05. - Lười Đọc Sách (done)

20/8/15
05. - Lười Đọc Sách (done)
  • 5. Bạn có thể thấy dàn ý sau khá hữu dụng:

    a. Chỉ ra điều gì đó là sai.

    b. Chỉ ra cách sửa chữa điều đó.

    c. Yêu cầu sự hợp tác.

    6. Hoặc với một cách khác:

    a. Bảo đảm sự chú ý đầy thích thú.

    b. Giành được sự tự tin.

    c. Nêu các dẫn chứng của bạn; nói cho mọi người hiểu sự đúng đắn của ý kiến đề xuất của bạn.

    d. Gián tiếp gợi ý các lý do khiến mọi người hành động.

    7. “Người diễn thuyết phải làm chủ được chủ đề anh ta đang nói”, Thượng nghị sỹ Albert J. Beveridge đã từng nói, “Điều đó có nghĩa là mọi dẫn chứng phải được thu thập, sắp xếp, nghiên cứu, phân loại một cách có hệ thống”.

    8. Trước khi nói, Lincoln nghĩ ra các kết luận của mình với sự chính xác mang tính toán học. Khi đã ở tuổi 40 và đã là thành viên của Quốc hội, ông đã học tập Euclid do đó ông có thể sử dụng cách nói ngụy biện để chứng minh các kết luận của mình.

    9. Khi Theodore Roosevelt đang chuẩn bị bài nói của mình, ông sẽ đào sâu suy nghĩ các dẫn chứng, đánh giá chúng, sau đó đọc to thật nhanh bài nói của mình, sửa những lỗi sai trong bản sao bài nói của mình, và cuối cùng đọc lại một lần nữa đã hoàn chỉnh.

    10. Nếu có thế, hãy thu âm bài nói của mình khi luyện tập và thử lắng nghe xem.

    11. Những ghi chú sẽ làm mất đi một nửa sức hấp dẫn của bài nói của bạn. Hãy tránh điều đó. Hơn thế, hãy nhớ đừng đọc bài nói của mình trước khán giả. Mọi khán giả đều khó có thể chịu đựng được việc phải nghe một người diễn thuyết đọc bài nói của mình.

    12. Sau khi bạn đã suy nghĩ kỹ và sắp xếp xong bài nói của mình, hãy tự tập luyện một cách thật yên lặng như khi bạn đang đi dạo trên phố. Cũng nên tự trốn ra một chỗ nào đó và nói to từ đầu đến cuối bài nói của bạn, làm cả các điệu bộ cử chỉ và tưởng tượng như đang có các khán giả thật ở trước mặt. Bạn càng luyện tập nhiều, bạn sẽ càng cảm thay thoải mái khi bạn phải thực hiện bài nói thật của mình.


    CHƯƠNG IV

    CẢI THIỆN TRÍ NHỚ

    Giáo sư tâm lý học nổi tiếng Carl Seashore đã từng nói: “Một người bình thường thường không sử dụng quá 10% khả năng ghi nhớ bẩm sinh của mình. Anh ta thường lãng phí 90% khả năng ấy bằng cách vi phạm những luật lệ tự nhiên của việc nhớ”.

    Bạn có phải là một trong số những người bình thường đó? Nếu như vậy, bạn đang phải chiến đấu với sự hạn chế cả về mặt xã hội và về mặt thương mại; cuối cùng, bạn sẽ bị thu hút và sẽ đạt được điều gì đó từ việc đọc đi đọc lại chương này. Trong chương này sẽ miêu tả và giải thích những luật lệ tự nhiên của việc nhớ và chỉ ra cách sử dụng những luật lệ đó trong công việc kinh doanh và các đối thoại xã hội cũng như trong việc diễn thuyết trước đám đông.

    Những “luật lệ tự nhiên của việc nhớ" này rất đơn giản. Chi có ba luật lệ. Tất cả những thứ được gọi là “hệ thống ghi nhớ” đều được xây dựng dựa trên ba luật lệ này. Nói một cách ngắn gọn, đó là Sự ấn tượng, Sự tái diễn và Sự liên kết.

