16.vancuong7975(xong)WIKI

24/11/15
16.vancuong7975(xong)WIKI
  • Link docx

    Link pdf

    - Chúng tôi biết việc gì đã xảy ra, - sau này Doe Stacher tuyên bố với các ký giả ở Tel Aviv, nơi y sống.-Một phần tiền của chúng tôi nằm trong túi Bugsy. Virginie muốn làm gì anh ta thì làm, và chúng tôi thừa biết mụ hám tiền đến mức nào. Anh ta yêu mụ đến nỗi sẵn sàng làm bất cứ việc gì mụ yêu cầu. Luật của thế giới ngầm là luật giang hồ. Trong trường hợp này chỉ có khả năng duy nhất: tử hình Bugsy. Tất nhiên là Meyer Lansky biết điều đó, nhưng anh ta tìm mọi cách cứu bạn cũ, Lansky yêu cầu chúng tôi kiên nhẫn chờ đến lúc khánh thành khách sạn, để xem tình hình ra sao trước khi kết án Bugsy.

    Găngxtơ có mức sống cao, quan hệ với những nhân vật vai vế và cách sống của chúng cũng thay đổi. Nếu ai đó là thành viên của “high society”(75) thì không thể bị xử như con chó ghẻ lở được.

    - Meyer Lansky đề nghị mọi người đừng quá nghiêm khắc, - Doc Stacher, có mặt lúc đó, nói. - Lần đầu tiên tôi thấy giọng nói của Lansky run run vì cảm động. Meyer Lansky không thể ỉm việc Bugsy chơi xấu, lợi dụng lòng tin của chúng tôi, song anh cũng nhắc lại công lao trong quá khứ của hắn. Mọi người nghe, nhưng không nói một lời. Lansky biết là Bugsy đã bị Meyer Lansky cho nên mọi người còn gia hạn để anh thử giải quyết chuyện này. Meyer nhanh chóng rời hội nghị và bay đến California. Khi trở về, anh nói với tôi rằng không thể cảnh tỉnh nổi Bugsy nữa rồi. Hắn mê muội con đàn bà kia tới mức mụ mẫm, không chịu nghe bất cứ lời khuyên can nào.

    Meyer Lansky có lý khi nói đến “công lao” của Benjamin Siegel để cố gắng cứu vãn tình thế của hắn. Khi vừa mới chân ướt chân ráo đến California theo sự phân công của mafia, Siegel quan sát và lập tức bắt tay làm việc. Ban đầu y cũng chưa nghĩ ra gì mới cả. Y sống bằng tống tiền và nhanh chóng kiếm được nhiều tiền. Y đến gặp diễn viên vừa mới ký hợp đồng với chủ phim, thuyết phục anh ta tin rằng đã bị hố và tiền công là quá thấp, và khuyên anh ta phải làm gì. Đến khi các công việc chuẩn bị đã xong, đạo diễn có thể bắt đầu quay phim, chủ phim đã đầu tư một số tiền đáng kể, thì diễn viên nọ từ chối không ra không ra trước ống kính, viện cớ bị ốm chẳng hạn. Sau đó người của Siegel diễn viên đóng phim với điều kiện chủ phim phải trả thêm cho anh ta 50 ngàn đô la.

    Siegel đưa cho diễn viên 10 ngàn, phần còn lại 40 ngàn hắn bỏ túi, và cả hai đều thoả mãn. Phương pháp tống tiền hiệu quả này được lặp lại nhiều lần không cần che giấu gì cả. Ở Hollywood người ta tiêu tiền như nước, phim mang lại những món lời kếch xù 50 nghìn đôla, nhiều hơn hay ít đi không nghĩa lý gì cả. Những cô gái ngây thơ, trở thành ngôi sao điện ảnh sau một đêm, có khi còn không kịp đếm xem mình thu được bao nhiêu tiền. Và Ben Siegel có thể sống bám vào môi trường như vậy một cách dễ dàng.

    Cuối cùng y trở thành thủ lĩnh công đoàn điện ảnh, có thế lực. Và với thế lực đó, y có khả năng thu những khoản lời tiếp theo. Y có những tên giết người riêng, đảm bảo an toàn cho mình. Khi đã đứng vững chân và nhìn ra những khả năng kinh doanh mới, y gửi báo cáo về New York và lãnh đạo hiệp hội tội ác lập tức chi viện cho y. Một trong các phụ tá của y là Mickey Cohen, một găngxtơ ở Brooklyn hèn nhát, nhưng rất thông minh. Gã có quan hệ tốt với giới chính khách và biết phải nhờ vả ai ở California. Mới tới Hollywood, gã lập tức giới thiệu Benjamin Siegel với Arthur H.Samisit ông vua thật sự ở California, từ trong tẩm cung điều khiển mọi hoạt động bên ngoài. Đây là sự xuất quân rầm rộ của găngxtơ lên sân khấu và sự quen biết với người thế lực nhất California đã giúp ích cho Siegel rất nhiều.

