều dại dột, vì bọn đàn em của y sẽ tìm ra và hắn cũng không sống nổi. Jack bùi tai, không bắn, rồi chúng kéo nhau vào: quán bia gần nhất, uống mừng sự hòa giải. Chúng say sưa khoảng hai, ba giờ gì đó, ôm hôn nhau như những người bạn không gì chia cắt, cười ha hả như muốn bày tỏ tấm lòng chân thực. Bỗng nhiên Reles thọc tay vào túi Jack, rút ra khẩu côn và bắn Jack chết ngay tại chỗ.

    Đó là một trong mười một vụ giết người y trực tiếp nhúng tay, 14 người nữa bị bắn chết theo lệnh của y và trong nhiều vụ sát hại khác, y cũng có bàn tay của mình.

    Cảnh sát bất lực không tìm được nhân chứng chịu ra trước tòa dự thẩm. Không ai nhớ gì cả, ai cũng lo sợ cho tính mạng của chính mình.

    Alex Alpert là nạn nhân tiếp theo của Reles. Tên găngxtơ trẻ bất đồng với sếp và bị Reles cho người giết chết. Cảnh sát điều tra vụ án mạng hơn năm trời mà không tìm ra một mảy may dấu vết. Sau đó phó uỷ viên công tố nhận được thư từ trong tù. Trên đảo Rikers Island có một găngxtơ tên là Hary Rudolph đang ngồi tù và bởi vì y muốn được tự do bằng bất cứ giá nào, kể cả giá phản bội, y nhắn với uỷ viên công tố rằng y biết những kẻ giết Alpert. Nếu ngài phái viên chính phủ công nhận đúng mức sự thành tâm của y, Rudolph sẵn sàng khai.

    Ngay chiều hôm đó người ta đến gặp Rudolph trong tù.

    - Những ai làm việc đó? - uỷ viên công tố hỏi.

    - Reles, Bugsy Goldstein và Dukey Maffetore.-Tù nhân trả lời.

    - Tại sao trước đây anh không nói?

    - Tôi nói với gác ngục và họ phẩy tay, sau đó tôi xin gặp giám ngục và cũng nói với ông ta chuyện đó, nhưng ông ấy không báo cáo lên trên.

    Có thể ông ta không tin đó là sự thật.

    - Đúng hơn là ông ta sợ trả thù.

    - Anh có bằng chứng gì cho lời nói của mình?

    - Tôi có mặt lúc đấy mà. Tôi nhìn thấy hết.

    - Anh sẵn sàng khai trước tòa?

    - Nếu các ông bảo đảm an toàn, thì tôi sẽ nói.

    Người ta chở y tới chánh án và y khẳng định lại lời khai. Chánh án ký giấy bắt Reles, Matfetore và Goldstein. Nhưng vấn đề là ở chỗ tìm chúng ở đâu, đã một thời gian lâu không một ai trong chúng thấy xuất hiện tại chỗ ở của mình. Các thám tử lùng sục, tìm hỏi nhưng vô vọng, không ai biết gì về chúng cả. Sau đó họ tìm ra Tommy Frank, chủ quán ăn, nơi Reles thường tới ăn tối.

    - Nghe đây. Tommy - viên thanh tra nói- Anh làm ơn nhắn Reles. Bugsy và Dukey sáng mai chịu khó lên đồn. Tôi có một việc vặt cho họ. Nhắc họ đến chính xác vào 8 giờ. Đúng giờ là thói quen của những người lịch sự mà.

    Có khi những biện pháp cảnh sát đơn giản nhất, lại có hiệu quả nhất, cả ba đúng 8 giờ có mặt ở đồn cảnh sát khi Tommy Frank truyền đạt lại cho Reles lời nhắn của viên thanh tra cảnh sát, tên găngxtơ hỏi:

    - Thằng “cớm” ấy là thế nào, Tommy?

    - Một thằng lông lá mặc thường phục. Làm sao tôi biết hết mọi thằng lông lá chạy rông trên đường phố New York?

    Với quãng đời ngắn ngủi của mình, Reles đã hơn 70 lần vào đồn cảnh sát, không bao giờ người ta gán được cho y tội gì cả, và lần nào cũng phải thả y về. Thế là tin rằng mọi chuyện cũng êm đẹp như những lần trước, y thản nhiên bước vào đồn cảnh sát và tự giới thiệu. Lần này y bị giữ lại luôn, cả Goldstein cũng bị bắt. Tối hôm đó Dukey Maffetơre bị tóm cố trên phố. Gã này mới 25 tuổi và làm chân “gái điếm” cho bất cứ ai. Mặc dù chưa có bao nhiêu kinh nghiệm, gã cũng lo ngại một cách xác đáng rằng hai con cáo già có thế sẽ trút hết tội lỗi lên đầu gã. Khi gặp chánh án và được khuyên khích. Dukey bắt đầu “hát”.

