14. trang 317 - hết @dongtrang - done

18/8/15
14. trang 317 - hết @dongtrang - done
  • PHẦN BỐN

    Mẹ bồng con



    Cách Đà Lạt chừng mười cây số có một trường tiểu học năm lớp. Bốn người trong số năm giáo viên thuộc nữ phái; và trong bốn cô giáo, ba cô là người Thượng.

    Không biết chừng bao lâu nữa thì phụ nữ Thượng có người làm xã trưởng, quận trưởng v.v... Dầu sao cuộc tranh đấu cho nữ quyền, nếu có, tại xã hội người Thượng đã diễn ra êm thắm hơn ở xã hội người Kinh chúng ta mấy mươi năm trước: không có diễn thuyết ồn ào, không tốn giấy mực biện luận...

    Nhưng điều làm cho tôi chú ý hôm ấy không phải là chuyện nữ quyền cao xa, mà là một chú bé chín tháng đang khóc oe oe trên lưng một cô giáo. Chú bé thật dễ thương, được mẹ địu trong tấm vải trắng sạch sẽ. Chú bé cũng ngoan: mẹ vuốt ve dỗ dành một tí là nín ngay, là lại yên lặng ngồi trong địu, bằng lòng giải trí một mình với ngón tay cái ngậm trong miệng...

    Một cô giáo ngày hai buổi đều đều cõng con len lỏi giữa hai dãy bàn học trò hay đứng trước bảng đen giảng bài, đó là một hình ảnh lạ mắt đối với chúng ta từ miền xuôi đến. Lạ mắt và ngộ nghĩnh.

    Nhưng một vị thanh tra quen nề nếp sinh hoạt giảng dạy ở các trường Sài Gòn, Gia Định, Long Xuyên, Cần Thơ v.v... chẳng hạn, nếu một vị thanh tra như thế được đổi lên đây, một hôm đến trường gặp chú bé vật vã khóc thét lên và làm xấu trên lưng cô giáo giữa bài chính tả thi lục cá nguyệt, hay giữa bài vệ sinh đang giảng ngon trớn v.v... không biết vị thanh tra phản ứng ra sao.

    Thiết tưởng một vẻ khó chịu trên nét mặt của ông sẽ đặt cô giáo trước một tình trạng rất khó xử. Vì đó không phải là sự bất bình đối với một cá nhân, mà là sự phản đối trước nếp sống của một xã hội: trong xã hội hầu hết các sắc dân thiểu số ở thượng du, người ta vẫn địu con đi ra suối lấy nước, đi xuống khe bắt cá, đi vào rừng làm rẫy v.v..., người ta vẫn dịu con theo bên mình trong khi đi làm mọi công việc khắp nơi; tại sao cô giáo lại không địu con vào lớp dạy học?

    * * *​

    Chúng ta vừa nói đến một hình ảnh lạ mắt trong lớp học. Thật ra, riêng về cách bồng con, người đàn bà Việt Nam là cả một sự lạ mắt giữa các giống dân ở miền bán đảo này. Không sao? Gần như bao nhiêu sắc dân sống chung quanh ta: Rhadé, Bahnar, Sédang, Thái v.v... đều mang con sau lưng. Người Trung Hoa cũng mang con sau lưng. Thế mà riêng người Việt chúng ta cứ ngang bướng làm theo ý mình, từ nghìn xưa đến giờ không thay đổi: bồng con ngang hông. (Nghe nói người Mường, người anh em của chúng ta, trừ một vài nhóm địa phương, cũng bồng con theo kiểu người Kinh).

    Sống giữa các dân tộc khác, chúng ta từng mượn của họ chữ viết, mượn nhiều tiếng nói, học cách canh tác của họ, cách ăn mặc của họ v.v..., nhưng về cách bồng con thì chúng ta phớt đều: ai làm kiểu nào mặc họ, ta giữ kiểu ta. Chẳng những thế, thỉnh thoảng ta còn trao cho người Tàu một dáng điệu của ta:

    "Duyên em dầu nối chỉ hồng,
    May ra: khi đã tay bồng tay mang".

    Ấy là hình ảnh một cô Thúy Vân nào đó đồng hương với cụ Nguyễn Du, chứ con gái ông viên ngoại bên Tàu đâu có bận bịu gì đến tay nọ tay kia, dù phải mang con cái?

    Chỗ sở trường của lối địu con người Tàu và người thượng du, là nó để hai tay được hoàn toàn rảnh rang. Như thế, một người có thể giữ đứa bé bên mình rất lâu không bị mỏi tay, và có thể vừa mang con vừa làm việc.

    Lối của chúng ta thì trái lại. Tục ngữ chúng ta có câu: "Bồng con khỏi xay lúa, xay lúa khỏi bồng con". Bồng con là một công việc, không thể kiêm nhiệm.

    Như vậy, người đàn bà Việt Nam hoặc không quyến luyến con cái, hoặc không đảm đang bằng những người đàn bà thuộc các dân tộc chung quanh chăng?

    * * *​

    Không một ai trong chúng ta chịu ngừng lại ở một cảm tưởng như thế. Và một hôm đến chơi một ấp thượng ở Kiến Đức (tỉnh Quảng Đức), gần quốc lộ 14, vào khoảng mười giờ trưa, tôi có dịp nhận ra rằng không ngừng lại, đó không phải là một thái độ chủ quan, hoàn toàn dựa vào tình cảm.

    Ấp Bu-ksơ vào giờ ấy vắng vẻ lạ thường: vài con gà thơ thẩn trên mái nhà, gió thổi làm tốc xòe lông đuôi; nhiều đàn gà khác kiếm ăn trong nhà, dạo chơi trên những tấm sạp vốn là chỗ nghỉ ngơi cho người vào ban đêm; trong nhà thì bếp lạnh tro tàn; ngoài sân hoang vắng trống trải, còn trơ mấy bãi phân voi... Thật ra bên cạnh đó cũng có vài đứa bé chơi đùa, và trong một vài ngôi nhà cũng có một cô gái ngồi duỗi chân dệt vải. Nhưng quả là ở dưới trung du, dù vào ngày mùa ai nấy phải đổ ra đồng làm lụng, cũng ít khi gặp một cảnh xóm làng vắng vẻ như thế.

    Không phải hôm ấy tôi rơi vào một trường hợp đặc biệt. Nhiều anh em cán bộ chính quyền ở địa phương thường than rằng đi công tác tại các ấp Thượng là cả một sự vất vả. Phải dậy sớm, đi nhanh, đến ấp thật sớm; nếu không thì chẳng tiếp xúc được với dân làng; vì họ kéo nhau đi rẫy hết, bỏ ấp vắng tanh. (Vâng, chiều họ lại về; nhưng bấy giờ còn đủ thì giờ đâu mà hội họp nữa? trừ phi điều kiện an ninh cho phép ta ở lại ngủ đêm với họ).