    Phụ tá thứ hai của Siegel là Jack. L.Dragna, chuyên gia về các trò chơi cờ bạc. Gã trưởng thành trong xã hội mafia biết mọi mánh khóe. Ở California mọi thứ cờ bạc bị nghiêm cấm, nhưng Jack Dragua không chịu bó tay. Gã mua một tàu thủy củ, thả neo cách đất liền hơn ba dặm hải lý, ở đó pháp luật Hoa Kỳ không còn giá trị nữa. Phía dưới boong tàu được gã biến thành sòng bạc và trong các cabin, những cô gái loại một, đủ các dân tộc sẵn sàng mua vui cho khách làng chơi.

    Một trong những nguồn thu nhập chính của mafia là cá ngựa. Các chủ thầu không bao giờ chơi đẹp cả, cho nên họ có một hệ thống điện thoại và điện báo chính xác và, với trình độ kỹ thuật lúc bấy giờ, rất hiện đại Ben Siegel mở rộng hệ thống này ra cả vùng California.

    Đây là một kỹ xảo hiệu quả với nguyên tắc đơn giản: ai là người đầu tiên nhận được tin tức về kết quả đua ngựa, thì người đó có khả năng thao túng trò chơi. Chủ thầu có thể giở trò lừa đảo với tíc-kê cá ngựa: Mafia thỏa thuận với chủ nhân các hãng điện báo và điện thoại, hối lộ nhân viên, hay trả thẳng lương thứ hai cho họ. Thế là ngay khi con ngựa đầu tiên tới đích nó dành cho mafia những đường dây trực tiếp, làm chậm trễ điện tín của người khác, không nối liên lạc liên thành phố trước khi người của mafia nhường đường dây. Nhưng tới lúc đó thông tin cho bạn hàng cạnh tranh đã trở nên lạc hậu rồi.

    Ben Siegel mở rộng mạng lưới thông tin sang phía tây và đặt trụ sở ở Arizona và ở Nevada. Vươn tới Las Vegas, lập tức y mở sòng bạc tư, hàng tháng mang lại cho y 20 ngàn đôla tiền lời. Phụ tá của Siegel là Mickey Cohen và Happy Helzer lập trung tâm buôn thuốc phiện ở Las Vegas, sau này thậm chí nó còn được gọi là trung tâm ma túy quốc tế. Ai mà biết được thực hư thế nào?

    Có điều chắc chắn là năm 1951 ở Las Vegas, cảnh sát, FBI và các nhân viên của Narcoties Bureau (Sở Ma túy) đã bắt vài chục thương gia ma túy đưa ra tòa và 21 người trong số đó bị kết án nặng. Trong quá trình xử án, người ta biết được phần lớn nha phiến được mua ở các chợ Thổ Nhĩ Kỳ, gửi đến Mexico và bằng ôtô hay máy bay chở qua biên giới Hoa Kỳ, khi thì trong va ly của Virginie Hill, lúc khác thì trong vỏ các xitec chở xăng dầu. Sau đó nguyên liệu được chế biến trong các phòng thí nghiệm của mafia thành loại ma túy đắt tiền. Kinh doanh phát đạt, tiền như nước chảy. Đó là những công lao của Siegel mà Meyer Lansky dùng để bào chữa cho bạn hữu trước tòa án mafia. Lãnh đạo mafia không quên điều đó, nhưng chúng cũng nhận thức được là Siegel, với tính do dự không quyết đoán của mình, dễ dàng làm phương hại đến uy tín và quyền lợi của mình, cũng như của cả hội. Nhưng thành công ở Hollywood đã làm lóa mắt Siegel và y tự đánh giá mình quá cao.

    Vấn đề thanh trừng Ben Siegel được các sếp mafia, với sự có mặt của Lucky Luciano và danh ca Frank Sinatra, quyết định trong đại hội mafia tổ chức ở khách sạn National ở La Habana, vào dịp Noel năm 1946. Chúng đi tới quyết định này còn vì những nguyên nhân khác. Lãnh đạo mafia quyết định xây dựng ở La Habana và trên toàn Cu Ba một màng lưới sòng bạc và khách sạn cho người Mỹ. Nghe đâu Ben Siegel cũng có ý đồ tương tự. Y trở thành kẻ cạnh tranh ngay đối với tổ chức của mình. Tính hiếu danh của y đã vượt quá giới hạn cho phép, y tự cho mình là ông trời. Y đã ngộ nhận một cách tai hại.