    - Tôi không biết nhiều lắm, - gã nói.

    - Được, ít nhất là những chuyện anh biết.

    - Họ quét lên tôi những thứ bẩn thỉu nhất. Khi có chuyện gì không ai thấy thơm cả, thế là tôi phải đi, mà tiền thì không. Tôi là thằng đầu sai ít lương nhất. Tôi còn muốn nói nữa, thưa ngài chánh án, nhưng có lẽ Pretty Levin sẽ nói với ông nhiều hơn.

    - Pretty Levin là ai?

    - Gần như đứa trẻ, hắn sách tráp cho Reles, nhưng sau đó lấy vợ mà Reles chẳng cho hắn đồng nào, thế là nó vĩnh biệt sếp và nói sẽ kiếm ăn bằng công việc hợp pháp. Tất cả ngạc nhiên, nhưng nó mua xe tải thật và đi chở hàng, không phải của ăn trộm, mà là hàng hóa bình thường. Nhưng sau đó người đẹp của nó phải nằm viện, nó phải trả tiền cho bác sĩ và không còn lấy một xu. Thế là nó quay lại năn nỉ mãi, sếp mới nhận lại nó.

    - Reles?

    - Chứ còn ai nữa.

    - Tại sao anh lại cho rằng chính Levin có thể cung cấp cho chúng tôi những tin quí giá?

    - Bởi vì nó có mặt mọi nơi, sếp mang nó theo các cuộc họp. Tôi đã nói nó là thằng hầu và Reles hài lòng khi có nó phục vụ.

    Khi các thám tử FBI tiến hành điều tra theo dấu vết mới. Họ xác định là có thể Maffetore đã chết từ lâu, nếu y không kịp thời vào tù. Reles hoành hành như chó dại, y cho bắn bất cứ ai có thể làm nhân chứng chống lại y, và trước khi bị bắt, y quyết định thủ tiêu Dukey Mafftetore và Pretty Levin. Thậm chí các thám tử còn biết bản án tử hình được ấn định thi hành vào ngày 9-2-1940 khi Dukey đã một tuần trong tù. Pretty Levin cũng bị ấn định giết chết ngày một tháng ba. Y cũng may mắn bị cảnh sát bắt trước đó một tuần.

    Levin sợ, y không muốn khai. Y biết rõ là Murder Inc, tìm được vào tới tận xà lim nhà tù và trừng phạt ai vi phạm luật omertà. Các biện pháp bảo vệ được tăng cường. Y được chuyển tới xà lim một người, để khỏi phải quạn hệ với các tù nhân khác, được canh giữ liên tục 24 trên 24 tiếng đồng hồ, cảnh sát cũng bảo vệ gia đình y. Khi đã cảm thấy những kẻ báo thù không thể tới gần được, y bắt đầu khai và cuối cùng chánh án có được bằng chứng chống Reles và người của hắn.

    Trước chánh án, Reles còn đóng kịch một công dân Hoa Kỳ trong sạch bị xúc phạm, oan ức. Y yêu cầu phải được thả ngay, y không biết gì cả, y chưa từng làm gì xấu, y không khai. Sau đó, phái viên chính phủ chỉ cho y thấy các bản khai của Rudolpk, Dukey, Maffetore và Levin. Y hãy còn chần chừ, nhưng sau một đêm không ngủ, y đầu hàng. Cho nên y bảo vợ đến gặp uỷ viên công tố O'Dewey.

    Trong bản khai của mình, y dẫn các chi tiết của khoang 50 vụ giết người ở New York, New Jersey Detroit, Kausas City, Louisville và Los Angeles. Nhưng có ích hơn cho chiến dịch chống tổ chức tội ác ở Mỹ là y đã tiết lộ một số nguyên tắc tổ chức mafia, các phương pháp của Murder Inc. Lần đầu tiên hoạt động của hiệp hội tội ác bị phơi bày, hàng năm nó thu hút tới 30 tỉ đôla một cách phi pháp. Ban đầu những dữ liệu trong bản khai của Reles có vẻ khó chịu, nhưng sau này người ta xác nhận, y không bịa và cũng không tô vẽ thêm. Có lẽ không có ngành công nghiệp hay thương nghiệp nào ở Mỹ không phải nộp tiền “bảo hiểm” cho mafia.

