13. hangoc (done)

11/8/15
13. hangoc (done)
  • của chúng ta và tôn giáo của chúng ta. Và cả ba thứ ấy hợp thành lòng tự trọng của chúng ta.

    Chúng ta không thích nghe một bài nói chuyện về “Làm thế nào để làm giàu?” bằng bài nói chuyện với nhan đề “Làm thế nào để làm giàu cho chúng ta?” Có lẽ người nghe cũng không quan tâm lắm đến đạo Hindu nếu không vì tò mò, mà chỉ quan tâm đến tôn giáo nào mang đến hạnh phúc mãi mãi cho chúng ta khi chúng ta sang thế giới bên kia.

    Khi vua Northcliffc, từng được biết đến là chủ một tờ báo giàu có nhất ở Anh, được hỏi điều gì được con người quan tâm nhất, ông đã trả lời đó là “chính bản thân chúng ta”. Các bạn có muốn biết mình thuộc nhóm người nào không? Bây giờ chúng ta đang nói về một chủ đề hấp dẫn rồi. Hãy lấy một cái gương và nhìn mình trong đó. Các bạn có thấy hình của mình trong đó không? Hãy xem bạn tưởng tượng về mình như thế nào. Tôi xin trích một đoạn trong cuốn “Hình thành ý nghĩ’ của giáo sư James Harvey Robinson nói về vấn đề nảy:

    Tất cả chúng ta trong suốt thời gian thức đều suy nghĩ, và thậm chí ngay cả khi buồn ngủ chúng ta cũng vẫn nghĩ. Khi bị ai hay vật gì đó cắt đứt dòng suy nghĩ của mình, chúng ta dường như cảm thấy vẫn còn mơ mơ màng màng. Đây cũng là hình thức suy nghĩ bình thường, không có gì là lạ cả. Chúng ta để cho những ý nghĩ xuất hiện trong đầu, những ý nghĩ này chịu sự chỉ đạo của mơ ước, ước vọng của chúng ta, thể hiện điều ta yêu ghét, chờ mong... Không có gì thú vị hơn bản thân chúng ta bằng chính bản thân chúng ta. Nhũng ý nghĩ dù ít hay nhiều đều chịu ảnh hưởng của tình thương mến. Nếu quan sát chính chúng ta hay người khác trong những lúc như vậy thì sẽ thấy rất thú vị.

    Những điều mơ mộng hay tưởng tượng ra là một phần là những gì diễn ra trong cuộc sống thực tế, một phần là những gì ta ước ao nhưng đã được chỉnh sửa, cắt xén hoặc thêm bớt theo ý của chúng ta. Đó chính là những ưu tư, mối quan tâm của mỗi chúng ta.

    Nên ghi nhớ rằng những người đang ngồi nghe bạn trình bày hôm nay đều sử dụng khoảng thời gian của mình để nghe bạn nói và tạm quên đi những việc phải làm ngay, phải tạm quên công việc, việc nhà... Và cũng nên nhớ rằng những người bình thường trong cuộc sống đều quan tâm đến việc có cái gì để ăn không hơn là việc nước Ý trả nợ nước Mỹ chưa hay họ sẽ quan tâm đến bàn cạo râu hơn là cách mạng ở Nam Mỹ. Một cái răng sâu sẽ gây đau đớn cho người phụ nữ hơn là trận động đất ở châu Á huỷ hoại nửa triệu sinh mạng con người. Chính những lợi ích của bản thân sẽ được mọi người quan tâm hơn.

    Làm thế nào để trở thành nguời có tài nói chuyện?

    Rất nhiều người bị chê là không có tài nói chuyện. Nguyên nhân chính là do họ đã không hướng đề lài nói chuyện của mình sang mối quan tâm của người nghe. Họ làm cho người nghe thấy buồn chán. Hãy để cho người nghe nói về công việc, mối quan tâm, thành công hay chỉ là thắng lợi trong một trận gôn của anh ấy... Thực hiện như vậy và lắng nghe một cách chăm chú, chắc chắn bạn sẽ trở thành một người có tài nói chuyện mặc dù thực tế thì bạn nói rất ít trong buổi nói chuyện đó.

    Ông Harolđ Dwight của trường Philadelphia đã có một bài phát biểu cực kỳ thành công trong bữa tiệc cuối khoá học về Kỹ năng phát biểu trước công chúng. Ông đã làm như thế nào và nói những gì? Ông nói về từng người theo thứ tự ngồi một vòng ở bàn. Ông yêu cầu từng người kể xem họ đã phát biểu gì trước khoá học, về những tiến bộ đạt được và gợi lại những chủ đề họ đã từng thảo luận. Ông bắt chước và cường điệu hoá các đặc tính riêng của từng người, làm cho mọi người phá ra cười... Ông nói không nhiều hôm đó nhưng ông đã đạt thành công rất lý tưởng. Điều cơ bản là ông đã hiểu và nắm chẳc tâm lý, mối quan tâm của từng người.