    Nhiệm vụ thứ nhất của việc ghi nhớ là : “Có một ấn tượng thật sâu sắc, rõ ràng và lâu dài về điều mà bạn muốn nhớ được, Theodore Roosevelt có một trí nhớ tuyệt vời khiến bất cứ ai từng gặp ông đều cảm thấy rất ấn tượng, và không ít những khả năng của ông có được là nhờ điều này. Ông đã từng rất kiên trì tự tập luyện để tập trung ngay cả trong những điều kiện khó khăn nhất. Năm 1912, khi diễn ra Hội nghị Bull Mouse ở Chicago, ông đang làm việc trong Quốc hội. Một đám đông tập trung ở ngay phía dưới, gào thét, giơ cao các khẩu hiệu, “Chúng tôi muốn Teddy! Chúng tôi muốn Teddy”. Những tiếng hò hét, tiếng nhạc ầm ầm, các chính khách thì đi qua đi lại, hội nghị, hoạt động tham vấn..., tất cả sự ồn ào đó rất dễ khiến người ta mất tập trung; Nhưng Roosevelt vẫn ngồi nguyên trên chiếc ghế bành trong phòng mình, dường như lãng quên tất cả mọi thứ xung quanh và chăm chú đọc về Herodotus, nhà lịch sử học người Hy Lạp. Trong chuyến công du qua vùng rừng rậm của Braxin, ngay buổi tối đặt chân đến nơi cắm trại, ông đã tìm được một chỗ khô ráo dưới vài cây to. Ông rời chiếc ghế trong lều mình và đi đến đó và lôi ra cuốn “Sự thoái trào và sụp đổ của Đế chế Roma” của Gibson để đọc. Ông dường như chìm vào cuốn sách đến nỗi mà ông không hề để ý rằng trời bắt đầu mưa, đến những tiếng động và các hoạt động diễn ra quanh ông, thậm chí cả âm thanh của rừng nhiệt đới nữa. Vì thế có người thắc mắc: làm sao ông ta có thể nhớ được những gì mình đã đọc trong lúc đó?

    Năm phút tập trung cao độ sẽ cho kết quả tốt hơn nhiều so với nhiều ngày dài mơ hồ giữa các ý tưởng. Henry Ward Beecher từng viết: “Một giờ tập trung sẽ hiệu quả hơn nhiều so với nhiều năm mơ mộng”. Eugene Grace, người mỗi năm thu được hơn một triệu đôla từ Công ty thép Bethlehem thì nói “Nếu có bất cứ điều gì mà tôi đã học quan trọng hơn tất cả các điều khác, và là việc tôi thường luyện tập hàng ngày trong mọi tình huống, đó là việc tập trung vào công việc cụ thể mà mình đang làm”.

    Đó là một trong những bí mật của sức mạnh, đặc biệt là sức mạnh ghi nhớ.

    Họ đã không nhìn thấy cây anh đào

    Thomas Edison đã nhận ra rằng, trong suốt khoảng thời gian sáu tháng, hai bảy trợ lý của ông hàng ngày đều đi trên một con đường nhất định từ nhà máy sản xuất đèn của ông đến trụ sở làm việc chính ở Công viên Menlo, New Jersey. Có một cây anh đào được trồng dọc theo ven đường, tuy nhiên không ai trong số hai bảy người này, khi được hỏi, từng để ý đến sự hiện diện của cây anh đào này.

    Rất sôi nổi, Edison đã nói: “Trí não của một người bình thường không thể quan sát được phần thứ một nghìn của những gì mắt có thể nhìn thấy được. Thật không thể tin nổi là khả năng quan sát- quan sát thực sự- của chúng ta lại kém đến như vậy”.

    Hãy thử giới thiệu một người bình thường với hai hoặc ba người bạn của bạn, và chỉ trong vòng hai phút sau anh ta không thể nhắc lại tên của từng người một. Và tại sao? Bởi vì anh ta chưa quan tâm đúng mức đến họ trong lần gặp đầu tiên, chính xác là anh ta chưa hề quan sát họ. Anh ta sẽ xin lỗi và nói với bạn rằng trí nhớ của anh ta rất tồi. Không phải vậy, chỉ là anh ta không quan sát tốt mà thôi. Anh ta không thể đổ lỗi cho cái máy ảnh đã không thể chụp ảnh trong sương mù, nhưng anh ta hy vọng đầu óc mình có thể nhớ được các ấn tượng ở mức rất mờ ảo, mơ hồ. Tất nhiên điều đó là không thể.

    Joseph Pulitzer, người sáng lập ra tờ New York World đã đặt ba chữ sau trên bàn làm việc của tất cả mọi người làm việc trong tòa soạn của ông

    SỰ CHÍNH XÁC

    SỰ CHÍNH XÁC

    SỰ CHÍNH XÁC

    Đó cũng là những gì chúng ta muốn. Hãy nghe thật cẩn thận tên người được giới thiệu. Nhấn mạnh cái tên đó. Yêu cầu anh ta nhắc lại tên. Hỏi thêm cách đánh vần tên người đó. Cái tên đó sẽ được ghi nhớ do bạn thích điều đó, và bạn sẽ có thể sẽ nhớ tên anh ta vì bạn đã tập trung vào nó. Bạn đã có một ấn tượng chính xác và rõ ràng.

    Tại sao Lincoln lại đọc to lên

    Khi còn trẻ, Lincoln học ở một trường nông thôn, ở đó sàn nhà được tạo nên từ những khúc gỗ xẻ: Những mảnh giấy được xẻ ra từ các cuốn sách và được dán lên của sổ thay cho cửa kính. Chỉ có một quyển sách và giáo viên phải đọc to lên cho tất cả học sinh cùng nghe. Tất cả học sinh thì đồng thanh nhắc lại những gì thầy đọc ngay lập tức, và liên tục tạo ra sự ồn ào. Chính vì thế những người sống xung quanh gọi đây là “trường học ba hoa”.