    Quang cảnh ở một ấp thượng náo nhiệt nhất là vào khoảng bốn năm giờ chiều. Người và voi từ rẫy về. Kẻ hái được mớ rau, mớ bầu bí, mớ bắp v.v... thì soạn hoa quả từ trong gùi ra, gia đình tíu tít. Người săn bắn được con cheo, con nai v.v... thì tính chuyện bán buôn. Rồi bếp được nổi lửa thổi cơm, khói xanh tỏa lên, gà vịt rộn ràng, trẻ con chí chóe v.v... Sau đó ánh nắng tắt, sương mù buông xuống, khói núi mờ mịt, màn đêm kéo đến, sinh hoạt lịm đi nhanh chóng.

    Trong một nếp sống hàng ngày như thế, mẹ không địu con bên mình sao được? Đi rẫy không phải một giờ một buổi, mà là đi suốt ngày, cho nên không thể bỏ con lại nhà. Vả lại gần như cả nhà cùng đi rẫy, bỏ con lại thì ai trông nom.

    * * *​

    Bảo rằng lề lối làm ăn sinh sống giải thích tất cả cách thức ẵm bồng con cái thì là liều lĩnh quá. Tuy nhiên, cứ xem cái kiểu nách con ngang hông với một tay luôn luôn kẹp vào sườn nó, ta không thể nào tưởng tượng người đàn bà Việt Nam dưới Kinh từng trải qua nếp sinh hoạt của người đàn bà Thượng. Người đàn bà Kinh không thể mang con theo trong lúc làm việc; tổ chức gia đình, lề lối sinh sống không bắt buộc họ phải làm như thế; nếu bị bắt buộc, họ đã nghĩ ra cách mang con kiểu khác.

    Hiện thời giống người Tasaday bên Philippines mỗi ngày chỉ phải rời hang động có ba giờ đồng hồ là đã tìm kiếm đủ thức ăn. Tổ tiên chúng ta xưa kia cũng may mắn gặp cảnh an nhàn như thế chăng? Nhàn hơn cả tổ tiên các ông Lão tử, Trang tử, Bạch Thư Hương, Tô Đông Pha, Đào Uyên Minh v.v...? Dám lắm chứ, sao không? Chúng ta không có nhiều sách triết lý, nhiều thơ phú ca tụng chữ nhàn bằng họ, nhưng chúng ta có lối nách con: hùng hồn bằng mấy chứ lại.

    Ngay từ cổ thời (từ thời chưa tách biệt với người Mường), chúng ta đã miễn công tác cho người chăm sóc trẻ con. Người ấy là bà mẹ, cũng có thể là ông nội, bà nội, là ông bác, bà cô già v.v... Chúng ta sắp xếp lối sống trong gia đình cách nào mà luôn luôn có hạng được nghỉ ngơi, ở nhà trông coi vườn tược con cái, trong lúc hạng trai tráng khỏe mạnh ra đồng làm việc, Chúng ta không huy động toàn bộ gia đình vào công việc kiếm ăn bên ngoài, đến nỗi xóm làng vắng vẻ, nhà cửa trống trơ...

    Cô giáo Thượng địu con vào lớp, là vì cơ cấu xã hội, là vì tổ chức gia đình bắt cô phải thế. Bỏ con lại nhà, cô bỏ nó cho ai? Cô buộc ai ngưng công việc ngoài rẫy? Cô làm xáo trộn nề nếp sinh hoạt của tập thể đến thế sao? Cô muốn làm "cách mạng" sao chớ?

    Cô đi dạy? Cô có địa vị? - Đồng ý. Chuyện nam nữ bình quyền, chuyện phụ nữ chức nghiệp v.v... coi vậy mà không quan trọng. Miễn cô cứ tiếp tục địu con trên lưng.

    11-1972​



    Người Thượng trang nghiêm

    Hồi mặt trận Quảng Trị bị vỡ, trong các thảm cảnh phơi bày ở Huế, một ký giả của nhật báo Sóng thần đã chú ý đến tình cảnh những người thượng du ngơ ngác bên bờ sông Hương: mất núi, mất rừng, những đồng bào tội nghiệp ấy sống cách nào ở một đô thị hỗn loạn? sống cách nào bên một bờ sông, dù là sông thơ mộng, danh tiếng?

    Được biết rồi sau đó số người Bru này đã được đưa lên một tỉnh Cao Nguyên, tuy nhiên nỗi truân chuyên của đồng bào thượng du chúng ta trong con gió bụi này chưa phải dã chấm dứt. Trái lại.

    Sau Quảng Trị, mặt trận Tam Biên càng ngày càng trở nên ác liệt: Tân Cảnh, Dakto, Chupao, quốc lộ 19, quốc lộ 14, rồi thị xã Kontum lần lượt biến thành chiến trường, rồi sau vụ chiếc máy bay của hãng Thái bình Quốc thái (Cathay Pacific) các chuyến bay quốc tế ngang qua không phận Việt Nam bảo nhau rời bỏ vùng trời Pleiku... Khu vực sinh sống của người Thượng không những nguy hiểm khắp mặt đất mà cả trên trời cao cũng đáng sợ.

    Trong khoảng những tháng Năm tháng Sáu, dân Pleiku, Kontum kéo nhau chạy về Quy Nhơn, Nha Trang... Chạy giặc toàn là người Kinh. Một hôm, gặp bà con từ Pleiku lánh nạn về Sài Gòn, hỏi thăm về dăm ba người bạn thượng du quen biết nhân chuyến đi Pleiku hơn nửa năm trước. Người bà con cười:

    - Mấy ông ấy hả? Họ cũng sợ lắm chớ. Nhưng nói chuyện tản cư thì họ bảo nếu không ở được tỉnh chỉ có tản cư về núi chứ không thể đi nơi nào khác!

    "Nơi nào khác" là những đô thị xa xôi. Pleiku, Kontum cũng là thành phố, nhưng ở đó họ không đến nỗi tách biệt hẳn bà con, không đến nỗi đứt đường về buôn ấp, đoạn tuyệt với nếp sống cổ truyền. Đi xa hơn nữa, đến những "nơi nào khác", thì là phiêu lưu, là nguy hiểm, đáng sợ.

    Người Thượng không muốn về đô thị, vì sinh kế đã đành, nhưng thiết tưởng dù cho vấn đề sinh kế có được nhà nước giải quyết thì chắc chắn họ cũng còn có lý do khác: nếp sống. Họ ngán đô thị cũng như ta ngán núi rừng. Không biết trước cảnh sinh hoạt của ta, thực ra họ ngán vì lẽ gì; trước sinh hoạt của họ, ta ngán vì buồn.