    Bài báo hay thu hút hàng triệu độc giả

    Vài năm trước đây tờ Tạp chí Người Mỹ đã tăng nhanh số luợng phát hành. Nguyên nhân là ông John M. Siddall đã có sáng kiến hay. Lần đầu tiên tôi gặp ông John khi ông phụ trách mục Những người thú vị của tờ tạp chí xuất bản định kỳ này, tôi đã viết nhiều bài báo cho ông. Một hôm ông giãi bày tâm sự với tôi:

    Con người có vẻ hơi ích kỷ. Họ dường như chỉ quan tâm tới chính bản thân mình. Họ không quan tâm lắm đến việc Chính phủ xây dựng đường tàu như thế nào, nhưng họ quan tâm đến việc làm thế nào để kiếm nhiều tiền, để có sức khoẻ cho bản thân. Nếu tôi là biên tập viên của tờ tạp chí này, tôi sẽ cung cấp cho họ thông tin về làm sao để chăm sóc răng miệng, làm sao để tắm đúng đúng phương pháp, để mát mẻ trong mùa hè, làm thế nào để thăng tiến, để có thể giàu có và mua nhà cửa, làm thế nào để tránh những lỗi sai thông thường. Mọi người rất thích nghe chuyện những người giàu kiếm được hàng triệu đôla nhờ buôn bán... Tôi sẽ nêu ra một số gương mặt những người giàu có nổi tiếng trong lĩnh vực ngân hàng, chủ tịch các tập đoàn lớn và con đường dẫn đến giàu có và quyền lực”.

    Chẳng bao lâu sau đó, Siddall trở thành nhà biên tập, Tờ tạp chí từ đó bán chạy hơn và số lượng phát hành tăng đến không ngờ tới. Siddall đã làm những điều như anh tâm sự. Cũng từ đó, tờ tạp chí ngày càng được bạn đọc quan tâm chú ý đến, và xuất bản với số luợng hai trăm nghìn bản, rồi ba trăm nghìn, bốn trăm nghìn, nửa triệu bản... Những thông tin tờ tạp chí cung cấp rất thiết thực với cuộc sống hàng ngày, với những mối quan tâm rất đời thường của con người, cho nên tờ tạp chí đã thu hút số lượng lớn người đọc trong cả một thời gian dài sau đó.

    Nhũng cách trình bày luôn thu hút sự chú ý của người nghe

    Bạn chắc cũng có lúc cảm thấy chán khi nói chuyện với mọi người nhưng họ không tập trung chú ý lắng nghe bạn nói. Hàng ngày có đến hàng trăm nghìn cuộc trò chuyên trao đổi với nhau ở mọi nơi, mọi lúc. Thường đó là những trao đổi cá nhân. Tôi đã từng dạy ở nhiều trường của Mỹ và Canada, và tôi cũng rút ra kinh nghiệm là tôi nên kể các câu chuyện vui về mọi người xung quanh. Trước đây, khi tôi giảng những phần mang khái niệm chung chung và đầy lý thuyết, các học sinh của tôi, Johnny luôn hiếu động, ngọ ngoậy chân tay, Tommy thì nhìn sang bạn khác còn Billy ném vật gì đó qua lối đi giữa hai dãy ghế.

    Một lần tôi hỏi một nhóm những kinh doanh người Mỹ ở Paris làm thế nào để thành công. Họ trả lời tôi rằng nói theo kiểu thuyết giảng, lên lớp sẽ luôn làm người nghe phát ngán. Tôi cũng được nghe một thương gia Mỹ rất nổi tiếng phát biểu trên đài phát thanh, nhưng ông đã không khiến người nghe chú ý vì ông nói những điều mang tính chất thuyết giáo quá.

    Từ đó, tôi trở về lớp học, tập hợp các em học sinh lại và nói: “Chúng ta không học theo kiểu chỉ có thuyết giảng nữa. Tôi biết rằng không ai thích học theo như vậy. Hãy nhớ rằng chúng ta học mà chơi, chơi mà học nên nếu các em không được thoải mải thì học cũng không thể tập trung được. Trên thế giới này, một trong những điều thú vị mọi người muốn nghe nhất chính là những chuyện tầm phào. Hãy kể cho tôi và các bạn khác nghe về hai người một người thành công còn người kia thì không thành công mà các em biết. Sau đó hãy giải thích tại sao lại như vậy. Tôi và các bạn sẽ rất vui khi nhe những câu chuyện đó. Chắc chắn các em sẽ học được nhiều hơn những gì các em chỉ học qua những bài giảng đầy chữ và lý thuyết khô khan”.