    Thời gian ở “trường học ba hoa” này, Lincoln đã tập được thói quen mà sau này vẫn còn cho đến hết cuộc đời: ông luôn đọc to mọi thứ mà ông muốn nhớ. Mỗi buổi sáng, ngay khi đến văn phòng luật của mình ở Springfield, ông nằm dài ra ghế, chân gác lên một chiếc ghế khác và bắt đầu đọc báo rất to. Đồng nghiệp của ông phàn nàn: “Anh ta gây phiền toái cho chúng tôi quá mức chịu đựng. Tôi đã từng hỏi anh ấy lý do khiến anh ấy đọc to như vậy. Và anh ấy trả lời như sau: Khi đọc to lên tôi sẽ thực hiện được hai việc: thứ nhất, tôi nhìn thấy những gì tôi đọc; thứ hai, khi đọc to lớn, tôi nghe thấy và tôi sẽ có thể nhớ tốt hơn”.

    Trí nhớ của Lincoln phải nói là cực kỳ tốt. Ông đã từng nói: “Đầu óc tôi như thép vậy, rất khó khắc gì lên đó, nhưng một khi đã khắc rồi thì không thể tẩy nó đi”.

    Việc đọc to lên của ông chính là để giúp ông khắc lên đầu óc mình. Bạn hãy thử làm tương tự như thế.

    Điều lý tưởng không phải chỉ là nhìn thấy và nghe thấy điều cần nhớ, mà phải chạm được vào nó, ngửi thấy nó và nếm thử nó.

    Nhưng quan trọng hơn tất cả, hãy nhìn nó, chúng ta sẽ ghi nhớ bằng hình ảnh. Ấn tượng bằng hình ảnh thường rõ hơn. Chúng ta thường có thể nhớ gương mặt của một người, nhưng lại không thể nhớ được tên anh ta. Số dây thần kinh dẫn từ mắt đến não nhiều hơn gấp hai nhăm lần so với số dây thần kinh dẫn từ tai đến não. Người Trung Quốc có câu thành ngữ: “Trăm nghe không bằng một thấy”.

    Hãy viết các cái tên, số điện thoại và dàn ý bài diễn văn mà bạn muốn nhớ. Nhìn vào chúng, sau đó nhắm mắt lại. Hãy thử hình dung ra tất cả những thứ trên trong một lá thư đang cháy.

    Mark Twain đã học thế nào để nói không cần các ghi chép gợi ý

    Việc khám phá ra cách sử dụng việc ghi nhớ bằng hình ảnh đã khiến Mark Twain quyết định bỏ các ghi chép đã chuẩn bị nhiều năm qua cho bài nói của ông. Đây là câu chuvện do chính ông kể lại trên tờ Harper’s Magazine:

    Ngày tháng thường khó nhớ vì chúng chỉ gồm toàn những con số, mà các con số thì không có vẻ gì đặc biệt ở bên ngoài, do đó rất khó ghi nhớ; chúng không khiến ta hình dung ra điều gì vì thế mắt chúng ta không có cơ hội lưu giữ lại hình ảnh của nó. Hình ảnh có thể khiển ngày tháng dễ nhớ hơn. Và hình ảnh có thể khiến hầu hết mọi thứ trở nên dễ nhớ hơn- đặc biệt là khi hình ảnh đó do bạn tự tạo nên. Tôi biết được điều đó là từ kinh nghiệm. Ba mươi năm trước, tối nào tôi cũng có bài giảng, do đó tôi thường mang theo những mẩu giấy có ghi chú để tôi không bị lẫn lộn khi nói. Trong các ghi chú thường ghi những từ mở đầu của các câu tôi sẽ nói, và thường là gồm mười một câu, đại loại như sau:

    Trong vùng đó, thời tiết...

    Vào thời đó, đó là một phong tục...

    Nhưng ở California người ta chưa bao giờ nghe thấy...