    Tác giả tiểu thuyết nổi tiếng “Bố già” Mario Puzzo, một người chơi cờ bạc đam mê, khách quen thuộc của các casino trên thế giới và là chuyên gia trong lĩnh vực này, đã đưa ra giả thiết khác về vụ Ben Siegel. Theo quan điểm của Puzzo, Siegel rơi vào hoàn cảnh gay cấn không phải vì lỗi lầm của mình. Ngay sau chiến tranh, ở Mỹ vật liệu xây dựng rất khan hiếm, Siegel khởi công xây dựng khách sạn với sòng bạc, vào thời điểm không thuận lợi và phải mua vật liệu xây dựng ngoài chợ đen. Y gặp khó khăn, khi người ta phát hiện ra nghị sĩ Pat Mac Garan giúp y lấy bớt số vật liệu dành để xây dựng Universal Studios- xưởng phim ở Hollywood.

    Hơn nữa, nghe đâu Siegel một mực muốn Flamingo phải là công trình kiên cố, như thể nó sẽ tồn tại mãi mãi trên vùng sa mạc này. Đó cũng là nội dung hợp đồng với hàng xây dựng Dell Webb. Ở Las Vegas, người ta nói vớí tôi rằng Flamingo là một pháo đài bê tông cốt sắt, một khách sạn kiên cố nhất trong vùng, Siegel là khách hàng không kiên nhẫn. Y nôn nóng đốc thúc thợ xây, khăng khăng đòi rút ngắn thời hạn. Hãng Dell Webb lại đặt điều kiện là phải trả tiền mặt hàng ngày, Siegel đồng ý với điều kiện kỳ quặc đó, mặc dù y không thể kiểm tra công việc hàng ngày được. Vận chuyển vật liệu cũng gặp khó khăn. Trong quyển sách “Inside Las Vegas” (hậu cung Las Vegas), Mario Puzzo khẳng định rằng Siegel tội nghiệp, tuy là găngxtơ khét tiếng nhưng không ai còn sợ nữa, bị tất cả móc túi. Tài xế xe tải buổi sáng chở vật liệu đến, ban đêm khi trời tối quay lại công trường chất gạch và xi măng lên xe, đề rồi sáng hôm sau đi đến với vật liệu ăn cắp tính lần thứ hai. Nhân viên bảo vệ tất nhiên là có phần trăm trong đó. Sau này nghe đâu một tài xế tuyên bố rằng họ làm như thế không phải vì tiền. Vật liệu xây dựng rất khó kiếm, và họ sợ phải thú nhận với Siegel sự bất lực của mình, biết đâu Siegel lại chẳng điên tiết lên cho họ ăn kẹo đồng. Cho nên họ phải chở mãi, vẫn những viên gạch chuyến trước ngẫu nhiên mà họ kiếm lời trong vụ này, nhưng không phải vì thế mà họ chơi không đẹp với Siegel.

    Cho đến nay vẫn không ai xác định được kẻ nào đã ra lệnh giết Siegel bất kham. Theo lời khai của Stacher thì trong bữa đại tiệc ở khách sạn National ở La Habana, nghe đâu Lucky Luciano gọi Lansky ra chỗ vắng và nói:

    “Tôi biết, Meyer ạ, anh nghĩ toàn điều tốt lành về Bugsy. Anh coi nó như em ruột và quý nó như con trai vậy. Nhưng đây là chuyện làm ăn, Meyer à, và Bugsy đã vi phạm luật chơi. Nó lấy tiền của chúng ta đem gửi ở Thụy Sĩ. Nó lừa gạt chúng mình. Anh biết quá rõ điều đó mà”.

    Vợ của Siegel là Esther xác nhận Siegel thay đổi hẳn từ khi y yêu Virginie Hill. Từ lâu y đã là kẻ hám gái dan díu với không biết bao nhiêu diễn viên Hollywood và gái nhảy. Esther bỏ qua tất cả cho y, nhưng không thể chịu nổi quan hệ của y với Hill. Đây không phải chỉ là cuộc phiêu lưu một đêm trên giường. Y sống với Virginie Hill một thời gian dài và mọi lời khuyên can, góp ý đều như nước chảy đầu vịt.

    Meyer Lansky còn cố cứu gỡ cho bạn cũ. Thậm chí y còn bay tới Chicago gặp đồng nghiệp cũ Joe Epstein, người phát hiện ra Virginie Hill, từng sống với ả, và tuy từ lâu ả đã đi với người khác, hắn vẫn cảm thấy có trách nhiệm về cuộc sống của ả, cả tên thầu cá ngựa này cũng bó tay, và Lansky tay không trở về. Y bàn bạc với vợ Siegel và thỏa thuận để Esther xin ly dị. Biết đâu biện pháp cực đoan này chẳng làm Bugsy tỉnh ngộ. Nhưng cả nước cờ này cũng không xoay chuyển được tình thế. Esther ly dị và quay về New York, Bugsy càng được tự do hơn.

    - Anh cũng biết rõ như tôi, chúng ta phải hy sinh Bugsy. - Luciano nói với Lansky trong buổi dạ hội ở La Habana.- và nếu anh không đủ can đảm thì chính tôi sẽ phải thực hiện án tử hình này.