    Các học sinh lần lượt trình bày câu chuyện mà các em thích. Một em học sinh đã rất lo sợ vì em thường khó có thể thuyết trình trước đám đông quá ba phút. Nhưng hôm ấy, em đã làm cho tất cả mọi người ngạc nhiên. Em kể chuyện rất hay về hai người em biết. Chính em cũng ngạc nhiên vì thành công của mình hôm đó. Em đã kể câu chuyện liền mạch trong nửa giờ đồng hồ. Câu chuyện em kể hấp dẫn đến nồi mọi người đều cảm thấy câu chuyện quá ngắn. Lần này cũng là thành công đầu tiên của em.

    Hầu như mọi người đều tiến bộ lên theo cách trình bày này. Một bài nói chuyện với một số ý chính được minh hoạ bằng những câu chuyện đời thật sẽ cuốn hút người nghe, khiến người nghe không thể chán.

    Nếu có thể, câu chuyện nên kể về các trận chiến, các cuộc chiến đấu giành thắng lợi vì hầu hết mọi người đều thích nghe những chuyện này. Mọi người cũng thích nghe những câu chuyên tình tay ba tay tư. Những bộ phim, tiểu thuyết thường tập trung vào các nhân vật anh hùng chiến đấu giành chiến thắng thường thu hút nhiều người xem, người đọc hơn.

    Hãy cụ thể

    Tác giả có biết một khoá học về thuyết trình trước công chúng. Trong lớp học của một vị tiến sĩ tâm lý, lính hải quân có bằng cấp cao và cả chủ cùa hãng kinh doanh xe tải nhỏ. Một điều đáng ngạc nhiên là những bài trình bày của người chủ hãng kinh doanh xe tài trong khoá học lại thu hút nhiều người nghe hơn cá các bài trình bàv của vị tiến sĩ cũng như những người khác có bằng cấp. Tại sao lại như vậy? Tại sao họ thường trình bày bàng nhũng từ hoa mỹ, đưa ra cà hành vi văn hoá, nói rất logic và rõ ràng nhưng lại không được mọi người chú ý lắng nghe. Tại vì họ thiếu một nhân tố rất quan trọng. Đó là phải trình bày cụ thể. Họ trình bày quá mờ nhạt, chung chung và không rõ ràng. Trong khi đó, người chủ hãng kinh doanh xe tải đi thẳng đến trọng tâm của bài trình bày là vấn đề kinh doanh. Anh đã nói rất rõ ràng, cụ thể, cộng với giọng nói rất dứt khoát đã thu hút sự chú ý lắng nghe của mọi người.

    Câu chuyện tôi vừa kể không phải bởi vì nó nói đến những người có học thức và những người chỉ làm nghề kinh doanh xe tải, mà muốn đưa ra để chứng minh rằng khả năng thu hút sự quan tâm chú ý của mọi người không phải chỉ có những người mới có mà ngay cả những người chỉ làm nghề kinh doanh cũng có. Điều quan trọng là phải trình bày thật cụ thể, rõ ràng khiến người nghe dễ hiểu.

    Nhân tố này rất quan trọng, cho nên tôi muốn nhắc đi nhắc lại nhiều lần để các bạn thật ghi nhớ trong đầu và không bao giờ quên.

    Hãy xem ví dụ sau: cách nói nào trong hai cách sau sẽ được mọi người chú ý nhiều hơn: “Martin Luther khi còn nhỏ là một cậu bé nghịch ngợm và cứng đầu cứng cổ” và “Martin Luther có lần đã kể rằng ông ngày bé thường bị thầy cô giáo đánh mười lăm lần một buổi sáng”? Cụm từ “nghịch ngợm và cứng đầu cứng cổ” chắn chắn sẽ ít được chú ý đến hơn là “bị đánh mười lăm lần một buổi sáng”.

    Trước đây, phương pháp viết tiểu sử tự thuật thường nêu ra các những thông tin chung chung. Bây giờ lại đi vào các sự kiện cụ thể. Một người dùng phương pháp cũ sẽ nói ‘"John Doe sinh ra trong một gia đình nghèo nhưng trong sạch, thật thà”. Còn những người theo phương pháp mới sẽ nói như sau: “Bố John không đủ tiền mua giày cho con. Khi đông đến tuyết rơi, John thường lấy bao tải cói quấn quanh chân để giữ chân khô và ấm. Mặc dù rất nghèo nhưng John không bao giờ vắt trộm sữa bò hay đánh cắp những con ngựa". Những chi tiết này chẳng phải đã chứng tỏ gia đình John là gia đình “nghèo nhưng trong sạch" sao? Và cũng chính câu chuyện này cũng cuốn hút người nghe hơn cách chỉ trình bày mỗi một câu “nghèo nhưng trong sạch”.