    Mười một cụm từ bắt đầu mỗi câu. Mục đích ban đầu của những ghi chú này là giúp tóm tắt nội dung bài giảng và giúp tôi không bị nói cách đoạn. Nhưng trên giấy, chúng trông như nhau. Không có hình ảnh nào. Tôi đã nghĩ ra những điều đó từ trong tim của mình nhưng tôi không thể nhớ chính xác thứ tự sắp xếp các câu, vì vậy tôi luôn cần những mẩu giấy có những ghi chép đó để đôi lúc có thể xem qua. Một lần tôi để đã nó lung tung ở đâu đó, và bạn không thể tưởng tượng nổi tối hôm đó đã khủng khiếp như thế nào đâu. Và tôi nhận thấy là tôi cần áp dụng các biện pháp bảo vệ mình khác. Vì vậy tôi ghi nhớ mười chữ cái đầu theo một thứ tự thích hợp- I, A, B,... Ngay tối hôm sau, tôi đến nơi nói chuyện với các chữ cái này trên móng tay. Nhưng biện pháp này cũng không hiệu quả. Lúc đầu tôi dõi theo các ngón tay của mình, nhưng sau đó thì không thể vì tôi không thể nhớ chính xác tôi đã bất đầu từ chữ trên ngón tay nào. Sử dụng phương pháp đó tôi không thể thốt ra nổi một từ; tuy nhiên trong một chừng mực nào đó, nó đã giúp tôi thu hút được sự chú ý, nó khiến rất nhiều người tò mò. Mà thật ra không có nó mọi người đã tò mò đủ rồi. Đổi với các khán giả, dường như tôi thích thú những móng tay của mình hơn là chủ đề mà tôi đang trình bày; một hai người sau đó đã hỏi tôi rằng hai bàn tay tôi có vấn đề gì không?

    Sau đó ý tưởng về những hình ảnh đã nảy ra trong đầu tôi. Và những rắc rối của tôi cũng biến mất luôn. Trong vòng hai phút, với cây bút của mình, tôi tạo ra được sáu bức tranh nó nhiệm vụ thay thế những chữ cái bắt đầu các câu. Và mọi việc đã diễn ra rất hoàn hảo. Ngay khi vẽ xong các bức tranh, tôi vứt ngay chúng đi, và tôi biết chắc chắn ràng tôi có thể nhắm mắt lại và hình dung ra các bức tranh đó ở bất cứ chỗ nào. Đã một phần tư thế kỷ trôi qua, những bài giảng từ hơn hai mươi năm trước đã biến mất trong tâm trí tôi, nhưng tôi vẫn có thể viết lại chúng từ những bức tranh- để nó tồn tại mãi.

    Tôi đã có dịp nói chuyện về trí nhớ. Tôi muốn sử dụng phần lớn các nguyên liệu trong chương này. Tôi ghi nhớ các vấn đề bằng các bức tranh. Tôi hình dung ra Roosevelt đang đọc sách trong khi ngoài cửa sổ có rất đông người và rất ồn ào. Tôi nhìn thấy Thomas Edison đang nhìn cây anh đào bên đường. Tôi vẽ ra hình ảnh Lincoln đang đọc to tờ báo của mình. Tôi tưởng tượng ra Mark Twain đang chăm chú nhìn các ngón tay của mình khi đứng trước khán giả.

    Làm sao tôi có thể nhớ thứ tự của những bức tranh? Bằng cách gì nhớ một, hai, ba, bốn? Không, như thế sẽ rất khó. Tôi đưa những con số này vào các bức tranh, và liên hệ các bức tranh với các bức tranh về các con số với các bức tranh có các ý kiến. Tôi đã làm như sau. Số một (one) đọc giống như từ chạy (run), vì thế tôi nghĩ một cuộc đua ngựa tượng trưng cho số một. Tôi vẽ Roosevelt đang ngồi trong phòng, ngồi đọc trên một con ngựa đua. Để tượng trưng cho số hai, tôi lựa chọn từ vườn thú (zoo) do nó đọc gần giống số hai (two). Và tôi vẽ Edison đang nhìn cái cây anh đào mọc trong chuồng gấu ở sở thú. Để tượng trưng cho số ba (three), tôi chọn hình ảnh cái cây (tree). Tôi vẽ ra hình ảnh Lincoln ngồi vắt vẻo trên một cái cây và đọc to bài nói của mình cho các đồng nghiệp nghe thấy. Số bốn (four) thì tôi chọn hình ảnh cái cửa (door). Vả tôi vẽ Mark Twain đứng giữa một cánh cửa đang mở, dựa vào khung cửa và mân mê các ngón tay khi đang đứng trước khán giả.

    Tôi nhận thấy rất rõ rằng rất nhiều người đọc đoạn trên sẽ nghĩ phương pháp đó hơi lố bịch. Đúng là như thế. Nhưng đó chính là lý do khiến nó có hiệu quả. Nó tương đối dễ nhớ do chính sự buồn cười và kỳ lạ của nó. Nếu tôi chỉ cố ghi nhớ thứ tự các quan điểm căn cứ vào các con số mà thôi, tôi sẽ dễ dàng quên ngay; nhưng nếu sử dụng cách mà tôi vừa miêu tả ở trên, việc quên sẽ là không thể. Khi tôi muốn nhớ lại ý thứ ba của bài nói, tôi chỉ phải tự nhắc bản thân rằng cái gì đang diễn ra trên cây. Ngay lập tức, tôi nhìn ra Lincoln.