    - Vài phút, sau cuộc nói chuyện này, - Doc Stacher khai, - tôi nhìn thấy Meyer, không thể tin nổi, mắt anh ta rưng rưng. Tôi định hỏi chuyện gì xảy ra, nhưng sau lại thôi. Lansky lên phòng của mình, khóa cửa và ở trong đó hai tiếng. Bữa tiệc chiêu đãi Sinatra tiếp tục vắng mặt anh. Tôi đinh ninh, Meyer đang trải qua cuộc khủng hoảng nặng nề, nhưng mãi sau này tôi mới biết anh còn cố tìm lối thoát cho Bugsy.

    Trong khi mọi người uống sâm banh mừng Sinatra, thì từ khách sạn National, Lansky gọi điện đến Clevend và nói chuyện với giám đốc khách sạn Hollenden la Lou Rothkop. Y yêu cầu liên lạc gấp với Mickey Chona, vệ sĩ và cũng là phó sếp của Siegel. Rothkopf gọi đến Los Angeles và truyền đạt cho Mickey Cohen lệnh của Lansky.

    - Anh không được rời mắt khỏi Siegel, ngày cũng như đêm, nghe không Mickey. Nếu xảy ra chuyện gì với nó thì anh sẽ mất chỗ đội nón đấy.

    Ngày hôm sau ở Las Vegas tiến hành lễ khánh thành trọng thể khách sạn Flamingo. Tuy còn chưa được hoàn tất, nhưng rõ ràng đây là khách sạn hạng nhất, với các phòng được bọc gỗ quý, khung cửa bằng đồng với chạm trổ tinh vi và những tấm thảm trải nhà lộng lẫy, Siegel không tiếc tiền trong giai đoạn kết thúc. Y biết cảm giác đầu tiên có ý nghĩa như thế nào. Y mời thợ mộc, thợ sơn và thợ bọc nệm từ mãi tận San Francisco, Salt Lake City và Denver, ngoài tiền lương y còn trả thêm mỗi ngày 50 đôla tiền thưởng để cho trong ngày khánh thành mọi thứ đều phải bóng lộn.

    Ngày 26-12-1946, khi các sếp mafia còn mải yến tiệc ở La Habana, trong khách sạn National, thì Benjamin Siegel và Virginie Hill long trọng cắt băng khánh thành Flamingo. Nhiều nhân vật tên tuổi nhận được giấy mời và một số bạn bè của Siegel và Hill có đến dự. Cavier Cugat và ban nhạc trổ tài trước đám quan khách mà trong đó không thiếu các minh tinh màn bạc từ Hollywood. Đầu bếp bay tới từ Pari, mang theo cả sâm banh.

    Siegel là người từng trải, y biết là không thể tin vào may rủi, nhất là trong dịp Noel. Cho nên y thuê những máy bay chở khách tốt nhất loại Constellation để chở khách qúy từ Los Angeles đến Las Vegas. Nhưng số y đen đủi, hôm đó thời tiết xấu tới mức máy bay không thể cất cánh được. Thế là trong bữa tiệc khánh thành và sau đó, bên các bàn chơi bạc trong Casino có nhiều ghế bỏ trống. Lễ khánh thành kết thúc thảm hại, Siegel đã tính nhầm, những ngày lễ Noel không phải là thời điểm thuận lợi cho việc khởi sự casino. Họa vô đơn chí. Tai họa tiếp tục luôn 14 ngày sau. Vài tay chơi bài sành sỏi đã ăn hết số tiền đặt của Siegel, tới hơn 100 ngàn đôla. Siegel không chịu nổi và phải đóng cửa khách sạn.

    Khi biết được sự thất bại trên, Meyer Lansky còn cố cứu vớt danh dự cho Siegel. Hội đồng tối cao mafia Hoa Kỳ lại họp ở khách sạn National và Meyer Lansky, trong vai trạng sư của Siegel, đưa ra một đề nghị thâm thúy. Có thể cứu vãn được khách sạn Flamingo, casino sẽ thu lời, Las Vegas là mỏ vàng. Ben Siegel không gặp may và phạm nhiều sai lầm. Nhưng có thể sửa chữa được. Hội được coi là chủ nhân khách sạn sẽ bán đấu giá Flamingo. Các cổ động lập nên hội mới với số vốn như cũ và. mua rẻ tất cả tài sản khách sạn. Sau đó cử giám đốc mới và mở lại khách sạn. Hoàn toàn không còn nghi ngờ rằng khách sạn sẽ mang lại những món lời đáng kể. Meyer Lansky đã tính đúng, từ nhỏ y đã có giác quan nhạy cảm trong các chuyện kinh doanh.