    Lối nói này không chỉ thích hợp với văn tự sự, tự thuật mà còn cùng thích hợp cả với cách nói hiện đại bây giờ. Hãy theo dõi một đoạn văn sau của Edwin S. Slosson trích trong nói về mức độ nghèo đói của Niagara:

    Chúng ta được nghe có hàng triệu người sống trong cảnh nghèo đói ở đất nước này. Hãy hình dung ra chỉ vì nghèo đói mà Niagara đã mất 250.000 cái bánh mỳ hàng giờ. Chúng ta cũng có thể tưởng tượng ra ở đây 600.000 quả trứng gà tươi rơi qua vách núi dựng đứng hàng giờ tạo thành món ốp-lếp khổng lồ trong xoáy nước. Nếu như những khung cửi làm ra tấm vải hoa không ngừng nghỉ trải xuống con suối rộng bốn nghìn feet như sông Niagara thì ta sẽ thấy mức độ tàn phá của đói nghèo thật khinh khủng.

    Dùng những từ ngữ gợi hình

    Khi trình bày bài nói còn một phương pháp rất hữu hiệu và cũng đặc biệt quan trọng mà người trình bày thường quên không sử dụng, đó là cách dùng những từ ngữ gợi hình. Người nói sẽ dùng những từ ngữ như vẽ ra trước mắt người nghe khung cảnh của nội dung trình bày. Hãy xem lại đoạn trích trong tờ Tin khoa học hàng ngày nói về Niagara. Ta có cảm giác như những hình ảnh đang hiến hiện ngay trước mắt: nào là 250.000 ổ bánh mỳ, 600.000 quả trứng rơi vỡ tạo thành món ốp-lếp khổng lồ, tấm vải trải dài con sông...” Người nghe SC rất khó có thể quên được những bài trình bày như vậy vì trước mất họ đã hình dung ra một khung cảnh của câu chuyện người nói trình bày.

    Trong Kinh Thánh và trong các vở kịch của Shekespeare có rất nhiều cụm từ tượng hình. Chẳng hạn như nếu một nhà viết kịch khác sẽ nói “làm cho một vật đẹp hơn, tốt hơn” thì Shekespeare diễn đạt cùng một ý như vậy như sau: “mạ tại vàng nguyên chất, tô điểm cho hoa ly, xức nước hoa lên hoa viôlet”

    Chính những câu tục ngữ truyền từ đời này sang đời khác cũng đều có những từ tượng hình: “Mưa như trút nước”, “Khôn như cáo”, “Gầy đét như con cò ma”, “Cứng như đá”...

    Lincoln khi còn là tổng thống Mỹ thường phải nghe, đọc nhiều báo cáo dài dòng, phức tạp. Ông đã phê bình những bản báo cáo đó bằng những cụm từ rất gợi hình khiến người nghe không thể quên: “Khi tôi bảo một người đi mua ngựa thì tôi chỉ cần biết con ngựa ấy có tốt không chứ tôi không muốn biết con ngựa ấy có bao nhiêu sợi lông ở đuôi”.

    Tạo sự cuốn hút người nghe

    Việc dùng các câu đối lập nhau về ý nghĩa cũng như cách diễn đạt luôn thu hút người nghe. Bên cạnh đó, còn có cách khác để người nghe luôn lắng nghe bạn nói. Hãy theo dõi ví dụ nêu ra dưới đây:

    Gần đây, một người học cùng khoá học với tôi tại Baltimore đã cảnh báo với các khán giả rằng nếu tiếp tục đánh bất cá ở cinh Chesapeake bằng phương pháp hiện nay thì chẳng mấy chốc các giống cá đá ở đây sẽ tuyệt chủng. Vài năm sau, quả đúng như những gì ông đã từng nói, giống cá đá gần như tuyệt chủng. Hồi đó, tôi còn chưa biết đến loại cá này, nhưng hầu như chúng tôi ai ai cũng đồng ý với quan điểm không đánh bắt cá bằng phương pháp hiện nay. Một lần tôi đã có dịp gặp và hỏi ông Richard Washburn Child, sau đó là đại sứ của Italy tại Mỹ về nguyên nhân thành công của bài ông trình bày năm đó. Ông trả lời tôi: “Tôi rất quan tâm tới cuộc sống mà tôi không thể giữ được. Tôi phải nói cho mọi người biết điều đó”. Chính lòng nhiệt tình đó đã truyền vào trong bài nói của ông năm nào.