    Nhiều thành phố Cao Nguyên mang những biệt danh đã trở nên phổ biến: Ban Mê Thuột đưọc gọi đùa là Buồn-muôn-thuở, Blao là Buồn-lâu, Buồn-lắm... Lối đùa giỡn ấy đã phản ảnh cảm tưởng của người Kinh đối với xứ Thượng. Theo ta, xã hội thượng du thật buồn.

    Kẻ này bảo người kia sống buồn là chuyện hoàn toàn chủ quan. Trong lúc Cao Nguyên lâm chiến tơi bời, lại tán nhảm về tính cách buồn vui trong một lối sống là chuyện không hợp thời chút nào. Vậy sau đây là những cảm tưởng vừa chủ quan vừa không hợp thời, trót ghi ở Pleiku trong chuyến đi năm ngoái.

    * * *​

    Trên từng khuôn mặt, ít gặp được những nét ranh mãnh tinh quái trên mặt đồng bào thượng du. Trong đám đông người Thượng, cuộc chuyện trò có thể huyên náo nhưng ít gặp những đùa cợt nghịch ngợm, ít hơn trong các cuộc đấu hót của chúng ta.

    Những nhận xét như thế đáng ngờ chăng? Phải tìm đến các chứng cứ cụ thể. Chứng cứ về sự chơi đùa của người Thượng dường như hiếm hoi lắm: trong các làng Jarai ở Pleiku tôi chỉ biết được có một món đồ chơi, cái klang,tức con diều gió. (Diều của đồng bào Jarai không phất giấy, mà cài một thứ lá nhẹ vào khung nan).

    Hỏi thăm một số người Jarai về các trò tiêu khiển, họ ngẫm nghĩ rồi lắc đầu: Ngoài cái klang, không có gì nhiều đâu. Buồn thì xách ná đi bắn, lấy rượu ra uống, lấy cồng ra đánh, lấy kèn ra thổi v.v... Thế thôi.

    Ná, rượu, kèn v.v... không hẳn là đồ chơi.

    Một cuộc dò hỏi kỹ lưỡng hơn chắc chắn sẽ có những phát giác. Nhưng có lẽ dù dày công tìm tòi đến đâu cũng không mong sưu tầm được ở miền thượng du một số trò chơi phong phú như ở xã hội chúng ta: đánh bi, đánh đáo, đá cầu, đá cá, đánh nẻ, chơi cờ, chơi bạc, chạy đua, vật lộn, quần vợt, bóng bàn, bóng rổ, đá gà, bi-da v.v...

    Anh bạn tên Dj... cẩn thận giải thích: "Người Jarai chúng tôi không biết chơi bời, đó là nói chuyện hồi trước. Bây giờ, khác rồi: nhiều người Thượng ở thành phố cũng thua cờ bạc xơ xác, y hệt như người Kinh... Xin lỗi!''

    Lẽ ra trong trường hợp này người Kinh chịu lỗi với bà con Jarai của anh Dj... Những món chơi tai hại là của người Kinh mang đến; trước kia ở núi rừng chỉ có chiếc klang (1) hiền lành vô tội.

    Con diều, có những nhà khảo cứu đã cho rằng trước tiên nó là vật dùng trong việc tế lễ. Như thế, chẳng qua nó cũng như nhiều trò chơi khác, có nguồn gốc tín ngưỡng, lễ lạc: đánh đu, khiêu vũ, kịch hát v.v... Nhưng từ cái nguồn gốc những buổi cúng tế khá phức tạp linh đình, mãi đến ngày nay tại các buôn ấp thượng du mới chỉ tách ra được có một con diều, thì sự chơi đùa ở miền núi quả có vẻ uể oải. Vì vậy, từ một làng Thượng về một đô thị, ta có cảm tưởng con người ở đây bỗng dưng trẻ ra, ham chơi, ham nghịch, nhộn hơn... Trải qua nhiều nghìn năm, con người từ thái độ trịnh trọng, luôn bận tâm về lễ bái, đã tiến đến một thái độ lêu lổng, mãi bận rộn về... giải trí!

    Các môn tiêu khiển đều giết thì giờ. Thực ra ở cuộc sống các xã hội bán khai người Thượng có nhiều thì giờ thừa thãi cần giết đi hơn là ở cuộc sống hối hả của chúng ta ngày nay. Thế mà chúng ta có được chút nhàn rỗi nào lại không chịu nổi, phải lấp kín cho bằng mới nghe: chưa kể những hạng đại phú vung tiền như điên vào các cuộc tiêu khiển, ngay đến thành phần kiếm sống qua ngày như hạng chị em ta, hễ có hơi thong thả một chút là hầu hết đều vùi đầu vào chiếu bạc. Không thế không chịu được. Người cổ sơ thành ra có sức đương đầu bất động với khối thì giờ thừa thãi hơn chúng ta bây giờ.

    Như vậy, trình độ văn minh được đánh dấu bằng một tâm lý càng ngày càng nóng nảy sốt ruột trước dòng thời gian, bằng các món đồ chơi mỗi lúc mỗi nhiều thêm chăng?

    Chúng ta mong chuyện ấy hoàn toàn sai lầm. Không phải vì ý tưởng ấy có vẻ giễu cợt các cố gắng của loài người: nhân loại lớn lao đủ sức chịu đựng mọi trêu chọc nhảm nhí. Chỉ vì ý tưởng nọ khơi động đến một chỗ hơi "yếu" của riêng chúng ta. So với người Tàu, với một số dân tộc Tây phương, chúng ta hình như có ít trò chơi quá.

    Đánh cờ là trò thật siêu: người Âu, người Tàu, người Ấn Độ cùng tranh nhau làm cha đẻ ra cờ. Ta không đẻ ra cờ; mà các lối đánh bạc đang phổ biến thịnh hành ngay trong xã hội ta, ta cũng không tự mình nghĩ ra được bao nhiêu, phần nhiều là du nhập từ ngoài. Bài cẩu, tổ tôm, tài bàn, tam cúc V.V... mang nguyên danh tính Tàu. Ít-xì, xì- lát v.v... hãy còn gốc Tây rành rành. Thật là của ta, chỉ có vài ba món đơn giản: xóc đĩa, bung đôi… và một thứ bài hình thức thô sơ bài tới, bài chòi.

    Cờ bạc không thể là một vinh dự của bất cứ dân tộc nào. Lấy cái chỗ ít trò cờ bạc làm một lý do lo lắng, chắc chắn là điều lố bịch. Tuy nhiên, sau những ngày thơ thẩn bên cạnh các đồng bào thượng du đạo mạo, nhìn cảnh sống nghiêm chỉnh mà buồn tẻ của họ, ta khó xua đuổi ít nhiều áy náy về tính cách nghèo nàn trong các thú chơi ở ta trước ngày tiếp xúc với Tàu, với Tây. So với người Thượng, ta phong phú; so với Tây, Tàu, ta nghèo nàn: tình trạng ấy có ý nghĩa gì chăng?