    - Tôi nghe tin đồn - Doc Stacher khai. - Bugsy Siegel bay đến La Habana, để xin Luciano và Lansky cho cơ hội lập công chuộc tội. Điều đó không đúng. Siegel không bay tới La Habana, mặc dù hắn biết chỗ đứng của mình đã bị lung lay nhiều rồi. Hắn thu sếp bay cùng với Virginie đến Mexico và ở đó họ cưới nhau. Tôi có cảm giác là Virginie khuyên Siegel cùng ả bay sang châu Âu. Ở đấy họ có thể sống bằng số tiền gửi trong nhà băng Thụy Sĩ. Ả tất phải nhận thức được rằng tính mạng Bugsy đang nghìn cân treo sợi tóc. Có một điều phải công nhận: Bugsy không phải thằng hèn. Hắn quyết định ở lại Hoa Kỳ và chịu trách nhiệm về sự thất bại. Từ Mexico hắn bay thẳng đến Las Vegas. Trong khi đó Meyer Lansky thuyết phục được lãnh đạo mafia cho hắn cơ hội cuối cùng: mở lại khách sạn vào tháng ba. Nếu tôi nhớ không nhầm thì trong tháng năm hắn thu được 1/4 triệu tiền lời.

    Hiển nhiên là Siegel đã nhận thấy Virginie làm y bỏ bê công việc quá nhiều, cho nên y để ả đi Pari và hứa sẽ sang với ả, hay gọi ả trở về, một khi tình hình khách sạn, Flamingo trở lại sáng sủa. Sau một thời gian không lâu, khách sạn thật sự đã bắt đầu làm ăn phát đạt, Ben Siegel có thể báo cáo thắng lợi cho lãnh đạo mafia và những người ủng hộ y thở phào nhẹ nhõm. Chính y cũng tin rằng y đã ra khỏi vòng nguy hiểm. Siegel bay đến Los Angeles, gọi điện tới Pari cho Virginie là ả có thể trở về. Tối đó y ngồi tán gẫu với Allen Milley ở phòng khách, trong biệt thự của mình ở Beverly Hills. Một buổi tối yên tĩnh và dễ chịu. Vệ sĩ Mickey Cohan vắng mặt.

    Bàn nhỏ kiểu rôcôcô, gương Ý lồng trong khung mạ vàng, đi-văng lớn với vải phủ hoa giống như ri đô trên cửa sổ. Thảm trải nhà Ba Tư. Trong góc phòng, tượng thần tình yêu bằng đồng giương cung như sắp làm tan nát trái tim của ai đó, trên bàn một tượng tiên nữ nhỏ đứng cùng với một vài tờ báo. Họ mới uống cà phê trước đó một lát, bây giờ thì Siegel, với cảm giác thỏa mãn, thả mình xuống đi văng và cầm xem tờ nhật báo Los Angeles Times. Trên tờ báo có ghi rõ ngày 20-6-1947. Bên ngoài là màn đêm im lặng. Không có láng giềng nào tổ chức hội hè ngoài vườn cả.

    Không lâu sau 10 giờ, một tiếng động chối tai phá tan bầu không khí tĩnh mịch. Cửa sổ lớn vỡ tan, mảnh bay tung tóe trên sàn nhà. Bugsy nhìn lên, nhưng lúc đó y đã trúng đạn của một tay súng lạ mặt. Theo biên bản cảnh sát, kẻ giết người đã bắn sáu phát, trong đó có hai phát tử thương. Bọn Siegel vẫn ngồi trên đi văng, mặt bê bết máu, chỉ có đầu là gục xuống.

    Cảnh sát nhanh chóng có mặt, điều tra, nhưng không tìm ra gì cả. Các tay súng của Munder Inc, đã hoàn tất một vụ ám sát tuyệt hảo, không một sơ suất. Không phát hiện ra dù chỉ là một dấu vết nhỏ nhất, cảnh sát đành phải cất vụ án vào kho hồ sơ lưu trữ. Nhưng trong thế giới ngầm người ta không tranh cãi ai là kẻ bắn súng, song lại quan tâm ai là người điều khiển vụ ám sát. Câu trả lời không đơn giản và cho đến hôm nay vẫn còn không ít kẻ bị tình nghi.

    Cũng tối hôm đó, hai người đàn ông ăn mặc lịch sự đi vào khách sạn Flamingo và nói với thường trực rằng họ muốn nói chuyên với giám đốc Sedway. Họ tên là Moris Rosen và Gus Greenbaum và thông báo với viên giám đốc rằng khách sạn vừa mới thay đổi chủ nhân. Ông ta đã không phải lo lắng gì cả, tất cả vẫn hoạt động như trước. Du khách chẳng hơi đâu mà quan tâm khách sạn này là của ai.