    Trước đây, tôi đã từng chuyển các số từ một đến hai mươi thành các bức tranh, chủ yếu là do sự tiện lợi cho bản thân tôi. Tôi đã chọn những hình ảnh đọc nghe giống các số. Tôi sẽ viết những hình ảnh đó ở dưới đây. Chỉ cần dành khoảng nửa giờ đồng hồ là bạn có thể nhớ được những con số-hình ảnh này sau khi đọc xong danh sách đó, tuy nhiên ngay lập tức hãy nhắc lại chúng theo đúng trật tự, rồi lại ôn lại với những con số cách quãng, ví dụ như số tám là hình ảnh gì, rồi số mười một, số mười ba...

    Dưới đây là các con số - hình ảnh. Hãy thử xem và bạn sẽ thấy nó thật sự rất thú vị.

    Số một (one) - Chạy (run) - Cuộc đua ngựa

    Số hai (two) - Sở thú (zoo) - Chuồng gấu trong sở thú

    Số ba (three) - Cái cây (tree) - Một vật gì đó ở trên ngọn cây

    Số bốn (four) - Cánh cửa (door) hoặc con lợn rừng (boar)

    Số năm (five) - Tổ ong (hive)

    Số sáu (six) - ốm (sick) - Y tá

    Số bảy (seven) - Thiên đường (heaven) - Con phố được lát bằng vàng và các thiên thần bay lượn trên những đôi cánh.

    Số tám (eight) - Cánh cổng (gate)

    Số chín (nine) - Rượu (wine) - Một chai rượu đang đổ năm trên bàn, rượu từ trong chai đang chảy ra và nhỏ xuống vật gì đó. Hãy đưa thêm hành động vào bức tranh, nó sẽ giúp dễ nhớ hơn.

    Số mười (ten) - Hang (den) của các con thú hoang dã ở trong rừng sâu

    Số mười một (eleven) - Một trận đá bóng (có mười một cầu thủ), trong đó mười một cầu thủ đang chạy trên sân cỏ.

    Số mười hai (twelve) - các giá sách (shelve) - nhìn thấy ai đó đang đẩy phía sau giá sách.

    Số mười ba (thirty) - Bị thương (hurting) - nhìn thấy máu chảy ra từ vết thương và sự đỏ mặt của vật đại diện cho ý kiến thứ mười ba.

    Số mười bốn (fourteen) - sự ve vãn tán tỉnh (courting) - một đôi yêu nhau đang ngồi trên ghế và âu yếm nhau.

    Số mười lăm (fifteen) - Nâng (lifting) - Một lực sỹ, ví dụ như John L. Sullivan đang nâng một vật gì đó cao quá đầu

    Số mười sáu (sixteen) - Sự đánh bại (licking) - Cuộc chiến đấu đầu tiên

    Số mười bảy (seventeen) - Việc cho thêm bột vào bánh (licking) - một bà nội trợ đang nhào bột và cho vật đại diện cho ý kiến thứ mười bảy vào trong đống bột đang nhào

    Số mười tám (eighteen) - Chờ đợi (waiting) - một người phụ nữ đang đứng giữa ngã ba đường trong rừng sâu đợi một ai đó xuất hiện

    Sổ mười chín (ninteen) - Bất hạnh (pining) - Một người phụ nữ đang khóc. Bạn nhìn thấy nước mắt của cô ấy đang nhỏ lên vật đại diện cho ý kiến thứ mười chín mà bạn định nhớ.

    Số hai mươi (twenty) - Sừng trâu chứa nhiều thứ ở bên trong (Horn of Plenty) - chiếc sừng chứa toàn hoa quả và ngô.

    Nếu bạn muốn làm thử cách này, hãy dành ra vài phút để ghi nhớ những con số- hình ảnh trên. Nếu muốn, bạn có thể nghĩ ra những con số- hình ảnh của riêng mình. Ví dụ, để hình dung ra số mười (ten), hãy thử tượng tượng ra những thứ như chú chim khổng tước (wren), hay chiếc bút máy (pen), con gà mái (hen) hay sự bất tỉnh (sen-sen)- bất cứ thứ gì nghe giống từ số mười. Giả sử ý số mười của bạn có liên quan đến hình ảnh cối xay gió. Hãy vẽ ra hình ảnh một cô gà mái đang đứng trên chiếc cối xay gió, hoặc nghĩ ra hình ảnh chiếc bút máy đang được bơm mực. Sau đó, khi được hỏi vật thứ mười gợi nhớ cho bạn điều gì, bạn hãy đừng nhớ đến hình ảnh số mười làm gì mà thử cố nhớ cô gà mái đang đứng trên cái gì. Bạn có thể cho rằng nó sẽ không đem lại kết quả, nhưng hãy thử xem. Bạn có thể gây bất ngờ cho những người khác vì cái mà họ gọi là khả năng ghi nhớ phi thường. Nếu không, ít ra bạn cũng cảm thấy thư giãn đôi chút.