    Hãy nhớ rằng, nếu bạn muốn người nghe chú ý nghe và nhớ bài trình bày của bạn, thì trước tiên chính bạn cũng phải chuẩn bị kỹ và thích bài nói đó của mình.

    TỔNG KẾT

    1. Con người nói chung rất thích thú và quan tâm đến những chi tiết cực kỳ đơn giản, bình thường trong cuộc sống.

    2. Mối quan tâm chính của con người là bản thân mình.

    3. Một người có khả năng diễn thuyết chính là người tạo cho mọi người nói về bản thân họ, về những mối quan tâm, sở thích của họ và lắng nghe một cách chăm chú cho dù diễn giả này chỉ nói rất ít mà dành để người nghe tự kể về những điều họ biết.

    4. Những câu chuyện tầm phào về mọi người luôn thu hút sự chú ý của nhiều người. Người trình bày chỉ cần gợi ra một số ý chính trong bài trình bày của mình rồi dùng những ví dụ cụ thể để minh hoạ.

    5. Hãy trình bày cụ thể và rõ ràng, dễ hiểu. Không nên giống như những diễn giải đã từng dùng cụm từ “nghèo nhưng thật thà” để trình bày mà không có ví dụ minh hoạ cụ thể. Cũng không nên chỉ nói câu “Martin Luther là cậu bé hiếu động và nghịch ngợm” mà không nêu cụ thể cậu nghịch như thế nào, cậu hiếu động ra sao... Hãy cố làm cho bài nói của mình càng đơn giản, rõ ràng, dễ hiểu bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu.

    6. Khi miêu tả hãy dùng những từ, cụm từ gợi hình ảnh, âm thanh. Câu chuyện hay vấn đề bạn cần trình bày chắc chắn sẽ như một bức tranh đang hiện ra trước mắt người nghe.

    7. Hãy nhiệt tình truyền sự quan tâm đến bài nói cùa mình cho người nghe và chắc chắn người nghe cũng sẽ thích thú lẳng nghe bài nói của bạn.

    NÂNG CAO KHẢ NĂNG CHỌN TỪ CỦA BẠN



    Một người Anh, không nghề nghiệp, không tiền bạc, đang đi trên những con phố của thành phố Philadelphia tìm kiếm việc làm. Anh ta bước vào văn phòng của ông Paul Gibbons, một thương gia nổi tiếng của thành phố đó và xin được phỏng vấn. Ông Gibbons nhìn người lạ đó với thái độ thiếu tin tưởng. Diện mạo của anh ta rõ ràng là chống lại anh ta. Quần áo của anh ta chỉ đã sờn, cũ kỹ, và toàn bộ con người anh ta toát lên sự thiếu thốn không thể nhầm lẫn được. Nửa vì tò mò, nửa vì thương hại, ông Gibbons đồng ý phỏng vấn anh la. Đầu tiên, ông chỉ định nghe một lúc thôi, nhưng một lúc cùa ông đã trở thành hàng chục phút rồi lên tới hàng giờ; và cuộc nói chuyện vẫn tiếp tục. Cuộc phỏng kết thúc bằng việc ông Gibbons gọi điện cho ông Roland Taylor, giám đốc của công ty Dillon Read ở Philadelphia; và ông Taylor, một trong những chuyên gia tài chính hàng đầu của thành phố đó, mời người lạ đó đến ăn tối và nhận anh ta vào làm việc ở một vị trí quan trọng. Người đàn ông đó là một người như thế nào, khi mà diện mạo bên ngoài của anh ta trông rất bình thường, mà có thể tạo ấn tượng mạnh mẽ như vậy trong một thời gian ngắn?

    Bí mật đó có thể được phơi bày trong đúng cụm từ sau: khả năng ngôn ngữ của anh ta. Trên thực tế anh ta là một người của trường đại học Oxford, đến đất nước này để kinh doanh nhưng đã gặp thất bại thảm hại làm cho anh ta không biết đi đâu, không tiền bạc và không bạn bè. Nhưng anh ta nói tiếng mẹ đẻ hay tuyệt đến nỗi mà người nghe anh ta ngay lập tức quên đi đôi giầy phai màu, áo sờn chỉ và mặt không cạo râu của anh ta. Khả năng ăn nói là tấm vé thông hành giúp anh ta bước vào giới doanh nhân đầy danh vọng.