    Nếu nó không có nghĩa gì ráo thì hay quá. Còn nếu nghèo nàn là tốt thì thượng du hơn ta, phong phú là tốt thì Tây Tàu lại hơn ta. Nghĩa nào cũng không làm ta hài lòng.

    6-1972​



    --------------------------

    (1) Klang cũng là con diều hâu (aigle)


    Của chuột và người

    Đi Bảo Lộc về, nhớ Bảo Lộc bằng mũi; đi Đà Lạt - Gia Nghĩa về, nhớ bằng từng thớ thịt của bắp chân.

    Thành phố Bảo Lộc phảng phất mùi hoa ngâu, hoa sói, hoa lài; bàng bạc trong không khí cái mùi thơm nhẹ nhàng của các chất hương liệu dùng ướp trà. Trên một chuyến xe lướt ngang qua Bảo Lộc, du khách cũng đủ thì giờ để đón nhận chút kỷ niệm qua khứu giác; ở chơi Bảo Lộc một đêm trăng, ngồi giữa một khu vườn trong bao nhiêu khu vườn của Bảo Lộc nhiều cây rậm rạp xanh tốt - những cây a-vô-ca-chê, cây quýt, cây mận, cây mít v.v... - lại càng khoan khoái vì cái mùi thơm phả đậm trong không khí sũng ướt ban đêm, mùi thơm tươi mát vì hoà hợp vào mùi lá cây tươi. Ngồi như thế để bàn lan man về những cái hình ngộ nghĩnh: con heo rừng, con gà, con nai... mà cô gái Kohor láng giềng vẫn dệt thuộc lòng vào tấm vải may ùi, về cảnh lá đổ tung bay tơi bời trong trận gió mạnh ban chiều, về mùi vị thịt cheo với uýt-ky, con cheo bị chó đuổi cắn vừa lượm được trên đồi chè ban sáng v.v...

    Thế rồi rồi Bảo Lộc ra đi; ngoái về các kỷ niệm cũ: thịt cheo, lá rừng trong gió, văn hóa Kohor, đêm trăng v.v... trên tất cả đều thoang thoảng cái hương thơm tươi mát khinh thanh...

    Còn Đà Lạt và Gia Nghĩa, chúng là hai đô thị bao gồm nhiều ngọn đồi. Không có đoạn đường nào là đoạn không dốc. Cho nên ở đây năm ba ngày, dạo chơi cho khắp các con đường, du khách thế nào cũng mang về trong đôi chân nhiều cảm giác rã rời, du khách ý thức thấm thía rằng tấm thân ô trọc của mình là cả một sức nặng. Về đến Sài Gòn, trong vòng một tuần lễ, trong lúc khách trèo lên thang lầu hay nằm mơ màng giữa hai giấc ngủ, thỉnh thoảng hoặc bắp chân bên trái chợt nhắc hỏi vu vơ về một con dốc ở Gia Nghĩa, hoặc bắp chân bên phải giậm giật thảng thốt hồi tưởng lại một sườn đồi ở Đà Lạt.

    Về hơn một phương diện, Đà Lạt với Gia Nghĩa là hai đô thị anh em: Gia Nghĩa cũng đồi cũng dốc, cũng khí hậu mát, cũng phong cảnh đẹp, cũng muốn là một thành phố du lịch như Đà Lạt. Nhưng Gia Nghĩa muốn mà chưa thành.

    Một người địa phương tiết lộ, đầy hãnh diện:

    - Hồi đó, khu này đâu được phép cất nhà? Cả cái thung lũng này tính biến thành một cảnh hồ đó, ông ơi. Xây cái đập chận ngang quãng sông Dak Nong này lại, thế là có một hồ nước lớn ở giữa thành phố. Lớn và sâu hơn hồ Vịt bên kia nhiều, ông tưởng tượng coi, đẹp chớ: trên hồ thì du thuyền, quanh bờ hồ cho cất mấy cái khách sạn, sớm chiều sương tỏa...

    - Thế thì đẹp lắm.

    - Ấy, đâu phải chỉ có vậy? Ông đã đi thác Bukhol chưa? Chưa hả? Phải, đáng tiếc, bây giờ không mấy an ninh. Hồi đó, thác Bukhol cũng có chương trình chỉnh trang. Thác Bukhol, tôi cam đoan với ông không thua bất cứ thác nào khác...

    - Tôi tin.

    - Vả lại ở nơi nào giữa thành phố có được mấy chục mẫu cam, quýt, nhãn, xoài như ở đây? Hả? Toàn giống chọn lọc. Vườn Ương bên kia con suối Dak Ut đó. Bây giờ tan hoang, nhưng hồi đó...

    - Hồi đó là?

    - Hồi ông Ngô Đình Diệm. Ông Ngô hứa hẹn sẽ xây dựng Gia Nghĩa thành ra một trung tâm du lịch. Như Đà Lạt.

    - Như Đà Lạt?

    - Nghĩa là đại khái thế, nhưng không hẳn thế. Đà Lạt dành cho du khách tư bản, ngoại quốc; Gia Nghĩa dành cho khách trung lưu, quốc nội. Công tư chức chẳng hạn, mỗi kỳ nghỉ phép có thể lên đây chơi. Khí hậu dễ chịu lắm ông ơi.

    - Tiếc nhỉ. Dự ước không thành. Hẳn là dân trên này mến tiếc ông Ngô?

    - Mến tiếc? Không dám đâu! Nói thế sái đường lối quá. Tuy nhiên, thưa ông ngày nào dân chúng đến đây làm ăn còn kiếm đủ miếng cơm manh áo, còn thiết tha với miền đất mới khai phá này thì vẫn còn...

    Ông bạn địa phương lại lo bị sái. Ông ta loay hoay một chút, rồi không đủ kiên nhẫn, vụt bỏ ngang. Lát sau, nói bâng quơ:

    - Hồi đó, toàn tỉnh này 52 nghìn dân. Năm sáu mươi sáu, còn lại chừng 28 nghìn. Bây giờ tăng dần lên trên ba chục nghìn. Bắt đầu khá rồi đó ông.

    * * *​

    Gia Nghĩa bây giờ chỉ là cái phần nổi lên trước mắt của một băng sơn. Đừng chê là nhỏ đấy nhé: phần lớn nhất của nó, khối mênh mông đó nằm trong... dự ước. Nằm nguyên trong dự ước, trong những câu chuyện trò nhắc nhở hàng ngày của dân chúng địa phương, từ "hồi đó" đến giờ, nằm nguyên không hao mòn suy suyển.