    Cách ghi nhớ một cuốn sách dài như cuốn kinh Tân Ước

    Một trong những trường đại học lớn nhất thế giới là Al-Azhar ở Cairo. Đó là trường học Hồi giáo có khoảng hai mươi mốt nghìn sinh viên. Kỳ thi tuyển vào trường yêu cầu các thí sinh phải đọc thuộc lòng Kinh Côran. Mà Kinh Côran thì dài tương đương với Kinh Tân Ước, và phải mất ba ngày mới học thuộc lòng được cuốn Kinh đó.

    Các sinh viên Trung Quốc, thường được gọi là những sinh viên chăm học, thì phải nhớ một vài cuốn sách kinh điển và mang tính tôn giáo của đất nước họ.

    Vậy những sinh viên Ả-rập và Trung Quốc đã làm thế nào để có thể ghi nhớ một khối lượng lớn kiến thức như vậy?

    Bằng cách tái diễn lại, quy luật tự nhiên thứ hai của việc nhớ.

    Bạn có thể nhớ gần như là hoàn toàn một lượng các kiến thức mà bạn đã đọc nếu bạn nhắc đi nhắc lại những điều đó một cách thường xuyên. Hãy đọc hết các kiến thức bạn muốn nhớ. Sử dụng nó. Thử áp dụng nó. Dùng một vài từ ngữ trong đó trong những cuộc đối thoại của bạn. Hãy gọi người lạ bằng tên của họ nếu bạn muốn ghi nhớ. Trong các cuộc đối thoại của bạn hãy nhắc đến những vấn đề mà bạn muốn thể hiện trong bài nói của mình trước đám dông. Những kiến thức thường xuyên được sử dụng sẽ được nhớ rất lâu.

    Những loại tái diễn có ích

    Nhưng việc đọc hết một cuốn sách một cách mù quáng và máy móc bằng việc học vẹt là không đủ. Một sự tái diễn thông minh là sự tái diễn với các đặc điểm được sắp xếp hoàn hảo trong đầu óc - đây chính là những gì chúng ta phải làm được. Ví dụ, Giáo sư Ebbinghaus đã đưa cho các sinh viên của mình một danh sách dài các âm tiết vô nghĩa cần ghi nhớ, ví dụ như "deyux", "qoli"... Ông

    nhận thấy rằng các sinh viên ghi nhớ được nhiều các âm tiết này đã nhắc đi nhắc lại những ba mươi tám lần trong vòng ba ngày, tức là họ đã thực hiện được sáu mươi tám lần nhắc lại trong mỗi lần... Các thử nghiệm tâm lý khác cũng cho những kết quả tương tự.

    Đây là một khám phá quan trọng về sự hoạt động của trí nhớ chúng ta. Nó có nghĩa là bây giờ chúng ta có thể biết những người thường ngồi và nhắc đi nhắc lại điều gì đó cho đến khi nhớ được điều đó đã tiêu tốn gấp đôi thời gian và công sức cần thiết để đạt được kết quả giống như vậy so với những người có những khoảng dừng khôn ngoan giữa những lần nhắc đi nhắc lại.

    Nét đặc biệt này của đầu óc- chúng ta cứ tạm gọi như vậy- có thể được giải thích bởi hai yếu tố sau:

    Thứ nhất, trong khoảng nghỉ giữa những lần nhắc đi nhắc lại, tiềm thức của chúng ta đang bận với việc tạo ra sự liên tưởng an toàn hơn. Như Giáo sư James đã từng nói: "Chúng ta học bơi vào mùa đông và tập trượt tuyết vào mùa hè".

    Thứ hai, đầu óc của chúng ta, quay trở lại nhiệm vụ vào những lúc nghỉ, không bị mệt mỏi bởi sự căng thăng do việc chuyên tâm liên tục gây ra. Ngài Richard Burton, người đã dịch cuốn "Đêm Ả Rập" có thể nói hai mươi bảy ngôn ngừ khác nhau như người bản xứ, nhưng chính ông cũng phải thừa nhận rằng ông không bao giờ học hay luyện tập một ngôn ngữ quá mười lăm phút một lúc bởi theo ông, lúc đó não của chúng ta không còn sự khoẻ khoắn và sảng khoái nữa".

    Bây giờ thì chắc chắn là, mặc dù có những dẫn chứng trên, nhưng không người nào vốn thường tự hào về cảm giác của mình có thể để đến sát ngày phải trình bày mới chuẩn bị bài nói của mình. Nếu anh ta làm như vậy, trí nhớ của anh ta sẽ, hoặc có thể sẽ chỉ hoạt động với một nửa tính hiệu quả có thể của nó.