    Câu chuyện về người đàn ông này có vẻ như là không tưởng, nhưng nó minh họa cho một sự thật là chúng ta bị đánh giá hàng ngày qua cách ăn nói. Những từ chúng ta nói cho biết sự tinh tế của chúng ta: các từ ngữ đó nói với những người nghe hiểu biết về nghề nghiệp, địa vị xã hội của chúng ta: chúng là dấu hiệu nhận biết về văn hóa và trình độ học vấn.

    Chúng ta chỉ có bốn mối liên lạc với thế giới, bạn và tôi. Chúng ta được đánh giá và phân loại bởi bốn thứ: bởi những gì chúng ta làm, bởi chúng ta trông như thế nào, bởi chúng ta nói những gì và bởi chúng ta nói như thế nào. Nhưng rất nhiều người đã mắc một sai lầm trong suốt cuộc đời, sau khi rời khỏi ghế nhà trường, không hề cố nỗ lực chủ động làm giàu ngôn từ của mình, làm chủ ngữ nghĩa của chúng, nói với sự chính xác và rõ ràng. Nhiều người thường lặp đi lặp lại những từ và cụm từ sảo mòn. Chẳng mấy ai để ý cách nói của họ thiếu sự rõ ràng và cá tính. Và cũng chẳng mấy ai để ý rằng mình đã vi phạm chuẩn ngôn ngừ truyền thống, và rằng đã vượt quá giới hạn chuẩn ngữ pháp tiếng Anh.

    Nhiều năm trước đây, vào một buổi trưa, tôi đứng ngủ gà ngủ gật ở đấu trường Coliseum ở Rome. Một người lạ tiến tới phía tôi, một người Anh thuộc địa. Anh ta tự giới thiệu mình, và bắt đầu nói về kinh nghiệm của anh ta ở thành phố Bất tử. Anh ta chưa nói được ba phút, anh ta đã nói “Tôi xong”. Sáng hôm đó, khi tỉnh dậy, anh ta đã đánh đôi giầy của mình sáng bóng và khoác lên mình bộ sa tanh tinh tươm để làm nổi bật mình và để có đuợc sự tôn trọng từ những người khác mà anh gặp; nhưng anh ta lại không hề cố gang làm giàu vốn ngôn từ của mình và nói những câu cụt lủn. Đáng ra anh ta phải lấy làm xẩu hổ, chẳng hạn, khi không bỏ mũ ra khi nói chuyện với một người phụ nữ hay dùng sai ngữ pháp, làm cho những người có học cảm thấy khó nghe, nhưng anh ta đã không xấu hổ - anh ta thậm chí còn không nhận ra điều đó. Bằng chính những lời lẽ của anh ta, người nghe đã đánh giá và xếp loại anh ta. Khả năng sử dụng tiếng mẹ đẻ tồi của anh ta đã chứng tỏ không thể nhầm lẫn được rằng anh ta là một người không có văn hóa.

    Giáo sư Charles w. Eliot, sau khi là là hiệu trưởng trường đại học Harvard trong khoảng một phần ba thế kỷ, đã tuyên bố rằng: “Tôi nhận ra chỉ một điều duy nhất như là một phần không thể thiếu trong trình độ học vấn của quý ông hay quý bà là khả năng sử dụng chuẩn xác và tinh tế ngôn ngữ mẹ đẻ.” Đây là một lời tuyên bố lớn lao. Hãy suy nghĩ về nó.

    Nhưng bạn có thể hỏi làm cách nào chúng ta trở nên quen thuộc với từ ngữ, để nói chúng với sự chuẩn xác và tinh tế? May mắn thay, không hề có sự kỳ bí nào về cách để đạt được điều này, không trò lừa. Phương pháp đó là một bí mật mở. Tổng thống Lincoln đã sử dụng nó một cách điêu luyện. Không một người Mỹ nào từng làm được như vậy, thêu dệt nên những từ ngữ hết sức duyên dáng hoặc và những bài văn xuôi hay như vậy: “với sự độc ác không dành cho ai và với tình thương dành cho tất cả.” Tổng thống Lincoln, với ông bố là một người thợ mộc mù chữ, vụng về và mẹ là một người không có gì nổi bật, liệu ông có được Thượng đế ban tặng năng khiếu sử dụng từ ngữ? Không hề có bằng chứng nào chứng tỏ sự suy đoán này. Khi đuợc bầu vào Quốc hội ông đã tả lại trình độ học vấn trong một biên bản chính thức ở Washington, với một tính từ “thiếu sót". Ông chỉ đến trường chưa tới mười hai năm trong toàn bộ cuộc đời mình. Vậy ai là người dạy ông? Zachariah Birney và Caleb Hazel trong những khu rừng ở Kentucky. Azel Dorsey và Andrew Crawford thung lũng Pigeon ở Indiana - tất cả họ, những nhà truyền giáo, đi khắp nới từ nơi định cư cùa những người khai hoang này đến nơi định cư khác để tìm ra những học giả mà sẵn sàng dạy họ số học, đọc, viết để đổi lấy thịt, lúa mỳ và ngũ cốc. Tổng thống Lincoln có được rất ít sự trợ giúp và động lực từ cuộc sống hàng ngày của ông.