    Những ước mơ của chuột và người mặc dù không thành và chính vì không thành, đã tạo cho Gia Nghĩa cái bản sắc riêng. Gia Nghĩa đáng viếng một chuyến lắm, không phải vì hồ nước DakNong, vì thác nước Bukhol v.v... mà là vì để được chứng kiến ở đây một thế kỷ hai mươi thản nhiên sống chung bên cạnh thế kỷ thứ năm thứ bảy. Ở đây ăng-ten ti-vi mọc bên những nóc nhà sàn thiểu số, ở đây đứng trên thềm chợ nhìn xuống thấy ngọn khói đốt rẫy tỏa oằn oèo, chiều chiều một đoàn người Thượng từ các rẫy lân cận đi làm về, với gùi trên lưng, với con voi theo sau... Thỉnh thoảng cả đoàn người và voi nép tránh vào lề nhường đường cho một chiếc ô-tô vượt qua...


    Đô thị hoang sơ

    Ở Gia Nghĩa, nơi chung sống đề huề nhiều thế kỷ, giữa đô thị tôi đã bắt gặp những giờ phút xứng đáng cho một cảnh ẩn cư khuất tịch nhất.

    Có những buổi sáng thức dậy trong tĩnh mịch hoàn toàn: không có tiếng xe cộ, tiếng động cơ nào, trong sương mù chỉ có tiếng gà e é vọng từ ngọn đồi này sang ngọn đồi kia.

    Có những buổi trưa, nằm lười trên chiếc ghế bố đặt dưới một bóng cây ngoài vườn, mắt lim dim, tai mơ màng nghe tiếng trẻ con lội tắm đùa giỡn chí chóe dưới suối Dak Nong gần đó. Thỉnh thoảng một tiếng la lớn làm giật mình. Trước con mắt bỡ ngỡ của người vừa thức giấc: một đám mây trắng sáng rực trên đầu một cây chò cao ngất trước nhà, một cặp bướm vàng đuổi nhau bay nhanh qua khu vườn, rồi dừng lại chờ nhau chờn vờn trên bụi cây mép suối: hai con bướm đẹp "làm thơ" giữa trời. "Hạnh phúc thật đơn sơ".

    Rồi giấc ngủ trở lại. Trong khi thần trí lơ mơ, bên tai văng vẳng tiếng trò chuyện rì rầm của mấy thiếu phụ ngồi trên chiếc cầu doi ra mặt nước hay trên một thân cây gãy nằm là sà sát mặt nước mà giặt giũ rửa ráy, tiếng rì rầm nghe như xa như gần, lúc đứt lúc nối... Cũng trong khi thần trí lơ mơ, loáng thoáng qua đầu hình ảnh một dáng cây khô toàn xương trên đỉnh đồi, hình ảnh một làn khói đốt rẫy uể oải, như đang mải miết trầm ngâm hồi tưởng về trăm nghìn câu chuyện huyền hoặc của cuộc sống núi rừng từ muôn vạn năm xưa... Hồi tưởng vu vơ trên từng sợi khói mỏng rã dần, rã dần, tự xóa trong không. Khói xanh âm thầm tỉ tê với trời xanh về một quá khứ xa vời, như thế lặng lẽ từng buổi trưa dài, như thế ngay trong lòng đô thị diễn ra những hồi tưởng âm thầm của rẫy bái. Rẫy trong thị xã? Vâng, cái lạ đời ấy vốn là đặc điểm của nơi này.

    Những buổi trưa như buổi trưa ấy tựa hồ bất tận. Thời khắc biếng nhác, nhẩn nha. Khách tha hồ ngủ rồi thức, thức rồi lại ngủ, tha hồ tận hưởng cái thú nhàn dật. Cho đến khi chán chê, khách vươn vai đứng lên, ngó quanh quất bên này bên kia: bên phía sau đồi khói vẫn lờ đờ, bên phía chợ đàn én vẫn còn bay tan tác...

    Đàn én ở chợ Gia Nghĩa ấy, vào những tháng xuân tháng hạ, buổi sáng chúng bay thấp tua tủa như ong; trưa xế, chúng lên thật cao, tản mạn, tơi tả, tan tác đầy trời; đến chiều, chúng lại hạ thấp như một niềm vui rộn ràng quấn quít trên nóc chợ...

    Và chiều, có những buổi chiều, bên cầu Vườn Ương, tôi tưởng chung đụng đầu với sự Tịch Liêu hiện hình, một Tịch Liêu sừng sững trước mặt mình, cụ thể, cơ hồ sờ mó được.

    Khoảng sáu giờ rưỡi, sương bắt đầu đổ. Bảy giờ, đường sá vắng vẻ. Không một ngọn gió, không một chiếc lá lay động. Có tiếng con chim gì kêu thưa thót muộn màng. Một con sóc từ trên ngọn cây tuột xuống, tiến ra tận giữa mặt cầu ván, chạy qua chạy lại, tìm kiếm loanh quanh... Trong lúc đó, tiếng ve phát lên rầu rầu...

    Tiếng ve vào cái giờ ấy bên dòng suối Dak Ut mới thật là lạ lùng. Nó rỉ rả, thâm trầm. Như vừa kêu vừa suy ngẫm. Nó âm thầm, thu lắng. Bắt đầu phát ra riu rỉu, vươn dần lên; đến một lúc, tự thấy sắp trở nên ồn ào, nó giật mình tự hãm lại, rồi bắt đầu một đợt khác rỉ rả. Như một dòng suy tưởng hết sức khiêm tốn, suy tưởng miên man, tự phán về một thân phận hẩm hiu.

    Thật lạ. Tiếng ve là thứ âm thanh khua động mùa hè chói chang. Nó rộn rã, ồn ào. Hăm bảy năm trước có lần lên chơi Bạch Mã, đến giờ tôi chưa quên được buổi trưa hôm ấy đứng bên đường nhìn xuống thung lũng sâu thẳm xanh ngắt, bỗng tai nghe lần đầu phát lên thứ tiếng ve chuông khua vang rôn rổn, kinh động núi rừng. Tôi cũng không quên lũ ve hỗn hào náo nhiệt ở Huế làm cho mùa hè chỗ cố đô thêm phần gay gắt... Không có ở đâu ve kêu như bên cầu Vuờn Ương Gia Nghĩa: nó kêu như than thân trách phận, như để tăng thêm cảnh quạnh quẽ khuất lấp, như để than vãn một nỗi niềm cô tịch...

    Rồi đêm đến. Thôi, hãy đừng nói đến những đêm thâm u không đèn không trăng, hãy bỏ qua chuyên u tịch... Hãy nói qua loa về cái gió mùa ở đây.

    Trên khắp Cao nguyên Trung phần dễ không có tỉnh nào gió dữ bằng ở Gia Nghĩa. Dưới đồng bằng càng không thể có. Ở những thành phố khác, gió bất quá rung mái tôn, đập cánh cửa, bẻ gãy cây v.v... Gió ở đây, cách xa hàng cây số đã nghe nó lay động ầm ầm như đoàn công-voa xông tới. Trước khi nó ập tới, nó đã ra uy hung tợn.

    Ngựa trong phim cao bồi Viễn Tây bên Mỹ phải chạy lộp cộp trên sườn núi lởm chởm làm lăn lóc từng viên đá trái. Ngựa dữ người hách mà chạy lịch bịch trên cỏ vườn, trên bãi cát, cũng mất cả hiên ngang. Gió cũng vậy. Gió có cái uy phong của nó. Nó cũng đòi một khung cảnh của nó.



    Chuyện cá trên núi


    Có nhà khảo cứu ngoài Bắc để ý đến một sự trùng hợp kỳ lạ trong tiếng nói của rất nhiều dân tộc sống trên đất ta và trên cả miền Đông Nam Á, sự trùng hợp ở danh từ dùng để gọi con cá. Tiếng Mường cũng là cá, tiếng Xá là ca, tiếng Puộc là ca, tiếng Mãng ư là a, tiếng Thái là pa, tiếng Tày và Nùng là pia, tiếng Arem là ke, tiếng Vân Kiều là Xia, tiếng Rục là ca, tiếng Bahnar và Stieng là ca, tiếng Lào và tiếng Indonesia cũng là ca.

    Hãy viện trợ thêm vài bằng chứng nữa thuộc ngôn ngữ các dân tộc Tây Nguyên Trung phần: tiếng M'nông và tiếng Mạ là ca, tiếng Sédang là ka, tiếng Rhadé và Jarai là kan.

    Điều ấy có ý nghĩa gì? - Nhà khảo cứu suy diễn rằng có lẽ từ rất xa xưa, từ khi ngôn ngữ mới thành hình trong các dân tộc cùng sống trên dải đất Đông Nam Á, khi tiếng nói cửa từng dân tộc chưa chia biết tách riêng, ngay từ thuở ấy con cá đã có tên gọi, đã được chú trọng, đã có vai trò lớn trong đời sống của các dân tộc nọ, đã quen thuộc, đã gần gũi với các dân tộc nọ.

    Cá quen thuộc và gần gũi với người theo cách riêng biệt của nó: cách chui đầu vào nom vào đó, cách cắn câu!

    Bởi vậy, tại Bảo tàng viện Paris, nhà khảo cứu để ý rằng trong sưu tập các loại dụng cụ đánh cá đan bằng nan trên thế giới, thì dụng cụ của dân Đông Nam Á là phong phú nhất.

    Tôi không được chứng kiến cái sự phong phú ấy tại Paris. Nhưng một đêm ở Gia Nghĩa, được nghe kể về dăm ba hình thức bắt cá của người M'Nông và Mạ khá lý thú.

    Ông bạn người địa phương - một ông bạn từng đi lính dưới thời Pháp thuộc, đóng quân gần khắp nơi ở Cao Nguyên, quá nửa đời người dành rất nhiều thì giờ cho các trò săn thú, bắn chim, đánh cá v.v... Ông bạn ấy kể:

    - Người ở đây họ có thứ đó đan bằng ống lồ ô chẻ ra, khá hẹp. Bên trong, theo chiều dọc, họ buộc những cọng mây. Gai mây quay về một chiều, xuôi vào phía cuối đò: cá đi vào thì được, nhưng lúc muốn lui ra, ngược chiều gai mây, cá bị gai móc vào thịt.

    Anh Y Y... người Mạ, ngồi bên cạnh lấy làm thích thú về cái mưu mẹo của đồng bào mình. Anh phát lên cười, giải thích:

    - N'glẽ! Cái ấy, tên nó là n'glẽ.

    - Lại còn thứ này nữa, tựa như cái bẫy chuột ở dưới ta. Họ vây lại một khoảnh nhỏ, ngay lối ra vào có một cái cửa treo cao lên bằng cần bẩy. Khi cá vào bên trong đông đảo, tranh nhau ăn mồi, làm động cần bẩy, cửa sập xuống, giữ cá lại...

    Anh Y Y... sáng mắt lên, hãnh diện kêu:

    - Mar !

    Cái mar cái n'glẽ, không biết có chăng trong đám sưu tập phong phú nọ tại Bảo tàng viện Paris, điều ấy không dám quyết. Duy hình thức bắt cá sau đây thì chắc chắn không được trình bày tại Paris:

    - Người ta buộc con ong vào một đầu sợi chỉ, buộc trái bưởi vào đầu khác. Thứ bẫy ngộ nghĩnh nọ được quăng xuống nước; con ong bay lên bị sợi chỉ giật rơi trên mặt nước, lại bay rồi lại bị giật rớt xuống... Cứ thế đến một lúc con ong bị cá chú ý vì những xao động gây trên mặt nước. Nó bị một con cá đớp, nuốt. Ong đốt cá. Ban đầu cá còn sức mạnh để lôi trái bưởi chạy tung tăng, rút trái bưởi chìm sâu. Nhưng rồi cá đuối sức, trái bưởi lại nổi lên, trôi lững đững... Người ta đón ở phía dưới dòng nước, vớt bưởi và cá lên.

    Anh Y Y... lần này lắc đầu, không biết lối bắt cá ấy tên gọi là gì. Người Mạ không có lối đó chăng? Anh Y... về thành phố học hành quá sớm, không thông thạo về nghề cá của đồng bào mình chăng? Tôi ghi lại cả những lối anh Y... biết tên và cả lối mà anh không biết tên gọi. Một cuộc tìm tòi khảo sát nghiêm chỉnh của một người có kiến thức chuyên môn chắc chắn sẽ phát giác thêm nhiều cách thức kiếm sống gợi lại hình ảnh cuộc sinh hoạt của tổ tiên ta xưa kia.

    Trong lúc chúng tôi chuyện trò, ông cụ ở nhà trọ ngồi đánh chắn. Bên ngoài, trời tối như mực. Thành phố không đèn. Đóm bay thưa thớt lạc loài mấy con. Sương xuống ướt đầm cây lá trong vườn... Mười hai giờ đêm còn trông thấy ông cụ tám mươi tuổi già trong đám chắn; ba giờ sáng, chợt thức giấc, thấy ông cụ cầm cây đèn cầy đi tìm cái điếu hút một điếu thuốc lào; năm giờ sáng lại bắt gặp ông cụ ngồi uống trà. Ông cụ phân trần: "Không ngủ được, ông ơi. Lắm đêm tôi chỉ chớp mắt được mươi phút, nửa giờ. Thế này còn khá; vào mùa gió dữ thì suốt đêm thao thức. Ông nghĩ: Cả nhà con cháu ngủ cả, một mình thức chòng chọc, lẩm thẩm, quanh quẩn, như lén như lút! Tôi chỉ mong cho được chết. Sống chừng này như cái cây đã khô bên trong: không còn sinh thú gì nữa..."