    Dưới đây là một khám phá vô cùng bổ ích về cách quên. Các cuộc thí nghiệm tâm lý đã luôn cho thấy rằng những gì chúng ta mới học được sẽ là những thứ chúng ta quên nhanh hơn cả, chỉ trong khoảng tám ngày chứ không phải trong vòng một tháng. Một tỷ lệ thật kinh ngạc. Vì vậy ngay trước khi bạn đến một hội nghị kinh doanh hay một cuộc họp, hoặc một câu lạc bộ, ngay trước khi bạn trình bày một bài diễn văn, hãy nhìn hết các số liệu của bạn, nghĩ về các dẫn chứng và làm tươi mới lại trí nhớ của bạn.

    Lincoln đã biết giá trị của việc luyện tập này nên đã áp dụng. Học giả Edward Everett nói trước ông theo chương trình phát biểu tại Gettysburg. Khi nhận thấy Everett gần kết thúc bài nói dài và trang trọng của mình, Lincoln "trông hồi hộp thấy rõ, vì có một người khác đang nói và ông sẽ nói sau người đó". Vội vàng điều chỉnh thái độ của mình ông lấy bản sao từ trong túi ra và lặng lẽ đọc để tự làm mới lại trí nhớ của mình.

    Giáo sư William James giải thích bí mật của một trí nhớ tốt.

    Ở trên đã nói nhiều về hai quy luật đầu tiên của việc nhớ. Bây giờ chúng ta sẽ nói đến quy luật thứ ba, liên tưởng. Tuy nhiên liên tưởng là yếu tố không thể thiếu được trong việc gợi nhớ lại. Trên thực tế, đó là lời giải thích của bản thân trí nhớ. Giáo sư James nhận thấy: "Đầu óc của chúng ta về cơ bản là một bộ máy liên tưởng... Giả sử tôi im lặng trong vài phút, sau đó nói bằng giọng ra lệnh: "Hãy nhớ! Hãy hồi tưởng lại!". Liệu trí não của tôi có tuân theo mệnh lệnh đó và tái chế lại bất cứ hình ảnh rõ ràng nào trong quá khứ? Tất nhiên là không. Chúng sẽ đứng ở khoảng trống và hỏi: "Bạn muốn tôi nhớ điều gì?". Nói ngắn gọn, là trí não chúng ta cần một sự gợi ý. Nhưng nếu tôi nói hãy nhớ ngày sinh của mình, hãy nhớ bạn đã ăn sáng với những món gì, hay nhớ các nốt trong gam nhạc; và sau đó đầu óc bạn sẽ ngay lập tức đưa ra câu trả lời. Sự gợi ý xác định các khả năng để trả lời cho một vấn đề cụ thể. Và nếu bạn muốn biết điều đó diễn ra như thế nào, bạn sẽ nhận ra ngay rằng sự gợi ý là cái gì đó có liên quan đến điều cần nhớ. Những từ ngữ như "ngày sinh nhật" có mối liên hệ sâu xa với những con số cụ thể về ngày, tháng, năm; từ "bữa sáng nay" sẽ loại bỏ các mối liên hệ khác cần gợi nhớ trừ những thứ liên quan đến cà phê, thịt nướng và trứng; từ "gam nhạc" có quan hệ chặt chẽ với các nốt nhạc đô, rê, mi, pha, son. Trong thực tế, các quy luật về sự liên tưởng điều khiển mọi dòng suy nghĩ của chúng ta, không bị cắt ngang bởi cảm xúc do những tác động từ bên ngoài. Mọi điều xuất hiện trong đầu óc chúng ta đều phải được giới thiệu, và khi đã giới thiệu xong, nó sẽ là tập hợp của những điều đã hiện diện sẵn ở đó. Đó là sự thật về những gì bạn đang hồi tưởng cũng như bất cứ thứ gì bạn nghĩ tới... Một trí nhớ rèn luyện phụ thuộc vào hệ thống được tổ chức của các liên tưởng; chất lượng của nó lại phụ thuộc vào hai đặc điểm của nó: thứ nhất, là vào sự bền bỉ của các liên tưởng; và thứ hai là vào số lượng... Do đó, "bí mật của một trí nhớ tốt" là bí mật của việc hình thành nên các liên tưởng đa dạng và phong phú với một sự kiện mà chúng ta muốn nhớ. Nhưng thế nào là sự liên tưởng với thực tế ngoài việc nghĩ thật nhiều về sự kiện đó? Nói một cách ngắn gọn, đó là sự kết hợp giữa hai người có kinh nghiệm bên ngoài như nhau, trong đó có một người nghĩ nhiều về các kinh nghiệm của mình hơn kết hợp một cách có hệ thống nhất với người kia, và họ sẽ trở thành một người có trí nhớ tốt nhất.