    Những người nông dân và nhà buôn, những luật sư và người kiện, những người mà ông quen biết tại Eighth Judicial District ở Illinois, không có khả năng ăn nói tốt, nhưng Lincoln thì không như vậy - và đây là yếu tố đáng nhớ - tổng thống Lincoln không lãng phí tất cả thời gian của mình với những người không hơn hoặc kém mình. Ông kết bạn với cả những người học thức rộng, có khả năng diễn đạt tốt, ca sỹ, nhà thơ đương thời. Ông có thể nhắc thuộc lòng tất cả những trang của Bums và Byron và Browning. Ông viết bài giảng về Bums. Ông có một bản sao những bài thơ của Byron ở văn phòng mình và một bản khác tại nhà. Ông sử dụng nhiều lần bản sao ở văn phòng đến nỗi mà nó đã thành nếp, mỗi khi mở ra là đến ngay tác phẩm Don Juan. Thậm chí khi ở trong Nhà Trắng và những gánh nặng to lớn của cuộc Nội chiến làm suy kiệt sức lực và hằn những nết nhăn trên mặt ông, ông thường có sắp xếp thời gian để đọc những bài thơ cùa Hood trước khi đì ngủ. Đôi khi ông tỉnh dậy lúc nửa đêm, và mở quyển sách, ông gặp những bài thơ rất hay và đầy cảm xúc. Thức dậy, chỉ khoác mỗi chiếc áo ngủ và đôi dép đi trong nhà, ông băng qua gian chính cho tới khi tìm được người giúp việc mình và đọc cho anh ta nghe hết bài thơ này đến bài thơ khác. Trong Nhà Trắng, ông vẫn có thời gian đọc lại, ghi nhớ những đoạn dài vở kịch cùa Shakespeare, bình luận cách hiểu của những diễn viên về một đoạn nào đó và đưa ra cách hiểu riêng của mình. Ông viết cho Hackett, một diễn viên, “Tôi đã đọc một số tác phẩm của Shakespeare, có lẽ nhiều hơn bất cứ một người đọc không chuyên nào. Lear, Richard III, Henry VIII, Hamlet, và nhất là Macbeth. Tôi nghĩ không gì có thể sánh được với Macbeth. Tác phẩm đó thật là tuyệt vời.”

    Tổng thống Lincoln rất yêu thích thơ ca. Ông không chỉ nhớ và đọc thơ khi ở một mình và cả trước công chúng mà còn sáng tác thơ. Ông đã đọc một bài thơ dài do ông sáng tác tại bữa tiệc cưới của người chị. Sau này, ở độ tuổi trung niên, ông viết đầy những bài thơ mà ông sáng tác vào một quyển vở, nhưng ông lại cảm thấy xấu hổ về những tác phẩm này đến nỗi ông không bao giờ cho phép bất cứ ai đọc chúng kể cả những người bạn thân thiết nhất của ông.

    Robinson viết trong cuốn Lincoln, con người của kiến thức “'Người đàn ông tự học này khoác lên bộ óc mình một tấm áo choàng kiến thức rộng lớn. Dù gọi đó là tài năng hay là thiên tài. Phương pháp để đạt được điều này đã được giáo sư Emerton miêu tả khi nói về giáo dục của Erasmus: "Ông không còn học ở trường nữa, nhưng vẫn tự đào tạo mình bằng một phương pháp sư phạm mà cho dù ở đâu cũng mang lại kết quả, đó là bằng phương pháp của lòng nhiệt tình không bao giờ nguội liên tục nghiên cứu và thực hành."

    Người khai phá vụng về này, người đã từng bóc từng vỏ hạt ngũ cốc và mổ thịt lợn để kiếm được ba mươi mốt cent một ngày tại trang trại Pigegon Creek của vùng Indiana, đã, tại Gettysburg, có một trong những bài phát biểu hay trong lịch sử loài người. Một trăm bảy mươi nghìn người lính đang chiến đấu ở đó. Bảy nghìn người lính đã hy sinh. Và Charles Sumner đã nói, ngay sau khi Lincoln qua đời, rằng bài phát biểu của ông sẽ tồn tại cho dù những ký ức về cuộc chiến đã phai nhạt, và rằng cuộc chiến sẽ được nhớ tới chủ yếu bởi vì bài diễn văn. Ai sẽ nghi ngờ tính đúng đắn của lời dự đoán này?

    Edward Everrett đã phát biểu trong hai tiếng đồng hồ tại Gettysburg; tất cả những gì ông ta nói đã bị lãng quên từ lâu. Tổng thống Lincoln chỉ nói chưa đầy hai phút: một nhà nhiếp ảnh định chụp chân dung ông khi ông ông đang phát biểu, nhưng Lincoln đã kết thúc bài nói trước khi chiếc máy ảnh nguyên thủy đó được lắp đặt và lấy hình.

    Bài diễn văn của Lincoln đã được khắc vào một bản đồng không bao giờ bị phân hủy và đặt tại một thư viện của Oxford như là một ví dụ về tính giàu và đẹp của ngôn ngữ tiếng Anh. Bài diễn văn này phải được tất cả những sinh viên theo học môn diễn thuyết ghi nhớ(1).

    Tám mươi bảy năm trước, cha ông chúng ta đã tạo dựng nên một quốc gia mới từ lục địa này, với tư tưởng tự do, và trung thành với lời tuyên bố rằng tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng. Bây giờ chúng ta đang tham gia vào một cuộc nội chiến to lớn, chứng minh liệu quốc gia này, hoặc bất kỳ một quốc gia nào khác hoàn toàn tin tưởng và trung thành vào lý tưởng, có thể tồn tại. Chúng ta đang chiến đấu trên một mặt trận ác liệt. Chúng ta đã dành một phần của chiến trường này làm nơi an nghỉ cuối cùng cho những chiến sỹ mà đã hy sinh cuộc sống của họ cho đất nước này. Giờ là thời điểm rất thích hợp tất cả chúng ta làm điều này. Nhưng trong một ý nghĩa rộng lớn hơn chúng ta không thể dành, chúng ta không thể dâng hiến, chúng ta không thể thần thánh hóa mảnh đất này. Những người lính dũng cảm, dù còn sống hay đã chết, những

    (l) Tác giả, xin tạm dịch bài diễn văn của tổng ihống Lincoln sang tiếng Việt. Điều này có thể không hoàn toàn nêu lên được chuẩn xác cách sử dụng ngôn từ tuvệt vời của Lincoln bởi vì hai ngôn ngữ có sự bất đồng.

    người đã chiến đấu ở đây, đã dâng hiến mảnh đất, lớn hơn rất nhiều sức mạnh nhỏ bé cùa chúng ta. Thế giới sẽ ít chú ý, hoặc nhanh chóng quên điều chúng ta đang nói ở đây, nhưng sẽ không bao giờ có thể quên được những gì chúng ta làm ở đây. Chúng ta, những người còn sống ở đây phải dành trọn sức lực của mình cho công việc vẫn chưa hoàn thành mà họ những chiến sỹ đã chiến đấu ở đây đã tiến bước đầy tự hào. Nhiệm vụ của chúng ta ở đây là cống hiến sức lực và trí óc cho nhiệm vụ to lớn còn nằm phía trước, rằng lòng kính trọng linh hồn của người đã khuẩt, chúng ta càng trân trọng sự nghiệp đấy, sự nghiệp mà họ đã dành sự cống hiến đến giây phút cuối cùng; rằng chúng ta với quyết tâm không gì lay chuyển được sẽ không làm cho những sự hy sinh đó là vô ích; rằng quốc gia này, dưới sự che chở của Chúa, sẽ có tự do mới; và rằng chính phủ của dân, do dân và vì dân sẽ không bao giờ biến mất khỏi trái đất này.

    Đa số mọi người đều cho rằng tổng thống Lincoln là người sáng tạo ra những dòng văn bất tử mà kết thúc bài diễn thuyết đó; nhưng liệu có phải thực sự thế không? Hemdon, luật sư của ông, vài năm trước đó, đã đưa cho tổng thống Lincoln những bài diễn văn của Theodore Parker. Tổng thống Lincoln đã đọc và đánh giấu trong cuốn sách những từ “Dân chủ là cách tự quản tốt nhất, của tất cả nhân dân, vì tất cả nhân dân và cho tất cả nhân dân”. Theodore Parker có thể đã mượn những ngôn từ đó từ Webster người đã từng nói bốn năm trước đó khi trả lời Hayne rằng: “Chính phủ của dân, lập ra vì dân và lập ra bởi dân.” Webster cũng lại có thể mượn câu nói đó từ tổng