    Rosen và Creenbaum là người của Lansky, làm việc cho Lansky ở Miami, ở New York và ở La Habana. Làm thế nàọ họ biết về cái chết của Siegel khi mà một hai giờ trước y vẫn còn sống? Nghi vấn này dẫn đến kết luận đơn giản: chính Meyer Lansky sắp đặt giết bạn cũ của mình. Y biết rằng Siegel sẽ chết, cho nên y có thể sắp sếp chính xác việc bàn giao khách sạn cho hội mới như chính y đã đề nghị ở La Habana.

    Meryer Lansky thọ nhất trong số nhưng kẻ bị nghi vấn, cho nên y có điều kiện để tự vệ. Y khẳng định là y không dính líu gì tới cái chết của Siegel. Như vậy, người duy nhất ra lệnh giết Siegel là Lucky Luciano. Chỉ có Luciano mới có thể bố trí để vệ sĩ Mickey Cohen người chịu trách nhiệm an toàn của sếp, vắng mặt tối hôm đó. Thậm chí xuất hiện cả giả thiết, không phải không có lý, rằng chính Jack, Dragna nhận lệnh giết Siegel từ Luciano. Nếu điều đó đúng, thì đây là một sự lựa chọn khôn ngoan. Chả là
    Dragna và Siegel không ưa nhau. Dragna tự coi là chuyên gia trong lĩnh vực các trò chơi cờ bạc và gã có cảm giác là Siegel cướp nghề của mình, cho nên gã sẵn sàng trừ khử Siegel. Luciano điều khiển vụ ám sát từ Ý, hay có thể y đã ra lệnh khi còn ở La Habana.

    Lansky tự bào chữa, tất cả đều cố thoát khỏi vòng tình nghi. Khi các nhân viên FBI hỏi quả phụ của kẻ bị giết, Esther tuyên bố có lợi cho Meyer Lansky: “Tôi biết Meyer Lansky có lẽ từ năm 1926 và tôi luôn quý trọng ông ta. Khi tôi lấy chồng năm 1928, ông ta còn làm nhân chứng cho chúng tôi. Ông ta và chồng tôi là những người bạn tốt cả trong chuyện làm ăn”.

    Đáng ngạc nhiên là Virginie Hill xử sự như một quả phụ đau khổ thật sự, thậm chí ả còn định tự tử. Nghe đâu Joe Epsstein gọi điện từ Chicago đến Pari báo tin dữ cho ả và yêu cầu ả tạm thời đừng về Mỹ. Hơn nữa tên bợm già còn gửi cả cho ả điếm này một khoản tiền lớn để ả có thể tiếp tục những cuộc vui trác táng ở Montmartre.

    Virginie Hill lại kể hoàn toàn khác về những sự

    kiện.

    “Một bữa tôi cùng Nickey đi du lịch đến một thành cổ không xa Pari. Ở đó có nhiều người Mỹ. Bỗng nhiên một người trong bọn họ giơ cao tờ báo và nói: găngxtơ Ben Siegel đã chết. Tôi không thể tin nổi điều đó. Lập tức tôi và Nickey đến tòa soạn báo New York Herald Tribune ở Pari và hỏi người biên tập đầu tiên mà chúng tôi gặp, có phải đó là sự thật không. Anh ta hỏi lại tôi là ai. Tôi xưng tên và nói rằng tôi rất quen Siegel. Thế thì tôi không ghen chút nào với bà, anh ta nói Siegel bị giết ngay trong biệt thự của bà.

    Chúng tôi đi ngay đến khách sạn Westminster, nơi chúng tôi đang tạm trú. Tôi không biết phải làm gì. Tôi gọi điện cho Nat Coluer và anh ta khuyên tôi đừng có về Mỹ. Từ lúc đó các phóng viên bám sát chân tôi. Tôi mà xuất hiện ở đâu là lập tức từ các xó xỉnh họ chạy ra. Thậm chí một ký giả còn trèo qua cửa sổ vào phòng tôi. Tôi phải đi khỏi Pari”.

    “Nickey đưa tôi đến Monte Carlo. Chúng tôi sống ở khách sạn Strand. Tôi đến casino đều đặn. Tôi thắng bài luôn, nhưng tinh thần thì hạ xuống dưới không độ. Thế là tôi nuốt cả ông thuốc ngủ và tỉnh dậy trong bệnh viện. Tôi cùng Nickey quay về Pari và một lần nữa tôi uống thuốc ngủ. Lần này tôi tỉnh dậy trong bệnh viện Mỹ ở Neuilly. Ra viện, tôi bay ngay về Mỹ. Mọi thứ đối với tôi lúc này đều là vô nghĩa”.

    Tất nhiên là cảnh sát và FBI hỏi cung và cho người bảo vệ ả. Chưa an tâm, ả thuê vệ sĩ tư với 60 đô la mỗi ngày. Sau đó ả hiểu là đất Mỹ quá nguy hiểm đối với phụ nữ tai tiếng như ả, một tình nhân của găngxtơ.