    Ủy viên công tố O’Dewey nắm trong tay một chiến lợi phẩm vô giá, sau một đêm ông trở thành nổi tiếng, ông chuẩn bị hàng chục vụ án, xử hàng trăm tên găngxtơ, mà ở đó Abe Reles sẽ xuất hiện như nhân chứng chủ chốt.

    Cảnh sát truy bắt ngày và đêm, thế giới ngầm Hoa Kỳ náo động, không tên găngxtơ nào chắc chắn hôm nay hay ngày mai cảnh sát không đến bắt y. Mafia cấp tốc triệu tập cuộc họp thượng đỉnh, các quân sự tự vệ và phải nói đòn phản công đầu tiên của mafia đã làm đảo ngược thế cờ.

    Ngày 12-11-1941 xảy ra một sự kiện kinh ngạc, làm đảo lộn mọi giả thiết. Người ta đưa ra nhiều cách giải thích sự kiện sáng hôm đó, nhưng không một giải thích nào đầy đủ cả và cũng không một giải thích nào được công nhận hay bị bác bỏ. Chúng ta biết rằng cảnh sát canh giữ Reles ở khách sạn Haff Moon, trên đảo Connev Miand một cách hoàn toàn bí mật. ủy viên công tố cảm thấy phương án đó là an toàn nhất và William O’Dewey đang tuyên bố với các phóng viên là Reles “được canh giữ còn hơn cả vàng ở pháo đài Fort Knox”. Theo các nguồn tin khác thì cảnh sát giữ Reles ở một trong các nhà tù New York, trên tầng sáu, một ê kíp gác ngục tin tưởng thay phiên túc trực bên y, cả tầng được dọn sạch, chỉ có Reles là tù nhân duy nhất. Giám ngục trưởng là Vank Bala.

    Bảy giờ kém 15 phút sáng ngày 12 tháng 11, giám ngục đang làm nhiệm vụ bước vào xà lim và thấy Reles đang ngủ, không thấy gì nghi vấn, giám ngục lại cẩn thận khóa cửa, ngồi ở hành lang và chợp mắt một lát. Giám ngục ngủ khoảng 20 phút, sau đó lại đứng dậy nhìn vào xà lim của Reles và giật mình: không ai có trong đó cả. Giám ngục vội vàng mở cửa và thấy trên cửa sổ 288 nghe đâu cửa sổ không có lưới chắn, vì nó được coi là vô ích ở độ cao này, có treo lòng thòng vài dải dây được xé ra từ chăn màn, giống như là tù nhân định trốn bằng thang dây. Hệ thống báo động....... làm việc hết công suất. Frank Bals và cả các giám ngục khám chạy đến. Họ phát hiện ra tử thi Reles trên mái lò bánh nhà tù. Sau này, khi vụ việc được xóa rõ về mặt pháp lý vì đã hết hạn. Doc Stacher, người có thể được thông báo về vụ này, tuyên bố sự kiện trên xảy ra ở khách sạn Half Moon, trên đảo Coney Island.

    Nhân chứng chết không có giá trị gì hết. Mặc dù vẫn có các văn bản được chính tay nhân chứng ký, luật hình sự Hoa Kỳ chỉ công nhận có lời khai trực tiếp của chính nhân chứng trước tòa, uỷ viên công tố O’Dewey để tuột khỏi tay chiến lợi phẩm lớn nhất trong sự nghiệp của mình. Sau này nhiều người đã thử giải thích cái chết của Reles. Cảnh sát thì khẳng định y định trốn và rơi từ tầng sáu xuống, bằng chứng là cái thang dây. Giải thích này không có cơ sở. Reles có thể chạy đi đâu sau khi đã phản lại đồng bọn? Y sẽ bị bắn chết ngay hôm tự do đầu tiên. Những tên giết người của hãng Murder Inc, sẽ tìm ra y, cho dù y có trốn ở bên kia quả đất. Theo tuyên bố của ủy viên công tố, chính Reles còn yêu cầu được ở lại trong tù cho tới khi không còn lấy một tên găngxtơ bị y tiết lộ còn ở ngoài nhà giam. Hơn nữa, chỉ với những mảnh chăn màn mà chạy trốn từ gác sau là không thực tế.

    Một khả năng nữa là sự sát. Nhưng rõ ràng Reles muốn sống bằng mọi giá, kể cả giá phản bội, lẽ đâu y lại bỗng nhiên hối hận, lấy cái chết để chuộc mọi lỗi lầm.

    Ủy viên công tố O’Dewey thì cho rằng Reles bị giết hại. Một người lạ mặt nào đó đột nhập vào xà lim, hay vào phòng khách sạn, bóp cổ Reles và vứt y ra ngoài cửa sổ. Dây nhợ lằng nhằng chỉ để đánh lạc hướng cảnh sát. Đối với thế giới ngầm Hoa Kỳ, cái chết cưỡng bức của Reles là cách giải quyết duy nhất.

    Một giả thiết nữa xuất hiện mãi nhiều năm sau đó, Lucky Luciano, lúc đó đang sống lưu vong ở Ý, tuyên bố chính thức là Frank Costello, một nhà tổ chức tuyệt vời và một người thực hành đầy kinh nghiệm, đứng ở phía sau các sự kiện xung quanh cái chết của Reles. Nghe đâu Costello hối lộ trưởng giám ngục Frank Bals và có thể cả cấp dưới của y để họ giết Reles. Thậm chí xuất hiện cả tin đồn rằng, đứng đằng sau vụ thủ tiêu Reles có cả ủy viên công tố O’Dewey, người mà sau này khi làm thị trưởng New York đã thưỏng huân chương cho Frank. Bals về thành tích chống tổ chức tội ác. Nhưng không ai biết Bals chiến đấu chống găngxtơ khi nào và lập được chiến tích gì. Song, đồng thời cũng có thể tuyên bố của Luciano chỉ là tin thất thiệt với mục đích bôi nhọ O’Dewey và gây nghi ngờ trong nội bộ cảnh sát.

    - Chúng tôi nhẹ hẳn cả người khi Reles chết, -Doc Stacher nói.- Người ta đã không thể đưa Bugsy ra tòa cả Anastasia cũng ở ngoài vòng nguy hiểm. Chả là Resle có nói với O’Dewey là Anastasia chịu trách nhiệm về cái chết của thủ lĩnh công đoàn Morris Diamond, người này bị bắn chết năm 1939. Vụ sát hại này là một cú sốc đối với tôi và Lansky, vì nó hoàn toàn vô ích. Anastasia đòi công đoàn trả tiền “bảo hiểm” quá nhiều và Diamond phản đối không trả. Đó là người rất dũng cảm. Lansky nói với Anastasia để Diamond yên, nhưng Albert rất cứng đầu. Hắn phái Allie Tannenbaum đi bắn chết Diamond tháng 5 năm 1939 ở Brooklyn, trên đường phố. Và Reles kể hết mọi chuyện với O’Dewey.

    - Ủy viên công tố có bằng chứng?

    - Không có,- Doc Stacher nóì.- Ông ta chỉ có bản khai của Reles.

    - Nhưng trước tòa cái đó không có giá trị gì cả.

    - Ông ta cũng biết điều đó. Cho nên Anastasia đã thở phào khi nghe tin Reles bị giết chết. Nhưng Dewey và cả O’Dewey còn có trong tay những con bài khác. Reles tiết lộ cả những vụ khác nữa.

    HIỆP ƯỚC QUÂN TỬ
    Có thể giám đốc FBI Edgar J.Hoover đã thỏa thuận với găngxtơ Buchalter và cùng nhau ký kết một hiệp ước quân tử. FBI trao cho tòa tài liệu liên quan đến buôn bán ma túy trái phép, hội đồng dự thẩm luận tội, chánh án tuyên án 14 năm tù, và thế là kết thúc sự đày đọa của Buchalter. Tội nhân được chở tới nhà lao Leavenworth, để trong yên tĩnh ngồi cho tới lúc mãn hạn, ra tù.

    Nhưng cảnh sát New York điều tra ra các vụ tống tiền Ở các lò bánh, thế là Buchalter lãnh thêm 30 năm tù giam. Trước hết y phải ngồi mãn hạn cái án thứ nhất, sau đó mới có thể bắt đầu án thứ hai. Tương lai mù mịt và hiệp ước với sếp FBI không giúp gì y cả.

    Quá tam ba bận, lần này đến lượt vụ giết Joe Rosen. Cuối năm 1940, các điều tra viên đã lần được dấu vết những tên giết người, Joe Rosen là chủ một cửa hiệu nhỏ bán bánh ngọt, kẹo cao su, cả thuốc lá tẩm marihuana(62), y cũng làm thủ quỹ cho Buchalter.
  • Chia sẻ trang này