    Lên đây, nhà xã hội học lần dò về cuộc sống cổ sơ; còn những vị có đầu óc triết lý, trong khung cảnh này, bên cạnh các sức mạnh thiên nhiên hoang dại, các vị ấy sẽ có chán chê thì giờ để miệt mài suy tưởng về các vấn đề của cuộc sống, về ý nghĩa kiếp người.

    10-1971​




    Cha cậu Thuột

    Ban Mê Thuột là một thị trấn lớn của Cao nguyên Trung phần. Có thời lừng lẫy, hồi 1955, nó từng là thủ phủ hành chánh cấp vùng. Từ đó, nó là một tên quen thuộc trong địa lý nước nhà. Ít người nghĩ rằng Ban Mê Thuột quen thuộc lừng lẫy ấy, nằm giữa Cao nguyên để nêu lên một vấn đề thân tộc học từ bao lâu nay mà không được chú ý đến.

    Ban Mê Thuột là lối phiên âm của người Pháp. Theo một cách giải thích tại địa phương, thực ra đó là "Buôn Ama Y Thuột", nghĩa là: Làng của cha cậu Y Thuột.

    Không phải chỉ cậu Thuột mới có một người cha được xưng hô như thế: bao nhiêu đàn ông Rhadé khác đều thế cả. Tại thị xã Ban Mê Thuột hiện nay có con đường lớn mang tên Ama Trang Long (cha của Trang Long là một chiến sĩ chống Pháp).

    Thiết tưởng không dễ tìm thấy những tên đường tên xứ đặt theo kiểu ấy ở nơi nào khác, trong nước hay ngoài nước ta, mặc dù lối gọi tên người của đồng bào Rhadé có phần nào giống với lối gọi của người Việt Nam dưới Kinh. Ở ta, tại thôn quê, đối với một người đã có con, ta cũng tránh gọi tên tục và chỉ gọi bằng tên con: ông Danh tức cha cậu Danh, bà Hòa tức mẹ cô Hòa v.v... Nhưng giữa ta và Rhadé vẫn có một chút khác biệt: Ta gọi tắt, đồng hóa tên cha với tên con; người Rhadé thì nói đầy đủ, minh bạch: ama, cha của...

    Chút khác biệt ấy đưa tới những dị đồng xa hơn.

    Người Rhadé sở dĩ phải minh bạch là vì một người đàn ông trong đời mình không phải chỉ "mượn" một tên con mà thôi. Lúc bé, cậu A được gọi là A; khi cậu có vợ, được gọi là chồng (ung nũ) cô B chẳng hạn; khi có con, được gọi là cha (ama) thằng C; đến ngày có cháu, lại được xưng là ông (ae nũ) bé D... Rắc rối thế, cho nên không thể không minh bạch.

    Trong tục lệ của ta dường như chỉ có một dụng ý tế nhị, tránh kêu đích danh một kẻ đã trưởng thành. Còn ở người Rhadé, trong cuộc sống sinh lý của con người sinh trưởng và truyền giống lại mai sau, mỗi thắng lợi đều được ca ngợi, tuyên dương trước tập thể: mỗi lần đổi tên, người đàn ông như được thăng lên một trật... Nhưng ai dám vội nói nhiều về các ý nghĩa? Một địa danh, một chút xíu chứng cớ đó, bất quá nó chỉ có thể gợi lên vấn đề, khiến ta ngờ rằng ở đây có một quan niệm về tương quan thân thuộc ngộ nghĩnh. Trước khi rút được cái ý nghĩa của những khác lạ ngộ nghĩnh ấy, còn nhiều tìm tòi.

    Lối gọi tên của người Rhadé cũng thấy phổ biến ở xã hội M'Nông (ông Trang Long kể trên là người M'Nông), và ở sắc dân Jarai sống tại Phú Bổn. Nhưng người Jarai ở Pleiku không dùng lối gọi ấy.

    Người Jarai Pleiku thì lại có cái ngộ nghĩnh trong sự xưng hô. Ở đây, rể và dâu đều gọi chung là ană pơtâu; cha chồng, mẹ chồng, cha vợ, mẹ vợ, đều là tơhmua cả; anh rể, chị dâu đều là ai cả... Không phải người Jarai không phân biệt phái tính: chị là amai, anh là ayong, cha là ama, mẹ là ami v.v... Nhưng chỉ có sự phân biệt phái tính trong thân thuộc mình, còn đối với những thành phần "ngoại nhập" thì sự xưng hô thật là sơ lược, không cần quan tâm đến chuyện nam nữ.

    Những cách xưng hô của các sắc dân nọ hẳn là có phản ảnh cơ cấu thân tộc riêng biệt của họ, đối với của chúng ta có những chỗ khác nhau đáng chú ý. Những chỗ khác ấy không chắc sẽ còn tồn tại lâu dài, nếu không ghi nhận kịp thời, có thể một ngày kia sự tìm hiểu sẽ thành khó vì quá muộn.

    Hiện nay, tại các đơn vị quân đội trên Cao nguyên, thỉnh thoảng gặp trường hợp một binh nhì mười tám tuổi khai tình trạng gia đình: một vợ chín con. Anh ta không nói dối: theo tục lệ, sau khi các người anh lớn qua đời, anh ta cưới chị dâu và nuôi tất cả đàn con của anh.

    Cũng hiện nay, trên Cao nguyên, nhiều gái Thượng đi làm sở Mỹ, cũng lừa chồng đẻ con da trắng tóc vàng; cũng có đám con gái Thượng "bụi đời", chống đối cha mẹ; lại cũng có những cô gái thượng lấy chồng Mỹ, và trao đổi thư từ ra rít với California, Texas v.v... Anh Dj... một người bạn Jarai đã lớn tuổi, kể lại những nông nỗi ấy, rồi lắc đầu: "Vậy đó ông, không khác gì người Kinh". Anh vội vàng tiếp theo: "Xin lỗi!" (Anh xin lỗi vì đã bảo người Thượng không thua người Kinh, hay bắt đầu ngao ngán về người Kinh?) Dù sao, quả thực trong nếp sống người Thượng đang có những biến chuyển nhanh chóng. Nhất là từ ngày buôn ấp bất an, người Thượng phải dồn về các ấp tân sinh, các trại tạm cư gần đô thị.

    Con gái Thượng đã "bụi đời", đã tiến hăng thế, sức mấy mà con trai mười sáu mười bảy chịu tiếp tục ôm lấy một bà chị dâu nhăn nheo với đàn con chín đứa? Cơ cấu thân tộc cũ chẳng bao lâu nữa sẽ tan vỡ.

    Thân tộc, cơ cấu, Claude Lévi-Strauss v.v... những món thời thượng đó, nhiều người vui lòng nói đến lắm. Nhưng nói với những dẫn chứng về dân Trobianđais, dân Pueblos, dân Iroquois, dân Esquimaux v.v... kia. Mấy khi có dẫn chứng về cuộc sống quanh ta? Những hành trình ra hành trình vào dân tộc học vẫn theo các con đường lạ hoắc. Giá có được cuộc hành trình bằng con đường ama Trang Long, ama Trang Gưh!






    Người không mặt



    Trong trường hợp tiếng cá, ngôn ngữ đã gợi ý những suy đoán về một khía cạnh trong cuộc sống kinh tế cửa tổ tiên chúng ta và của nhiều dân tộc khác trên cùng dải đất Đông Nam Á xưa kia.

    Suy đoán như thế không thể không nguy hiểm. Chẳng hạn trong các thứ tiếng Bahnar, M'Nông, Mạ, thì "rẫy" đều được gọi chung là mir cả, "ăn" đều được gọi chung là sa cả. Tốt quá, chúng ta sắp sửa kết luận về sự gần gũi giữa ba ngôn ngữ này. Nhưng kìa, "đi" thì M'Nông nói hán, người Mạ nói lot, người Bahnar nói bỗk ! Ô hay, tại sao ăn thì giống nhau mà đến khi đi lại hoàn toàn khác nhau, chia rẽ nhau?

    Lại chẳng hạn Việt Nam ta gọi lá, người Chàm gọi hala, người Rhadé gọi hla v.v... Được lắm. Nhung đến "cây" thì mỗi đàng nói mỗi khác.

    Lại nữa, Việt gọi đất, Mạ gọi tiah, M'Nông gọi neh, Bahnar gọi teh... Nghe gần nhau lắm. Nhưng hỡi ôi, khi nói đến trời thì Mạ bảo là tơngai, M'Nông bảo là nar.

    Vì sao đi không được như ăn, cây không được như lá, trời không được như đất? Những rắc rối đó, kẻ phàm tục không nên lao vào, hãy dành cho các tay chuyên môn. Những tay này chịu khó lần dò, chắc chắn có ngày sẽ phát giác ra lắm điều bất ngờ về những liên hệ phức tạp, phiền toái mà sâu xa, giữa các dân tộc anh em trên đất nước ta.

    Vậy kẻ phàm tục khôn ngoan lẽ ra nên dựa cột đứng ngoài. Nhưng kẻ phàm tục đôi khi không dễ dàng giữ được thái độ khôn ngoan trước một vài cám dỗ mạnh mẽ.

    Ở đây, sự cám dỗ là cái mặt.

    Đối với các bộ phận nhân thể, nhiều sắc dân ở Cao Nguyên vẫn mượn ngôn ngữ của nhau để gọi: cái "lưng" thì người Jarai, Bahnar, Sédang đều gọi là tơneo; cái "ngực", người Jarai, Bahnar đều gọi là rơtơh; cái "đầu", người Rhadé, người Sédang, người Jaraỉ cùng gọi là ko, người Chàm gọi ako... Những tiếng ấy không có gì gần giống với tiếng Việt Nam.

    Nhưng đến cái mặt, thì người Mạ, người Bahnar, người M'Nông đều dùng hẳn tiếng Việt, người Sédang dùng một tiếng tương tự là ma. Như vậy phải chăng trước khi tiếp xúc với người Kinh, nhiều sắc dân thiểu số ở ta chưa có tiếng dùng để chỉ cái mặt? Họ đã có những tiếng chỉ từng lỗ mũi, con mắt, cái tai v.v..., nhưng cái mặt thì chưa.

    Trường hợp bất thường trong ngôn ngữ này ngộ nghĩnh vì nó có chút phù hợp với một đặc điểm trong lối điêu khắc của các sắc dân thiểu số Cao Nguyên.

    Một họa sĩ miền Bắc, ông Nguyễn Phi Hoành, nhận xét rằng ở các sắc dân Sédang, Jarai v.v... có thứ nghệ phẩm đặc sắc là những tượng gỗ để chung quanh mồ mả. "Chỗ lý thú trong tượng này là quan niệm về tạo hình của đồng bào. Hình dáng thân người và tay chân thì rất đơn giản không có gì lạ: chỉ có cái mặt là đáng chú ý. Cũng như nhiều dân tộc ở châu Phi, đồng bào Jarai, Sédang v.v... không nhìn vào hình khối của khuôn mặt mà chỉ thấy chi tiết như mắt, mũi, miệng trên một nền bằng có chu vi theo khuôn mặt: do đó đầu người giống như một phù điêu cắm trên thân là tượng tròn".

    Mặt đã không có trong tiếng nói, lại không có trên tượng người. Vậy, những đồng bào thiểu số ấy trông không thấy cái mặt, nghĩ không ra cái mặt.

    Trông không thấy? Không thể bảo giữa người Kinh và những người Thượng ấy có sự hơn kém, sự khác biệt về thị giác. Thực ra, đây là chuyên nhận thức, quan niệm. Sở dĩ không thấy được là vì không quan niệm được cái mặt.

    Mà cái mặt nó có là gì đâu? Chân tay, mũi, miệng v.v..., chúng là những bộ phận cụ thể; còn cái mặt, cái ót, cái gáy, cái màng tang (thái dương) v.v... thì đó chỉ là những phía, những khu vực khác nhau của một vật cụ thể là cái đầu mà thôi. Đối với đầu thì mặt chỉ là một phía; đối với lỗ tai, con mắt, cái mũi..., mặt chỉ là một cái nền. Có tên gọi cũng được, không có tên gọi cũng được. Nó không phải là một bộ phận riêng rẽ, độc lập. Để tách rời cái gọi là khuôn mặt khỏi cái khối cụ thể là đầu người, phải có một cố gắng trừu tượng hóa. Một cố gắng trong sự quan niệm, suy tưởng; không phải một cố gắng của thị giác để nhìn cho rõ.

    Một số dân tộc thiểu số ở ta, nhiều dân tộc khác ở châu Phi không biết có khuôn mặt, một cái sờ sờ trước mắt, như thế phải chăng là ở một trình độ nào đó, khả năng trừu tượng hóa chưa phát triển đủ dể khiến con người nhận ra cái mặt? Nếu có vậy, trình độ khả năng này hình như cũng không cần cao lắm: người Việt ta, người Chàm, người Tàu v.v... đều có tiếng riêng để gọi cái mặt từ xa xưa; khi tiếp xúc nhau thì bên nào bên ấy đều đã có sẵn, không cần mượn của nhau. Một số sắc dân Thượng ở Cao Nguyên cũng đã có tiếng riêng để chỉ cái mặt.

    Dù sao, suy diễn đến thế đã là chuyện phiêu lưu, rất đáng ngại.

    (10-1971)​