    “Tôi bay sang Mexico, ở đó lúc nào cũng cảm thấy dễ chịu và có nhiều người quen biết. Trong số đó, có Chato Juarez con trai bộ trưởng tài chính,
    Rafaol Qla bí thư của Tổng thống Alemán và Chato Amesco-phi công riêng của ngài”.

    Virgienie Hill chạy trốn trước quá khứ của chính mình. Giống như người bị truy nã, ả thay đổi chỗ ở liên tục. Ở bãi biển lộng lẫy Acaphulco, ả sông trong khách sạn sang nhất, nhảy thâu đêm suốt sáng trong các buổi dạ hội điên loạn của giới thượng lưu, nếm trải thêm vài cuộc phiêu lưu tình ái. Sau đó, ả quay lại Chicago, xuất hiện ở New York, bị cảnh sát theo dõi. Khi uỷ ban điều tra Kefauer khởi sự công việc, ả trả lời các câu hỏi liên quan đến các hoạt động của mafia trước ống kính tivi và cả nước Mỹ được nghe lời khai của ả. Đã từ lâu, ả không còn là người tình hấp dẫn cỡ quốc tế của găngxtơ nữa rồi, trên màn ảnh tivi người ta chỉ thấy một phụ nữ tàn tạ, mệt mỏi, mặc dù ả mới ở tuổi 35.

    Ở trung tâm thể thao mùa đông Sun Valley, ả làm quen với cựu vô dịch trượt tuyết Hans Hauser, và bây giờ là huấn luyện viên cho giới thượng lưu. Sau này họ lấy nhau có một người con trai, và chuyển về sống ở Áo, nơi gia đình Hauser có một quán ăn nhỏ. Ở đó ả tự sát bằng thuốc ngủ, kết thúc cuộc đời giang hồ có một không hai của mình.

    Las Vegas có các ông bầu và chuyên gia quảng cáo của nó. Họ không tiết kiệm lời, với sự hãnh diện của những Businessmen(76) thành đạt, họ công nhận rằng ngày nay Las Vegas, là mỏ vàng cho các nhà kinh doanh.

    Thành phố này tạo điều kiện cho mỗi người thử vận may của mình, họ nói và không quên thêm rằng, liên tục suốt năm, mỗi ngày 24 tiếng, các máy bay chở khách cỡ lớn mang đến thiên đường cờ bạc sáu triệu du khách. Bốn triệu nữa đi đến bằng ô tô ca và xe hơi. Các khách sạn và casino thu hàng năm tới hai tỉ tiền lời. Ở Las Vegas, ngoài khách sạn Flamingo, đã mọc lên hàng tá khách sạn sang trọng và hiện đại hơn nhiều. Hầu hết đều thuộc về mafia, số còn lại thì ít ra cũng có cổ phần của găngxtơ.

    Meyer Lansky và các cố vấn kinh tế của y đã sáng tạo ra một phương pháp kinh doanh thâm thúy. Tiền thuê phòng ở khách sạn chỉ có vài đôla, thức ăn rẻ hơn bất cứ chỗ nào khác, đồ uống cũng bán với giá hạ. Nhưng từ đường phố vào nơi đón tiếp, khách phải đi qua một sòng bạc, trước cửa các nhà vệ sinh có đặt các bàn xóc đĩa, và con đường đến thợ cạo được viền bằng hai hàng máy chơi tự động. Tất cả những thứ này đều là cạm bẫy đối với túi tiền của du khách, đáng tin cậy và hiệu quả hơn các hóa đơn thanh toán giá cao. Trong phần lớn các sòng bạc, những cô chiêu đãi viên trẻ đẹp phục vụ giải khát không mất tiền. Những cốc cốc - tai tưởng như cho không này cũng được tính vào chi phí của khách sạn. Ở những quán ăn tự động, các bàn ăn tựởng như muốn sập vì thức ăn quá nhiều, thực khách ăn bao nhiêu tùy ý, chỉ phải trả một giá chung rất hạ vào thời kỳ, khi mà ở nước Mỹ giá một bữa ăn trưa khiêm tốn là sáu đô la bữa ăn tối tử tế không dưới 10 đôla, thì một số khách sạn ở Las Vegas tính có 65 xen cho một bữa ăn tối với nhiều món. Sự hào phóng được đền bù lại gấp nhiều lần. Mánh khóe kinh doanh tuyệt vời đã mang lại những món lãi kếch xù và chính du khách lại làm quảng cáo không công cho khách sạn trên khắp thế giới.