    Cách liên kết các dẫn chứng của bạn lại với nhau

    Làm sao chúng ta có thể kết các sự kiện của chúng ta một cách hệ thống lại với nhau? Câu trả lời là: bằng cách tìm ra nghĩ của chúng, bằng cách nghĩ kỹ về chúng. Ví dụ, nếu bạn sẽ hỏi và trả lời những câu hỏi sau đối với tất cả các sự kiện mới, điều đó sẽ giúp bạn đan kết các sự kiện lại với nhau một cách có hệ thống. Những câu hỏi đó là:

    1. Tại sao sự kiện đó lại như vậy?

    2. Nó diễn ra như thế nào?

    3. Nó diễn ra khi nào?

    4. Nó diễn ra ở đâu?

    5. Người nào đã nói sự kiện đó?

    Vỉ dụ, nếu đó là tên của một người lạ, và là một cái tên thông dụng, chúng ta có thể liên hệ nó với những người bạn của mình có cái tên như thế. Mặt khác, nếu cái tên đó hơi lạ, chúng ta nên tận dụng cơ hội để hỏi về điều đó. Và người lạ đó có thể sẽ kể cho chúng ta nghe về cái tên của anh ta. Ví dụ, khi đang viết chương này, tôi được giới thiệu làm quen với bà Soter. Tôi liền đề nghị bà đánh vần tên bà và giải thích về cái tên lạ đó. "Vâng", bà Soter trả lời, "tên của tôi không thông dụng lắm. Đó là từ một từ Hy Lạp mang nghĩa là "Chúa Giê su". Sau đó bà kể cho tôi nghe về đồng bào của người chồng bà, người đến từ Hy Lạp và những vị trí cao mà họ nắm giữ trong quốc hội hiện nay. Tôi đã nhận thấy rằng khá dễ để khiến mọi người nói về tên của mình, và điều này luôn giúp tôi nhớ tên họ lâu.

    Hãy quan sát kỹ vẻ bề ngoài của người lạ đó. Chú ý đến màu tóc và màu mắt của người đó và nên nhìn kỹ đặc điểm nổi bật của người đó. Chú ý cách ăn mặc của người đó. Lắng nghe cách nói chuyện của người đó. Hãy cố gắng có một ấn tượng thật rõ nét và sống động về bề ngoài và tính cách của người đó và liên tưởng tất cả những điều đó với tên của anh ta. Lần sau có dịp, những ấn tượng mạnh mẽ này sẽ trở lại với bạn và sẽ giúp bạn nhớ được tên người lạ đó.

    Liệu bạn đã bao giờ đến lần thứ hai, thậm chí lần thứ ba, bạn vẫn không thể nhớ tên anh ta là gì cho dù bạn biết nghề nghiệp của anh ta là gì? Lý do là: nghề nghiệp của một người thường cụ thể và xác định. Nó có mang ý nghĩa. Nó dính chặt như thạch cao, trong khi cái tên không mang ý nghĩa thường như cơn mưa đá đổ xuống mái nhà dốc vậy. Kết quả là, để chắc chắn khả năng nhớ một tên một người của bạn, hãy tạo ra một cách diễn đạt về nó sao cho liên quan đến công việc của anh ta. Ví dụ có hai mươi người chưa quen nhau đã gặp nhau tại Câu lạc bộ Penn Athletic. Từng người được yêu cầu đứng lên, giới thiệu tên và nghề nghiệp của mình. Một cụm từ sẽ được dùng để liên kết hai điều đó với nhau, và chỉ trong vòng vài phút, từng người có thể nhắc lại tên của tất cả những người trong phòng. Nhiều cuộc gặp sau đó, không cái tên hay nghề nghiệp nào bị quên do chúng đã được liên hệ với nhau. Chúng đã bám dính vào nhau.

    Dưới đây là một số tên riêng, theo thứ tự bảng chữ cái, của một số người trong nhóm người này và đi kèm các cụm từ được dùng để liên kết các cái tên với các nghề:

    Ông G. P. Albrecht (kinh doanh cát)- "Cát làm mọi thứ sáng lên (Sands makes all bright)

    Ông G. W. Bayless (kinh doanh nhựa đường)- "Dùng nhựa đường với giá rẻ hơn" (Use asphalt and pay less)

    Ông H. M. Biddle (Vài len)- Ông Biddle nói những chuyện linh tinh về ngành dệt len.

    Ông Gideon Boerick (Mỏ)- “Boerick khoan thấy mỏ rất nhanh”

    Ông Thomas Devery (In)- Mọi người đều cần các cuốn sách do Devery in

    Ông O. W. Doolittle (Xe hơi)- Làm việc ít và bạn sẽ không thể thành công trong việc bán ô tô

    Ông Thomas Fischer (Than)- Ông ấy “đánh bắt các loại than”.

    Ông Frank H. Goldey (Gỗ)- Ngành công nghiệp gỗ làm ra vàng

    Ông J. H. Hancock (Tờ Tối Thứ bảy)- Hãy đăng ký với John Hancock để có một tờ Tối thứ Bảy.
    :rose::rose::rose: