14.vancuong7975(xong)WIKI

23/11/15
14.vancuong7975(xong)WIKI
  • Link docx

    Link pdf

    Y cho vay nặng lãi theo hệ thống năm ăn sáu: với năm đôla vay đầu tiên, cuối tuần con nợ phải trả sáu đôla. Nếu con nợ không trả được, nợ sẽ tăng nhanh và con nợ càng lệ thuộc nhiều hơn vào chủ nợ, phải nghe lệnh của y và thực hiện những công việc bẩn thỉu nhất, kể cả giết người.

    Năm 1936, Joe Rosen bất đồng với Buchalter và bị bắn chết. Khi Abe Reles và các găngxtơ khác bị dồn đến bước đường cùng và bắt đầu khai trước uỷ viên công tố O’Dewey, những chi tiết của vụ giết người này được đưa ra ánh sáng. Lần này hiệp ước với sếp FIB hoàn toàn vô giá trị. Tòa kết án tử hình Buchalter.

    Buchalter còn cố giãy giụa lần cuối. Y kháng án, đệ đơn xin giảm án, nhưng y chỉ đạt được một điều là ngày xử án được lui lại. Ban đầu, bản án tử hình được ấn định thi hành vào ngày 6.2.1944. Trước đó mấy ngày Lepke tuyên bố với thống đốc Dewey một vụ mua bán có lợi cho cả hai. Nếu được giảm án, y sẽ tiết lộ cho Dewey những bí mật liên quan đến mafia và tổ chức tội ác, quan trọng tới mức Dewey sẽ trở thành anh hùng dân tộc và sẽ giành thắng lợi trong bầu cử tổng thống sắp tới. Dewey từ chối sự giúp đỡ của tên găngxtơ và đã thua cuộc trong đợt chạy đua vào Nhà Trắng. Buchalter cũng thua ván bài cuối cùng và kết thúc sự nghiệp găngxtơ trên ghế điện.

    Các thành viên khác của thế giới ngầm Hoa Kỳ như Goldsein. Phill Strauss, Abandonado, Mendy
    Weiss và Lonis Capone cũng kết thúc cuộc đời trên ghế điện. Anastasia biến mất. Y may mắn nhất trong bọn, mặc dù có lẽ tay y dính nhiều máu nhất.

    Ta hãy trở lại vụ sát hại Morris Diamond mà Doc Stacher đã nhắc tới và tìm hiểu sâu thêm “sự nghiệp” của Anastasia trong lĩnh vực công đoàn. Như những tên khác, y cũng có gốc Ý, nhưng y “di cư” đến Hoa Kỳ bằng con đường kỳ quặc. Tháng 8 năm 1920, gần bờ biển Mỹ, từ trên boong một chiếc tàu chở hàng Ý, bỗng nhiên nhảy ra hai người đàn ông họ sải tay và bơi nhanh vào đất liền. Đó là anh em Umberto và Antonia-Anastasia. Mặc dù vượt biên giới trái phép, họ vẫn được đón tiếp chu đáo. Đã mấy năm trước, bốn anh em trai khác của Anastasia làm việc ở cảng New York. Họ mang đến quần áo khô ráo và thu sếp công việc cho hai người mới tới ở xưởng tàu.

    Một thời gian họ làm việc thực sự lương thiện, sau đó Antonio gia nhập công đoàn công nhân cảng và đưa cả Umberto, bấy giờ đã đổi sang tên Mỹ là Albert, vào tổ chức này. Có thể ban đầu họ thật sự vì đời sống công nhân, bảo vệ quyền lợi của đoàn viên và cố gắng đạt được những tiến bộ xã hội. Nhưng chúng nhanh chóng nhận ra cách kiếm tiền dễ dàng bằng sự tống tiền các tổ chức công đoàn và các chủ hãng. Thế là chúng liên kết với găngxtơ, hoạt động ở vùng cảng.

    Ý đồ được mang ra thử nghiệm ở nhà máy lớn Philips, Dodge ở New Jersey. Chúng đưa cho lãnh đạo nhà máy một yêu sách láo xược: từ nay trở đi nhà máy phải đều đặn trả tiền “bảo hiểm”, bằng không hậu quả sẽ không lường trước được. Ban giám đốc từ chối đàm phán với những kẻ tống tiền. Antonia và Albert Anastasia tổ chức bãi công, làm tê liệt hoạt động của nhà máy. Giám đốc đầu hàng và cam kết mỗi ngày trả cho anh em Anastasia 1000 đôla để chúng “đảm bảo” sự yên tĩnh trong nhà máy.

    Sau khi thỏa thuận với lãnh đạo nhà máy, anh em Anastasia quay lại yêu cầu công nhân làm việc. Nhưng công nhân thực sự bãi công vì các quyền lợi xã hội và không chịu nhân nhượng. Thế là dẫn đến sự giằng co và Antonio cùng Albert, cho đến lúc đó đóng vai đại diện công nhân, dẫn đến những tên phá hoại bãi công để phá võ sự thông nhất của công nhân; Bắt đầu sự xáo động, ẩu đả, thậm chí cả bắn nhau. Công nhân canh gác cổng nhà máy bị bắn chết.

    Albert Anastasia nhanh chóng nhận ra các mối quan hệ khăng khít và những luật lệ không văn bản của thế giới ngầm đang hoành hành ở vùng cảng. Y liên kết với Joe Adonis và Frank Costello, cố gắng thâu tóm các công đoàn ở các xưởng tàu tại New York và New Jersey. Trở ngại đầu tiên của y là Joe Turino.

    Joe Turino là thủ lĩnh công đoàn với bàn tay không phải hoàn toàn trong sạch. Y có địa vị cao, ảnh hưởng lớn và cũng khá nhiều tiền. Turino và Anastasia có cùng mới quan tâm giống nhau là tiền, vì thế chúng cản trở lẫn nhau. Không thỏa thuận được với nhau, chúng coi nhau như kẻ thù. Thế là Turino bị một người lạ mặt bắn chết trên phố, cảnh sát tiến hành điều tra và nhanh chóng tìm ra dấu vết dẫn tới Albert Anastasia và chiến hữu của y, Jim Florino. Chúng bị tòa truy tố và kết án tử hình. Lúc này mới thấy Anastaisa nhìn xa thấy rộng như thế nào, khi y liên kết với Costello và Adonis thế lực. Bọn này xách cặp tọng đầy đôla đi thăm quan tòa và cảnh sát. Thế là tòa kháng án, nghiên cứu lại vụ giết người và trả lại tự do cho hai tên tội phạm, vì thiếu bằng chứng.

    Chiến thắng những người bảo vệ pháp luật cổ vũ găngxtơ và thế là Anastasia lại tiếp tục sự nghiệp tống tiền. Lần này chúng nhằm vào các chủ hiệu giặt, phần lớn là người Tàu. Họ từ chối trả tiền “bảo hiểm” và ba người đã bị chúng hắn chết để cảnh cáo. Giữa những thủ phạm, các nhân chứng đã nhận ra Albert Anastasia và chiến hữu của y là Tony Romeo. Những găngxtơ có bên phía mình nhiều nhân viên cảnh sát có thể thu sếp tất nhiên với phần thưởng béo bở, để tòa không có đủ bằng chứng. Tên giết người tàn bạo Anastasia lại tiếp tục hoành hành không từ một phương tiện nào.

    Trong kho gửi hàng ở một ga nọ, các nhân viên ngửi thấy một mùi khác thường từ một vali to, do một đàn ông lạ mặt mang đến gửi trước đó vài ngày. Cảnh sát được gọi tới, mở vali và mọi người kinh hoàng ôm mặt, chỉ thiếu nước nôn ọe. Trong vali là xác chết bị chặt làm bốn khúc của John Banzanno đang được cảnh sát tìm kiếm. Trước đó mấy ngày, Banzanno đến đồn cảnh sát và tỏ ra sốt sắng khai báo về các vụ giết người của Albert Anastasia và các tay súng của y.

    John Banzanno là thành viên của băng nhưng lại dám chống lại sếp. Gã muốn lật đổ Anastasia và ngồi lên ghế của hắn. Gã quyết định không giết sếp mà lại nhờ bàn tay của cảnh sát.

    Sau khi giải thích nguyên nhân, gã thỏa thuận với thanh tra cảnh sát là về tự nguyện ngồi tù một thời gian vì lý do an toàn. Sáng mai gã sẽ vào tù và bắt đầu khai vào văn bản. Gã không đến, cho nên người ta bắt đầu đi tìm. Khi tìm thấy tử thi của gã trong vali, ai cũng rõ kẻ đã giết gã. Nhưng cảnh sát không có lấy một bằng chứng về sự giết người, cũng như về thủ phạm.

    Năm 1939, Morris Diamond là chủ tịch công đoàn xe tải. Trong thời gian ấy, Buchalter đang cố gắng chiếm đoạt tổ chức này và Diamond cản trở hắn, bởi vì ông không muốn tuân theo các điều kiện của hắn. Thậm chí Diamond còn chống lại tên găngxtơ thế lực, ông đến văn phòng của phái viên chính phủ Thomas Dewey khiếu nại găngxtơ dùng các thủ đoạn tội ác chiếm đoạt các tổ chức công đoàn và nêu tên thủ phạm. Buchalter phải có người, thậm chí ở cả trong văn phòng của uỷ viên công tố, vì ngay tối hôm đó hắn đã có bản copy lời khai của Diamond.

    Lập tức hắn triệu tập ngay hội đồng tối cao mafia, quyết định thủ tiêu Diamond.

    Trong đội hành quyết đông đảo, có tất cả những tay súng thiện nghệ. Trước khi hành động, Bugwormau, Allie Tannenbaum, Jack Parisi, Mendy Weiss và Julio Catalana còn gặp Albert Anastasia trong câu lạc bộ của Đảng dân chủ. Anastasia truyền đạt cho chúng những hướng dẫn chính xác, và dưới sự chỉ đạo của y, trước hết chúng theo dõi để xác định lịch sinh hoạt hàng ngày của thủ lĩnh công đoàn.

    Anastasia chuẩn bị phương án và phân chia nhiệm vụ. Trước hết, chúng ăn cắp một xe con, tất cả lên xe và đỗ không xa nhà ở của Diamond. Julio Catalana ngồi chờ sau vô lăng. Khi Diamond xuất hiện sau góc phố, Jack Parisi bắt đầu băng qua đường. Đó là tín hiệu cho Catalana. Xe đến ngã tư đúng lúc Jack Parisi nổ súng và nhảy lên xe. Julio Catalana nhấn ga, găngxtơ biến mất và không ai để ý chiếc xe cả. Diamond nằm lại trên ngã tư, bị giết giữa phố không một nhân chứng. Anastasia đã giúp Buchalter loại được một đối thủ nguy hiểm, thu được món thù lao đáng kể và cảnh sát phải đưa vụ án vào kho lưu trữ vì không tìm ra lấy một nhân chứng sẵn sàng khai thác trước tòa.

    Năm 1940, Peter Panot biến mất, như thể anh ta chui xuống đất. Đó là một công nhân cảng trẻ, hãnh tiến một thủ lĩnh công đoàn uy tín, Panto tự đặt cho mình một nhiệm vụ không dễ dàng là tẩy sạch ảnh hưởng của mafia và các cán bộ công đoàn suy thoái khỏi các chức công đoàn. Ban đầu chúng ra sức bôi nhọ anh loan tin anh là đảng viên cộng sản, trong báo xuất hiện các bài nói xấu anh. Nhưng tất cả các trò đó đều vô ích, công nhân biết rõ anh là một cán bộ công đoàn trong sạch, quan tâm duy nhất đến quyền lợi của công nhân cảng. Anh được phần lớn công nhân cảng ủng hộ, mafia càng ngày càng cảm thấy rõ rệt ảnh hưởng và uy tín của chúng đang mất dần ở vùng “Waterfront” (mặt trận nước) này. Cho nên Albert Anastasia, người bị ảnh hưởng nhiều nhất, quyết định loại trừ địch thủ.

    Ngày 17-7-1940, Peter Panto, không mảy may linh cảm cái chết đang chờ mình, đi thăm người yêu. Một lát sau anh nói với bạn gái là phải đi họp khoảng một tiếng với các cán bộ công đoàn. Anh chia tay người yêu và không bao giờ quay lại nữa. Khi Abe Reles tiết lộ chi tiết vụ sát hại, người ta đã tìm thấy xác chết của Panto cùng nhiều người khác ở công trường phá đá bỏ hoang gần Pasaica. Chính Abe Reles đã giúp các thám tử FBI và cảnh sát xác định Panto bị giết như thế nào.

    Panto thực sự có cuộc họp với hai cán bộ công đoàn nhưng do Alleri Anastasia giật giây. Một tên Judas được trả công 30 đôla, còn tên thứ hai kém hơn 5 đôla. Hai tên này bắt đầu đàm phán với người cán bộ công đoàn trong sạch. Chúng muốn mua anh, hứa hẹn những đặc quyền và các khoản đáng kể, nếu anh hợp tác với mafia. Đàm phán không dẫn đến thỏa thuận, cho nên họ chia tay và cùng đi ra. Khi đã ở trên phố và đi qua một xe đang đỗ, Panto bị đẩy vào trong xe và bị bóp cổ chết. Theo bản khai của Reles thì Mendy Weiss đã đánh chết Panto ở trong nhà. Sau đó chúng chở xác chết đến công trường đá và vùi chung với các xác khác.

    Các lời khai của Reles và Buchalter tạo điều kiện cho giám đốc FBI Hoover bắt đầu chiến dịch tấn công mafia trên mặt trận rộng lớn. Hoover thiết lập một đội tiễu trừ đặc biệt gồm 32 thám tử kinh nghiệm, những tay súng thiện xạ có nhiều chiến tích trong chiến tranh thế giới thứ hai. Họ đã tóm được 670 tên cướp của tổ chức tội ác Anastasia, làm tê liệt về căn bản lực lượng của mafia trên vùng cảng New York.

    Anastasia tẩu thoát và mãi tới năm 1942, y mới xuất hiện trong bộ quân phục hạ sĩ quan quân đội Mỹ. Y trở thành hướng dẫn viên trong trại huấn luyện ở Pensylvania, trong khi vẫn tiếp tục chỉ huy mafia. Y sống qua tất cả các cuộc khủng bố, vây ráp. Bị bắt vài lần, nhưng không lần nào y bị kết án. Y sống như một chủ nhân khá giả của một số hãng phát đạt trong hoà bình, cho tới năm 1957 y bị giết chết trong hiệu cắt tóc của khách sạn Park Sheraton. Sau này người ta đã điều tra ra nguyên nhân cái chết của y.

    Khi băng của Meyer Lansky chuyển đến La Habana và hối lộ tên độc tài Batista cho phép mở các casino và thu được những món lợi kếch xù, thì Albert Anastasia cũng bay tới khách sạn National ở La Habana xin cho nhập hội. Bị từ chối, y tự ái thề trả thù và tuyên bố sẽ mở một hãng cạnh tranh. Với món tiền hối lộ lớn, y cũng nhận được sự đồng ý của Batista. Giám đốc của hãng Lansky ở Cuba là găngxtơ lừng danh Luigi Trafficante, người mà chúng ta còn gặp ở các chương sau. Tên này biết được sự táo tợn của Anastasia, bay về New York báo cáo với sếp. Lansky triệu tập hội nghị thượng đỉnh mafia, tường trình trường hợp Anastasia hỗn láo, và những tên có mặt nhất trí với bản án tử hình. Thế là quyền lợi của Vito Genovese và Meyer Lansky gặp nhau và số phận Anastasia được định đoạt. Nghe đâu tay súng thứ hai đột nhập vào hiệu cắt tóc ở khách sạn Park Soeraton ngày 25-10-1957 là Luigi Trafficante. Nhưng không ai chứng minh được điều đó.

    THỦ ĐÔ MAFIA
    Thủ đô của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ không phải là New york mà là Washington D.C. Thủ đô của mafia Hoa Kỳ không phải là Chicago mà là Las Vegas. Đây là một thành phố với khí hậu khắc nghiệt nằm giữa sa mạc Nevada, không xa Máng Lớn sông Colorado, một trong những kỳ quan thế giới. Thành phố được dựng lên từ những bục lớn, phủ bằng những lớp đèn nêon nhấp nháy liên tục. Các cổng vòm của những casino ở Strip nổi tiếng làm ta liên tưởng đến kiến trúc các trường bắn trên sa mạc. Las Vegas là thành phố của cờ bạc, tội ác và mãi dâm, Mafia đã tạo cho nó bộ mặt ngày nay.

    Những tên tội phạm nguy hiểm, giết người, ăn cướp và lừa đảo tự dựng lên thành phố này để ở đây, cách xa đồn cảnh sát và bao bọc bởi những đồng cát nóng bỏng chúng có thể đóng vai các nhà quí tộc tẩy sạch những đồng tiền tội lỗi và đầu tư vào ngành kinh doanh béo bở: cờ bạc.

    Ước vọng chơi và chiến thắng đã gắn liền với lịch sử loài người từ biết bao đời nay. Cuộc hành trình của thuyền Mayflower năm 1620 chở 41 con chiên thánh giáo Anh, những người hành hương và phát kiến thuật sự châu Mỹ, đến tổ quốc mới được tài trợ bằng số tiền thu được từ xổ số. Đội quân cách mạng chiến đấu giành độc lập cho châu Mỹ cũng nhận lương từ quỹ xổ số. George Washington lương thiện là một người đánh bạc đam mê và người ta nói rằng tối duy nhất ông không ngồi bên bàn chơi là đêm hành quân thắng lợi qua sông Delaware.

    Ao ước gặp may, được cuộc đã đi vào các truyện thần thoại và cổ tích, nhưng đó chỉ là những giấc mơ và mong muốn không thành. Người được cuộc duy nhất trong các kinh nghiệm và cả toán học chứng minh. Nếu không phải như vậy, các casino làm sao tồn tại được. Những casino ở Las Vegas lột từng đôla của các con bạc với sự duyên dáng của chủ nhà lịch sự, quan tâm một cách cảm động tới lợi ích của người thua cuộc.

    Từ Los Angeles tôi đến thủ đô mafia bằng xe buýt. Đó là con đường dài khoảng 400 dặm, giữa sa mạc khô cằn, có chỗ được viền bởi hàng cây số đồn điền hạnh nhân. Rời chiếc xe ca có gắn máy điều hòa, tôi băng qua vỉa hè nóng bỏng đến phòng khách mát lạnh của khách sạn. The Mint. Sau đó tôi đi giữa hai hàng rào danh dự của các “tên cướp một tay”- máy chơi tự động, đến bàn thường trực. Trong khách sạn có tới 600 máy chơi kiểu này. Khi điền giấy đăng ký, một nữ chiêu đãi viên đã đưa cho tôi một số tít-kê chơi keno(63). Cạnh thang máy được đặt các máy chơi tự động, xa hơn một tí là bàn chơi xóc đĩa phủ nhung được chiếu sáng rực rỡ, bàn chơi baccarat(64) và Blaokjak(65) được đặt khắp nơi, không chừa một chỗ trống nào. Đi điểm tâm, đến nhà ăn, vào các bar, ở đâu đó khách cũng gặp các sòng bạc. Las Vegas hoạt động liên tục 24 tiếng mỗi ngày. Khác với các casino khác trên thế giới, ở đây con bạc có thể nhẵn túi bất cứ lúc nào đêm cũng như ngày.

    Ở các máy chơi tự động, với số tiền đặt từ 5 đến 25 xen, mỗi lần trúng số, các đèn hiệu nhấp nháy và tiếng chuông vui vẻ thông báo tới một vùng rộng xung quanh. Còn các lần thua thì im lặng như lễ cầu hồn. Tiếng chuông reo của “Slot-maschines” - máy chơi tự động, là một mánh khóe tâm lý được tính toán chính xác. Ai đi qua những dãy hàng chục, thậm chí hàng trăm máy chơi tự động này đều có cảm giác như người chơi luôn gặp may.

    Las Vegas, tiếng Tây Ban Nha nghĩa là bãi chăn nuôi và trước đây thuộc về Mexicô, nhưng xung quanh thành phố không có lấy một mét gỗ, chỉ có sa mạc như thiêu như đốt và Las Vegas cũng không có gì gợi cho ta nghĩ đến khái niệm nghệ thuật và văn hóa cả. Ở đây không có nhà hát, hòa nhạc, hay triển lãm. Trong cái nóng kiệt sức, đến thể thao cũng không chơi nổi, và ngoài công viên Grand. Canyon, không còn chỗ nào để dạo chơi nữa. Thế là chỉ còn có chơi bạc, thua bạc và ăn uống không lấy gì ngon miệng lắm. Khách du lịch có thể đến Ceasars Palace xem buổi biểu diễn, được quảng cáo trên các tấm áp-phích là của nhóm Follies Bergére từ Paris, nhưng tệ hơn tới hai hạng. Dù khách cũng có thể chớp nhoáng cưới vợ hay li dị ở một trong hàng trăm văn phòng, giống như nhà thờ nhỏ sặc sõ hay Sa-lông của một thợ chụp ảnh tỉnh lẻ, Ở đó người ta cho thuê tất cả những gì cần cho lễ cưới, từ quần áo đến người làm chứng đang ngủ gật trên ghế phía sau màn che. Và thế “ưu việt” duy nhất của Las Vegas là thực tế: khác với các thành phố khác, ở đây các trò chơi cờ bạc được chính quyền cho phép.

    Bằng xổ số phi pháp, mafia kiếm tới hàng chục triệu đôla ở New York, Chicago, Filadelfia và các thành phố khác. Sau đó Meyer Lansky và đồng bọn thử xâm nhập vào New Orleans và thu được thành công rực rỡ, nhưng chúng ta đã thất bại khi định thôn tính Florida. Vùng này đã được dành cho những người kính doanh khác và các bố già phải vất vả lắm mới đầu tư được vài triệu đôla. Sau đó, chúng phát hiện ra “mỏ vàng” ở Las Vegas, người có công chính trong vụ này là Benjamin Siegel, biệt hiệu Bugsy.

    Ben Siegel quả là kẻ giết người, găngxtơ, tên lừa đảo nhưng y không điên. Trong cuộc chạy đua vì đồng tiền, y không từ một cái gì, kể cả sự phản bội đồng bọn và y đã phải trả giá đắt cho sự dại dột đó.

    Tôi đã thử tìm hiểu sau bao nhiêu năm, thực chất y là người như thế nào.

    - À, Bugay Siegel?- Người bảo vệ gara ở khách sạn The Mint nói với tôi.- Đã lâu lắm rồi, lúc đó tôi còn chưa làm việc ở đây. Ông biết không, ở Sands tôi làm chân giúp việc cho một sòng bạc và kiếm được khối tiền, nhưng rồi tôi lại thua hết, cũng ở các sòng bạc. Siegel kết bạn với George Raft. Ông có nhớ không? Ngôi sao Hollywood hạng một đấy. Hắn kiếm tới bạc triệu. Hắn thường đóng vai găngxtơ và là chuyên gia, giống như Ronald Reagan về các phim cao bồi. Georye Raft đỡ đầu Sigeld Regan về các phim cao bồi. Georye Raft đỡ đầu Sigel, giúp y xâm nhập vào Hollywood. Ông có nghe nói tay ăn chơi này còn tán được cả một bá tước phu nhân chính cống từ Ý? Hắn ngủ với bà ta và để trả công, mụ giới thiệu hắn với những người mà hắn có thể nhờ vả sau này.

    Theo một giả thiết, Benjamin Siegel, trong những năm sung sức, nhất với bộ mặt điển trai ăn ảnh và cư xử lịch lãm, đến Hollywood không phải để tìm sự thành công trên màn ảnh, mà là sự kiếm tiền dễ dàng. Diễn viên nổi tiếng George Raft (được biết từ phim “Ai đó thích nóng”) là bạn của y và định tìm cho y một vai nào đó. Nhưng với vai găngxtơ, y quá đẹp trai, còn với vai chính khách lịch sự, y lại quá thô lỗ và cái chính là y hoàn toàn không có năng khiếu điện ảnh. Thế là y hòa vào đám người sống bám và thừa cơ đục nước béo cò. Y có tiền, y cần các quan hệ có ích và y kiếm chúng trên các giường nệm, trong các biệt thự lộng lẫy Beverly Hills. Người ta đồn tình nhân của y là diễn viên lừng danh Jean Harlow, mẹ đỡ đầu của một trong các con gái của Siegel.

    - Một lần trong phòng của tôi xuất hiện Joe Adonis, Frank Costello và bốn người nữa - tình nhân của Siegel - Virgine Hill người được các phóng viên gọi là “tình nhân của mafia”, kể lại. - Trông họ cực kỳ nghiêm trang. Tôi mang nước uống tới và bật radio, cho họ nghe tin. Người ta thông báo rằng, trong nhà tù Leavenworth vừa mới tử hình Lepke Buchalter, một trong các sếp của hãng Muder Inc. Hắn chết trên ghế điện. Joe và những người khác thở dài chạm cốc vĩnh biệt. Lepke là bạn thân của họ Joe Adonis liên tục dẫn đàn ông đến và-giới thiệu cho tôi. Một lần y dẫn đến một thanh niên, trông không đến nỗi nào. Anh ta cư xử đứng đắn, ăn mặc bảnh bao và lịch sự. Người đó tên là Benjamin Siegel. Ngày hôm sau Joe hỏi tôi có thích anh ta không. Anh ta cũng như những đàn ông khác, tôi nói với Joe và y nói rằng tính tình chúng tôi giống nhau như hai giọt nước trong cùng một cốc. Thế là tôi làm quen với người tình tương lai Ben Siegel và sau này anh ta bị bắn chết ngay trên đi văng của tôi.

    Benjamin Sigel là một tên găngxtơ tự tin và có tên tuổi. Khác với nhiều tên cướp khác, y sinh ở Mỹ và các chánh án không bao giờ ghép được y vào tội giết người, vì không có bằng chứng, Benjamin Siegel là kẻ giết người ranh ma. Một bữa y đến bệnh viện New York và xin được khám bệnh. Y cảm thấy khó chịu, thần kinh suy nhược, đầy bụng, nói chung là y có bệnh gì đó. Y trả tiền một phòng từ trước hai tuần và hộ lý trải giường cho y. Ngày đầu y cũng sinh hoạt như những bệnh nhân khác, ngoan ngoãn uống thuốc theo chỉ dẫn của bác sĩ. Ngày thứ hai, y nói với hộ lý rằng y cảm thấy rất khó chịu trong người. Cô y tá tốt bụng sửa lại gối, đưa thuốc và ly nước cho y uống, sau đó chúc y ngủ ngon và đảm bảo sáng mai y sẽ thấy dễ chịu hơn.

    Người nữ hộ lý bước khỏi, lập tức Siegel ngồi dậy cuộn gối và khăn để dưới chăn, nhảy lại tủ và nhanh chóng mặc áo quần. Y quan sát hành lang và khi biết chắc chắn rằng không có ai cả, y chạy xuống cầu thang. Phía sau bệnh viện, một xe con: với hai người đàn ông đã chờ sẵn y. Chúng khe khẽ chào nhau và đi đến Brooklyn. Xe dừng trước một nhà cho thuê trên Fort Hamilton Parkway. Chúng chạy lên tầng ba và bấm chuông. Chúng hỏi ông già Tony có nhà không và tự giới thiệu là cảnh sát thường phục. Ông bố trí đi xuống bếp và nói với con là có khách từ đồn đến. Tony đứng dậy và đi ra phòng khách. Tiếng súng vang lên và Francis Anthony Fabrizzio, một trong ba anh em găngxtơ có tiếng, gục chết trên thảm trải nhà.

    Tên giết người Siegel trở lại bệnh viện, không bị ai nhìn thấy và y lặng lẽ thay đồ, lên giường nằm. Nửa đêm, khi hộ lý đi kiểm tra, y ngủ với giấc ngủ của người vô tội. Hai ngày sau, y khỏi bệnh và ra viện với alibi được bác sĩ xác nhận.

    Fabrizzio không gặp may. Gã trở thành con cừu đen của băng cướp. Gã muốn cùng hai anh tách ra làm ăn riêng. Vì chuyện này, hai anh gã đã phải trả giá bằng sinh mạng của mình. Francis Anthony lo sợ, gã biết rằng số phận tương tự đang chờ gã, thế là, tuyệt vọng đến tột độ, gã bắt đầu một việc không bình thường trong nghề găngxtơ. Gã bắt đầu viết hồi ký, hơn nữa gã còn nói về việc làm của mình. Gã biết nhiều về hậu trường của tổ chức tội ác, để có thể làm phương hại những trùm mafia cỡ như Lucky Luciano. Pisano hay Ciro Teranov. Gã có thể làm mất danh dự cả những nhà kinh doanh và chính trị kính mến, vì đồng phạm của gã là Lito Augio Pisano, làm liên lạc giữa thế giới ngầm và các chính trị gia bán mình. Gã từng làm việc với Siegel và hồi ký của gã có thể đưa Siegel ra tòa. Gã dọa rằng sẽ trao hồi ký cho ủy viên công tố, nếu có dấu hiệu nguy hiểm tới tính mạng, bởi trong mọi trường hợp thì luật sư của gã cũng có thể đưa cho cảnh sát tài liệu đó. Hồi ký không thấy xuất hiện. Ai mà biết liệu nó có tồn tại không, hay đó chỉ là sự đe dọa của tên găngxtơ cùng đường.

    Siegel là tên giết người khôn ngoan và tàn nhẫn. Từ năm 1925, y tham dự các vụ trấn lột, y là tay súng tin tưởng nhất của hãng giết người khét tiếng Muer Inc. Trong thời kỳ cấm rượu, y giàu lên nhanh chóng và mong muốn duy nhất của y là trở thành một người lịch lãm trong giới thượng lưu. Khi mafia phái y đến California để khảo sát hiện tượng và trong trường hợp thuận lợi thì thâu tóm luôn mảnh đất hứa hẹn này, y đi thẳng tới Hollywood.

    Theo một giả thiết, y thuê một nhà ở lớn vùng ngoại ô ở Los Angeles với 35 phòng, theo giả thiết khác thì y mua hoặc thuê một biệt thự và chuyển đến đó cùng với vợ, hai con và một va li 25 áo sơ mi lụa. Y không bỏ phí thời gian và ngay từ ngày đầu tiên đã tổ chức buôn ma túy và lại thu được bạc triệu. Bên ngoài, y xuất hiện như một tư thương và một nhà thể thao, y mời những người nổi tiếng đến sân chơi golf riêng và tổ chức hội hè ngoài trời kéo dài tới sáng hôm sau và kết thúc với bữa ăn sáng phô trương. Y quay quanh những người nổi tiếng trong giới điện ảnh và họ lại quay xung quanh y.

    Giống như bất cứ thành viên chính thức nào của giới điện ảnh Hollywood, y cũng “trang bị” cho mình một cuộc tình tai tiếng. Người đàn bà đó là bá tước phu nhân Dorothy đi Fransso. Trước khi lấy chồng, rồi li dị và làm quen với găngxtơ, ả tên là Dorothy Taylor. Dorothy đẹp, có thế làm đủ mọi chuyện và nghe đâu ả yêu Siegel cuồng nhiệt. Á biết cách tạo ra sự nổi tiếng và ở Mỹ đó là chìa khóa để bước vào xã hội thượng lưu.

    Hồi đó ở Hollywood người ta đang dựng phim “Cuộc nổi loạn trên Bounty”. Khi phim quay xong, Ben Siegel, bá tước phu nhân đi Frasso và hơn mười kẻ phiêu lưu khác thuê chiếc thuyền lịch sử Marthy Nelson - được sử dụng trong phim - trong vài tháng. Trên báo chí xuất hiện cuộc nói chuyện với thuyền trưởng Mario Bello, khắng định rằng thủ thủy đoàn, những tay quý tộc Hollywood này sẽ sống bằng đánh bắt cá mập. Mỗi ngày sẽ bắt khoảng 150 cá mập, chế biến thịt và mỡ, rồi gửi tới Đức cho một hãng dược. Không rõ họ có bắt được con cá mập nào không hay đó chỉ là một kiểu quảng cáo chính hiệu Hoa Kỳ.

    Tuy Ben Siege! không trở thành danh tiếng, nhưng y cũng được mọi người biết đến nhờ tham dự cùng với thủy thủ đoàn kỳ quặc “Marthy Nelson”, cuộc tìm kiếm kho báu của cướp biển trên đảo Kokoso. Tất nhiên là họ không tìm thấy vàng bởi vì họ trở về tay không với hai thành viên bị cùm. Mario Bello đã phải nhốt hai người này vì họ nổi loạn và quấy rầy bá tước phu nhân xinh đẹp.

    Tên găngxtơ say sưa trên chín tầng mây. Y kiếm được nhiều tiền và còn giải trí trong hào quang của các minh tinh màn bạc Hollywood. Bá tước phu nhân đi Frasaso còn giúp tình nhân nổi tiếng bằng cách khác. Cặp uyên ương đi du lịch đến châu Âu, sau Pari và London, họ xuất hiện cả ở Roma. Dorothy đi Fransso, có lẽ ngoài cái tên Ý ra, ả chỉ biết có “bo giorno”(66) và “ti amoi”(67). Cùng với tình nhân; tên giết người và găngxtơ Benjamin Siegel, ả được những tên trùm đảng phát xít, thậm chí cả Mussolini và bộ trưởng ngoại giao-Nam tước Giano đón tiếp. Đây là điều trái ngược trong lịch sử đảng phát xít Ý. Độc tài Mussolini, người đã từng tuyên chiến với mafia Sicilie và chiến đấu chống lại thế lực cạnh tranh nguy hiểm bằng mọi phương tiện, nay hội mặt với đại diện mafia Hoa Kỳ. Không rõ cuộc gặp mặt đó có tính chất xã giao hay kinh doanh Duce(68) đang cần tiền và hắn kiếm tiền bằng mọi cách.

    Nhưng sau đó người ta điều tra vụ thanh toán Harry Geenie, các đồng nghiệp vẫn thường gọi Greenberg như thế, là một cộng sự viên trung thành của băng Luciano và Lansky. Y bị đồng bọn nghi là đã tiết lộ các chi tiết về buôn lậu ma tuý cho nhân viên FBI. Lepke Buchalter lúc đó vẫn còn tự do và hắn thề sẽ trả thù Greenberg, Greenberg hoảng sợ, dẹp tiệm và trốn sang Canada. Ở đó y không gặp may làm ăn thất thiệt và rơi vào cảnh túng quẫn. Cực chẳng đã, y phải muối mặt ngửa tay xin đồng bọn giúp đỡ. Bạn hữu cự tuyệt. Greenberg bắn tin dọa dẫm là y sẽ quay về và nói với cảnh sát mọi chuyện y biết, nếu đồng bọn không gửi gấp cho y vài chục nghìn đô la. Những kẻ tống tiền lúc nào cũng nguy hiểm và nếu đó là găngxtơ cùng hội trước kia, thì lại càng nguy hiểm gấp đôi.
  • Chia sẻ trang này