    Ở đây cũng có những khách sạn dành cho khách nhiều tiền. Một trong số đó là đại khách sạn Metre -Goldwyn- Mayer tiện nghi lộng lẫy nhưng thiếu thẩm mỹ, với một phòng đồ sộ một loại đền thờ các minh tinh màn bạc. Trong tủ kính được chiếu sáng sặc sỡ người ta thấy phục sức của Marlene Dietrich(76) trong phim “Thiên thần xanh”, súng lục và thắt lưng da của cao bồi điện ảnh Reagan, đồ hóa trang của diễn viên hề nào đó và giày của Ginger Togerse(77) dùng để nhảy khi quay phim với Fred Astaire(78). Đồ trang sức của các ngôi sao, thư tình và chữ ký. Một sự phô bày rẻ tiền, thiếu thẩm mỹ. Nhưng ở đây khách hâm mộ đi rón rén trên đầu ngón chân, thậm chí có người còn đứng mơ màng trước các “báu vật” trong một vẻ trầm tư thần bí. Thành công của LasVegas còn xuất phát ở chỗ, các khách sạn và sòng bạc mở cửa cho tất cả mọi người không phân biệt giàu nghèo, hữu danh hay vô danh, thậm chí cho cả người da đen và dân Pooctôricô.

    “Strip” là một phố dài bảy cây số, khách sạn nối tiếp Casio, ở đó người ta chơi với dù loại tiền đặt, lớn có nhỏ có “Casino ở châu Âu chỉ dành cho dân khá giả”, Gus Petrie từ trung tâm thông tin nói. “Chúng tôi xây dựng casino cho tất cả mọi người. Ngài có thể đến chơi với một hay một triệu đôla, trong bộ smoking sang trọng hay vận quần soóc sờn rách. Không Ở đâu trên thế giới mà ngài có thể dẫn con nhỏ đến casino. Nhưng ở Las Vegas thì được. Trong khi bố mẹ chơi bài, người của chúng tôi, đã tốt nghiệp lớp đào tạo chất lượng, chăm lo chu đáo con cháu của họ”.

    Ở khách sạn Clreus-Cifeuss, người ta tổ chức cả một chuyến du lịch hấp dẫn suốt đêm cho trẻ em. Các nghệ sĩ hạng một giải trí cho lớp khán giả nhỏ tuổi bằng các tiết mục đặc sắc của mình, để bố mẹ của chúng có thế hoàn toàn yên tâm sát phạt nhau. Các nhân viên quảng cáo khẳng định rằng ở Las Vegas, các trò chơi cờ bạc được chơi từ thuở khai thiên lập địa. Nghe nói dân da đỏ từ lâu đã chơi một loại xóc đĩa với các con xúc xắc và những que gỗ mầu. Trên địa hạt bang Nevada, các trò chơi cờ bạc được pháp luật cho phép, trừ khoảng thời gian từ năm 1910 đến năm 1930. Cho nên ngay trong thời gian chiến tranh, nhưng đặc biệt sau chiến thắng, găngxtơ đã để mắt đến Las Vegas. Các găngxtơ Gus Greenbaum, Bugsy Siegel. Moe Sedway và Israel Alderman mua ở Las Vegas câu lạc bộ ban đêm đầu tiên El Cortez, mất không bao nhiêu tiền, vì bấy giờ Las Vegas còn chưa được nhiều người biết đến, nhưng cũng mang lại cho chủ nhân một khoản tiền không nhỏ. Chúng bán lại nó với giá hời, lập nên hãng Nevada Project Corporation để lo việc đầu tư xây dựng khách sạn Flamingo:

    Tất cả các cổ đông là bạn hữu của Lansky, đại diện cho quyền lợi và tiền lạc của y. Alderman là một tên cướp của giết người với quá khứ dày đặc tội lỗi. Nhiều lần cảnh sát bắt hắn, hơn mười lần hắn phải ra tòa, nhưng lần nào cũng được tha vì thiếu bằng chứng. Sedway đã từng xây dựng và điều khiển một hệ thông điện thoại và điện báo cho băng thầu cá ngựa. Alderman là người cục cằn, không nương tay với ai bao giờ. Một lần, hai tên cướp vô danh Tonny Tomhino và Tonny Brencato đến Las Vegas và cạy két Flamingo, Aldelman coi hành động của các đồng nghiệp là sự xúc phạm cá nhân. Hắn không báo cảnh sát mà đi đặt hàng một tên giết thuê tên là Jimmy Fratianno, một tay súng chuyên nghiệp chỉ biết có tiền. Jimmy tìm ra hai tên ăn cắp cò con ở Los Angeles hay ở Hollywood, khi chúng đang uống mừng chiến lợi phẩm. Hắn chờ ở ngoài quán. Sau đó không nói một lời, hắn bắn chết bọn kia và đi về nhà.

    Nghe đồn Gus Greenbaum là một thiên tài tài chính. Dưới sự điều khiển của hắn, trong năm đầu tiền khách sạn Flamingo thu được bốn triệu tiền lời. Đây là khoản chính thức phải chịu thuế, như vậy trong thực tế lợi nhuận còn lớn hơn nhiều lần. Nhưng
  • Chia sẻ trang này