17. TVTPM - Tornad [XONG]

22/12/15
17. TVTPM - Tornad [XONG]
  • Link PDF

    Link Google Docs

    Link Word Online


    ngạc rồi! Vả lại tôi nghĩ mụ công tước đã bới ra được ba trong số những nông dân làm việc ở công trường khai quật Xăngghinha, những người ở trên bờ hào trong lúc tên cướp Giletti đó tấn công Đen Đônggô.

    - Những nhân chứng đó ở đâu rồi? Hoàng thân bực tức, hỏi.

    - Được giấu ở vùng Piêmông, tôi đoán thế. Phải bày ra một âm mưu ám sát Điện hạ...

    - Cách ấy có những nguy hiểm của nó, hoàng thân nói, nó xúi người ta nghĩ thực sự đến việc ấy.

    - Thế nhưng, Rátxi vờ ngây thơ nói, thế nhưng đó là tất cả kho vũ khí chính qui của tôi.

    - Còn có thuốc độc...

    - Nhưng mà ai đánh thuốc độc cho? Cái lão ngốc Côngti chăng?

    - Theo người ta nói thì vụ này sẽ không phải là vụ thể nghiệm đầu tay của hắn...

    - Phải kích cho hắn phẫn nộ lên mới được. Rátxi nói tiếp. Vả lại khi hắn cho viên đại úy kia về chầu trời, hắn chưa đến ba mươi tuổi, hắn si tình, và hắn không tầm thường nhu nhược quá đáng như bây giờ. Tất nhiên, gì rồi cũng phải phục tùng quyền lợi nhà nước, nhưng bị hỏi bất ngờ và mới xét qua, tôi chỉ thấy có một người có thể thi hành mệnh lệnh nhà vua là tên Bacbôn, thư ký lục sự tại nhà lao, mà tay Đen Đônggô đã quật ngã bằng một cái tát tai, hôm hắn mới bước vào nhà tù.

    Một khi hoàng thân đã được thoải mái thì câu chuyên trở nên miên man: ngài chấm dứt sau khi quy định cho Rátxi thời hạn một tháng. Rátxi thì muốn được hai. Ngày hôm sau, ông chánh án nhận được món thù lao bí mật một nghìn đồng xơcanh. Ông suy nghĩ ba ngày, ngày thứ tư, ông trở lại với cách lý luận cũ của ông, và cho là nó vững vàng, tất yếu: - Chỉ có bá tước Môxca là người có lòng giữ lời hứa với ta, bởi vì phong nam tước cho ta, ông không coi cái nam tước ấy là một cái gì quí báu lắm; lẽ thứ hai, nếu mách cho ông ấy thì chắc là ta khỏi phải phạm một tội ác mà ta gần như đã được thù lao rồi; lẽ thứ ba, ta trả thù sự đánh đập nhục nhã mà thoạt đầu hiệp sĩ Rátxi phải chịu.

    Đêm sau, Rátxi thông báo cho bá tước Môxca tất cả cuộc trao đổi ý kiến với hoàng thân.

    Bá tước bí mật săn đón chiều chuộng công tước phu nhân. Đúng là ông vẫn chỉ đến chỗ phu nhân một vài lần mỗi tháng, nhưng hầu như tuần nào, và những khi nào ông biết tạo cơ hội nói về Fabrixơ, thì nữ công tước cũng đi với Sêkina vào lúc đêm khuya đến ngồi giây lát ở vườn bá tước. Bà lừa được cả anh đánh xe - anh này trung thành với bà, khiến anh ta tưởng là đến thăm một nhà nào gần đó.

    Tất nhiên khi tiếp nhận điều bí mật dữ dội của ông chánh án, bá tước lập tức phát ám hiệu đã giao hẹn đến cho bà công tước. Dù lúc đó đã nửa đêm, bà phái Sêkina đến mời ông tới ngay nhà bà. Bá tước tuy ngây ngất như một kẻ si tình trong cảnh gần gũi thân mật bên ngoài đó, vẫn ngần ngại không nói hết với nữ công tước; ông sợ bà quá đau đớn mà phát điên chăng.

    Sau khi dùng những lời úp mở để giảm nhẹ tác hại của cái tin dữ đó, cuối cùng rồi ông cũng đành phải nói hết: bảo vệ một bí mật mà nàng cố hỏi là một việc quá sức ông. Từ chín tháng nay, tai họa đã tác động mạnh trên tâm hồn nồng nhiệt của bà công tước, nó đã làm cho tâm hồn ấy khỏe ra: bà không vật vã khóc than, rên siết.

    Tối hôm sau, bà bảo phát cho Pabrixơ cái tin báo sắp có đại họa:

    Lửa cháy ở lâu đài!

    Fabrixơ trả lời ổn thỏa:

    Sách của tôi có cháy không?

    Cũng trong đêm đó, nữ công tước đã may mắn gửi được cho Fabrixơ một lá thư đựng trong một quả đạn chì. Sự việc này xảy ra tám hôm trước ngày đám cưới cô em gái hầu tước Cretxăngzi, ở đấy nữ công tước đã làm một việc quá phiêu lưu bất cẩn, mà chúng tôi sẽ tường thuật đúng lúc.



    Chương thứ hai mươi mốt

    Gần một năm về trước cái thời tai biến này, nữ công tước đã có một cuộc gặp gỡ lạ lùng: Một hôm vào buổi chiều, bà cao hứng đi đột ngột về lâu đài Xăcca. Ở quán Côloócnô, trên ngọn đồi nhô cao bên bờ sông Pô. Bà thích thú tô điểm cho ấp ấy. Bà ưa cái rừng rộng phủ trên ngọn đồi và giáp liền với tòa lâu đài; bà chăm lo chỉ bảo người ta vạch ở đấy những đường lối tỏa ra nhiều hướng đẹp mất. Một hôm hoàng thân bảo:

    - Bọn cướp sẽ bắt cóc phu nhân mất, công tước phu nhân xinh đẹp ạ. Một khu rừng mà người ta biết có phu nhân đi dạo thì không thể nào hoang vắng được. Hoàng thân liếc nhìn bá tước, với ý định khêu gợi lòng ghen tuông của ông.

    - Tôi không sợ, thưa Điện hạ cao minh, nữ công tước đáp, dáng hồn nhiên; tôi không sợ khi đi dạo trong rừng cây của tôi; tôi yên tâm khi nghĩ: Ta không làm hại ai, thì ai thù ghét ta chứ?

    Cái câu ấy, người ta cho là táo bạo, nó làm nhớ đến những lời phỉ báng của bọn tự do trong xứ, những người này hỗn láo lắm. Cái hôm phu nhân đi dạo mà ta nói ở đây, bà sực nhớ đến câu nói của quận vương, khi thấy một người ăn mặc lôi thôi lếch thếch băng rừng đi theo bà một quãng xa. Bà tiếp tục đi dạo, đến một khúc ngoặt không dự tính thì người lạ mặt trở nên ở gần bà quá khiến bà đâm sợ. Phản ứng đầu tiên của bà công tước là gọi người gác rừng mà đã bảo đứng cách đấy một nghìn bước, tại bồn hoa bên cạnh lâu đài. Người lạ mặt vẫn có đủ thì giờ chạy đến bên bà và quỳ xuống chân bà. Người ấy trẻ, rất xinh trai, áo của anh có những mảnh rách dài ba tấc, nhưng mắt thì sáng rực ánh lửa của một tâm hồn nồng nhiệt.

    - Tôi bị án tử hình, tôi là y sĩ Perăngtê Panla, tôi và năm đứa con tôi đói gần chết.

    Công tước phu nhân trước đó đã để ý thấy anh ta gầy guộc quá đỗi: nhưng đôi mắt anh đẹp quá và chan chứa một nhiệt tình quyến luyến khiến bà không nghĩ đến tội ác nữa. Bà nghĩ thầm: “Đáng nghĩ Panlagi phải vẽ đôi mắt Thánh Giăng như thế này ở bức tranh thánh Giăng trong sa mạc mà ông vừa bầy ở nhà thờ lớn! Chính thân hình gầy guộc đến mức không thể tin được của Ferăngtê đã khiến phu nhân nghĩ đến thánh Giăng. Bà cho ông ta ba đồng xơcanh đựng trong túi tiền của bà và xin lỗi đã biếu quá ít như vậy, bởi vừa mới trả tiền công cho người làm vườn. Perăngtê cảm ơn dồn dập. Anh nói:

    - Hỡi ôi! Ngày trước tôi ở thành thị, tôi thường gặp những phụ nữ sang trọng: từ khi làm bổn phận công dân, tôi bị xử tử hình thì tôi sống trong rừng và tôi đi theo phu nhân, không phải để xin bố thí hoặc để cướp của, nhưng mà như là một tên man rợ bị thôi miên bởi một sắc đẹp thiên thần. Đã lâu lắm rồi tôi không thấy bàn tay trắng đẹp!

    - Anh đứng lên đi chứ, bà công tước bảo, bởi vì anh ta vẫn quỳ dưới đất.

    - Xin bà cho phép tôi cứ quỳ, Ferăngtê nói. Cái tư thế này chứng tỏ cho tôi biết là lúc này tôi không bận lo trộm cướp, điều đó làm tôi yên lòng. Bởi vì bà sẽ biết là tôi ăn cướp để sinh sống từ khi người ta cấm tôi làm nghề thầy thuốc. Nhưng vào giờ phút này, tôi chỉ là con người trần tục đang sùng bái cái đẹp tuyệt vời.

    Bà công tước hiểu rằng anh ta hơi rồ, nhưng bà không sợ: bà nhìn thấy trong mắt con người ấy một tâm hồn nhiệt thành và thuần hậu, vả lại bà vốn không thù ghét những gương mặt khác thường.

    - Tõi vốn là y sĩ, và tôi đã săn đón cô vợ anh dược sĩ Xaraxin ở Pácmơ. Anh ta bắt được chúng tôi và đuổi cô vợ đi cùng với ba đứa con mà anh ta nghi ngờ có lý là con tôi chứ không phải con anh ta. Từ hồi đó đến nay, tôi có thêm hai cháu nữa, Bà ấy và năm đứa con sống trong cảnh nghèo khổ cùng cực, chui rúc trong một cái lều tự tay tôi dựng nên ở trong rừng, cách đây một dặm. Bởi vì tôi phải đề phòng bọn sem đầm, còn người vợ tội nghiệp ấy thì lại không muốn xa chồng. Tôi bị xử tử hình và như vậy là rất đúng: bởi vì tôi mưu phiến loạn. Tôi thù ghét quận vương vì y là một bạo chúa. Tôi không bỏ trốn được vì thiếu tiền. Tai họa của tôi còn lớn hơn thế nhiều và đáng lẽ tôi phải tự tử đến nghìn lần rồi; tôi không yêu người phụ nữ đã đẻ cho tôi năm đứa con và hủy hoại cuộc đời mình vì tôi. Tôi yêu một người đàn bà khác. Tuy nhiên nếu tôi tự vẫn thì năm đứa con và người mẹ ấy thực sự chết đói.

    Giọng người ấy nghe thành thực.

    - Nhưng mà cả nhà anh sống bằng cách nào? Nữ công tước cảm động hỏi.

    - Mẹ lũ trẻ kéo sợi; đứa gái lớn được nuôi ở một nông trại của những người phái tự do và chăn cừu ở đó; tôi thì ăn cướp trên đường đi Plenzăngxơ đến Giênơ.

    - Anh làm thế nào mà dung hòa việc trộm cắp với nguyên lý của chủ nghĩa tự do?

    - Tôi ghi tên những người tôi cướp vào sổ, nếu một ngày kia tôi có tiền, tôi sẽ trả lại họ. Tôi cho là công việc của một dân ủy như tôi đáng được thù lao một trăm frăng mỗi tháng vì sự nguy hiểm của nó; bởi vậy tôi cố tránh không lấy quá một nghìn hai trăm frăng mỗi năm.

    A, tôi quên, tôi cũng có cướp một số tiền nho nhỏ vượt số đó, bởi vì phải dùng khoản ấy để trả chi phí in những tác phẩm của tôi.

    - Tác phẩm gì?

    - Nàng... nàng rồi có bao giờ có được một căn buồngmột số chi thu?

    - Thế nào? Nữ công tước ngạc nhiên nói: ông chính là một trong những nhà thơ lớn nhất ở thời đại ta, nhà thơ Ferăngtê Panla lẫy lừng đó à?

    - Lẫy lừng, cũng có lẽ, nhưng mà khổ quá chừng, cái đó mới chắc!

    - Một người tài hoa như ông, thưa ông, mà buộc phải ăn cướp để sống ư?

    - Có lẽ vì thế mà tôi có ít người tài năng. Cho tới nay, tất cả những tác giả của chúng ta mà người ta biết tên tuổi đều là những người được chính phủ trả tiền hoặc là do cái tôn giáo mà họ muốn đào bới cho sụp đổ trả tiền. Tôi thì thứ nhất là tôi liều sinh mệnh tôi; thứ hai, bà hãy nghĩ đến những ý nghĩ lay động tâm trí tôi khi tôi đi ăn cướp: Ta làm có đúng không? Tôi tự hỏi. Chức vụ công ủy nhân dân có giúp ích cho nhân dân đáng giá một trăm frăng mỗi tháng không? Tôi có hai sơ mi, cái áo ngoài mà phu nhân thấy đấy, cùng mấy vũ khí tồi và tôi tin chắc là tôi sẽ từ giã cõi đời trên dây treo cổ! Tôi dám tin là tôi chí công vô tư. Giá tôi không mang mối tình tai hại đó thì tôi đã thấy sung sướng, mối tình đó chỉ làm cho tôi thấy khổ bên cạnh mẹ lũ trẻ. Tôi không chịu nổi cảnh nghèo vì nghèo là một sự xấu xí: tôi thích những áo xiêm đẹp, những bàn tay trắng trẻo...

    Anh nhìn hai bàn tay của nữ công tước một cách khiến bà đâm sợ.

    - Thôi xin chào ông! Bà nói. Tôi có thể giúp được gì cho ông ở Pácmơ không nhỉ?

    - Phu nhân hãy một đôi khi nghĩ đến vấn đề này: công việc của nó là thức tỉnh các con tim và không cho chúng ngủ yên trong cảnh hạnh phúc vật chất giả tạo mà các thể chế quân chủ ban cho chúng nó. Công việc nó làm cho đồng bào có đáng giá một trăm frăng mỗi tháng không?... Tai vạ của tôi là ở việc tôi yêu, Ferăngtê nói rất dịu ngọt, và từ hai năm nay tôi chỉ nghĩ đến phu nhân; nhưng tôi từng nhìn phu nhân mà không làm cho phu nhân sợ, cho tới hôm nay. Anh nói xong, chạy biến đi, nhanh nhẹn một cách thần tình, khiến nữ công tước kinh ngạc và lấy làm yên lòng. Bà nghĩ thầm: “Sen đầm khó mà đuổi kịp anh ta”. Đúng đấy, anh điên mà.

    - Anh ta điên, gia nhân nói với nữ công tước: - chúng tôi đều biết từ lâu là cái anh tội nghiệp ấy say mê bà lớn. Những khi bà lớn tới đây, chúng tôi thấy anh ta thơ thẩn ở những nơi cao nhất trong rừng và liền sau khi bà lớn đi khỏi, thế nào anh ta cũng đến ngồi ở chính những nơi bà lớn đã dừng lại. Anh ta chăm chú nhặt những đóa hoa rơi từ bó hoa của bà lớn và giắt lên cái mũ khổ của anh ta để giữ lại lâu dài.

    - Thế mà các người chưa bao giờ nói với tôi về những việc làm điên rồ ấy, nữ công tước nói, hầu như với giọng trách mắng.

    - Chúng tôi sợ phu nhân thuật lại với bá tước Môxca. Anh chàng Ferăngtê đáng thương ấy hiền lành lắm! Anh chẳng hề làm hại ai và chỉ vì anh ta thích ngài Napôlêông của chúng ta mà người ta xử tử anh.

    Công tước phu nhân không nói gì nữa với bá tước về cuộc gặp gỡ ấy; vì từ bốn năm nay, đầy là điều đầu tiên bà giữ bí mật với bá tước cho nên hàng chục lần, bà phải dừng lại đột ngột ở giữa một câu nói. Bà trở lại ấp Xắcca với nhiều vàng, Ferăngtê không ra mặt. Mấy hôm sau, bà lại trở về đấy: Ferăngtê nhanh nhẹn đi theo bà một lúc, với khoảng cách một trăm bước rồi thình lình lao tới như con chim cắt, và quì dưới chân bà như lần đầu.

    - Mười lăm hôm trước đây, ông ở đâu?

    - Ở trên núi, quá Nôvi, để ăn cướp những người đánh la đi bán đầu đầu từ Milăng trở về.

    - Ông hãy nhận túi tiền này.

    Ferăngtê mở túi tiền, lấy ra một đồng xơcanh cầm lên hôn rồi để vào trong ngực áo và trả túi tiền lại.

    - Ông trả túi tiền lại cho tôi, thế mà ông lại đi ăn cướp!

    - Quả vậy. Cái lệ của tôi là thế đấy, không khi nào tôi được phép có quá một trăm frăng. Thế mà bây giờ, mẹ lũ trẻ có tám mươi frăng, còn tôi, hai mươi frăng, như vậy là tôi đã lạm thu năm frăng, nếu như bây giờ người ta treo cổ tôi thì tôi có điều hối hận. Tôi lấy đồng xơcanh này vì đó là của phu nhân mà tôi thì yêu phu nhân.

    Anh nói câu giản dị ấy bằng một giọng điệu tuyệt vời. “Hắn yêu thực đấy!” công tước phu nhân tự nhủ.

    Hôm đó Ferăngtê có vẻ hoàn toàn hoảng loạn. Anh nói ở Pácmơ có một số người nợ anh sáu trăm frăng, với số tiền ấy anh có thể sửa chữa cái lều, nơi hiện các đứa trẻ tội nghiệp của anh bị cảm lạnh.

    Thế thì tôi ứng trước cho ông số tiền sáu trăm frăng đó, nữ công tước xúc động, nói.

    - Nhưng mà tôi là một con người của công pháp, đảng đối lập sẽ vu khống tôi là mua chuộc mất?

    Bà công tước cảm động hiến cho anh một chỗ trú ẩn ở Pacmơ nếu anh vui lòng hứa với bà là lúc này anh sẽ không thực hiện nhiệm vụ quan tòa của anh trong thành phố, nhất là không thi hành một bản án tử hình nào trong số mà anh bảo là chứa trong bụng[1].

    - Như thế thì nếu tôi bị treo cổ vì bất cẩn, Ferăngtê nói rất trịnh trọng, tất cả những tên vô lại báo đời nhân dân đó sẽ sống lâu dài, thì đó là lỗi của ai? Cha tôi sẽ nói thế nào khi đón tôi ở trên ấy?

    Bà công tước nói với anh về các con anh, mà sự ẩm ướt có thể gây cho chúng những bệnh chết người. Rốt cuộc, anh chịu nhận chỗ trú ẩn mà phu nhân hiến cho.

    Trong nửa ngày duy nhất mà công tước Xăngxêvêrina ở lại Pácmơ từ khi cưới phu nhân, ông đã chi cho bà một chỗ trốn lạ lùng ở góc phía nam lâu đài Xăngxêvêrina. Bức tường tiền diện của lâu đài ấy, xây từ thời trung cổ, dày hai thước rưỡi; nàng ta đã khoét nó ở bên trong, làm thành một chỗ núp cao gần bảy thước nhưng rộng không đầy bảy tấc. Bên cạnh đó có cái bể chứa nước rất đẹp mà khách du lịch nào cũng có nói tới, một công trình nổi tiếng của thế kỷ XII, do hoàng đế Xigixmông xây dựng trong lúc vây đánh thành Pácmơ và về sau được sáp nhập vào phạm vi lâu đài Xăngxêvêrina.

    Muốn vào chỗ ẩn phải xoay một tảng đá lớn quanh chiếc trục sắt xuyên qua giữa tảng đá. Công tước phu nhân xót thương sâu sắc cảnh điên rồ của Ferăngtê và số phận của các con anh, nhưng vì anh khăng khăng không nhận một món quà biếu nào đáng giá, cho nên bà cho phép anh sử dụng nơi ẩn nấp đó một thời gian khá dài. Bà gặp lại anh một tháng sau, cũng vẫn ở trong rừng xắcca; hôm đó anh tỉnh táo hơn, nên đã đọc cho bà nghe một bài thơ của anh, mà bà cho là hay ngang hoặc hơn những gì hay nhất mà người ta đã làm ra ở Ý từ hai thế kỷ nay. Ferăngtê được hội kiến nhiều lần nữa; nhưng mối tình của anh bồng bột lên, trở nên rầy rà khó chịu và bà công tước nhận thấy mối tình ấy phát triển theo qui luật của tất cả những tình yêu được người ta mớm cho khả năng có một tia hy vọng. Bà đuổi anh trở lại rừng rú của anh, cấm không được nói năng gì với bà: anh phục tùng ngay, phục tùng với một sự hiền dịu tuyệt đỉnh.

    Sự việc vừa đến đó thì Fabrixơ bị bắt. Ba hôm sau, vào lúc hoàng hôn, một thầy dòng Capuyxanh đến trước cổng lâu đài Xăngxêvêrina: thầy nói có một bí mật quan trọng cần báo với bà chủ nhà. Bà công tước đang đau khổ quá nên cho vào: Tại đây vừa mới xảy ra một điều bất công mới mà một công ủy nhân dân cần phải biết rõ. Mặt khác, riêng phần tôi, tôi chỉ có tính mệnh của tôi để hiến dâng cho nữ công tước Xăngxêvêrina, và tôi đem nó đến cho phu nhân đây.

    Tấm lòng thành khẩn xả thân của một kẻ cướp và một người điên rồ đó làm cho nữ công tước xúc động thắm thiết. Bà nói chuyện lâu với con người được coi là nhà thơ lớn nhất ở Bắc Ý đó, và khóc cũng lắm. “Người này hiểu lòng ta” bà nghĩ thầm. Ngày hôm sau, anh trở lại cũng vào giờ đọc kinh Chào đức mẹ[2] cải trang làm gia nhân, mặc đồng phục người nhà nữ công tước.

    - Tôi không rời khỏi Pácmơ; tôi nghe nói đến một chuyện ghê tởm mà miệng tôi không buồn lặp lại. Nhưng tôi đã đến đây. Phu nhân hãy nghĩ lại đi, từ chối thì phí. Sinh vật đứng trước mặt phu nhân có phải đâu là một con nộm ở chốn triều đình, đây là một con người! Anh quì gối mà nói những lời ấy và nói thiết tha, cho nên có giá trị. Anh nói tiếp: Ngày hôm qua tôi tự bảo; nàng đã khóc trước mặt ta, như vậy hẳn nàng có đỡ khổ đi phần nào.

    - Nhưng thưa ông, ông phải nghĩ đến những hiểm nguy gì đang bao vây ông! Ông sẽ bị bắt ở trong thành phố này mất!

    - Người dân ủy sẽ nói với bà: “Thưa bà, chết sống có nghĩa gì khi nghĩa vụ đã lên tiếng?” Còn con người đáng thương dày vò vì hết say mê đạo đức từ khi nung nấu yêu đương, sẽ nói thêm: “Thưa công tước phu nhân, một con người hào hiệp là Fabrixơ có lẽ sắp bị hại; đừng từ chối một con người hào hiệp khác muốn hiến dâng tính mệnh cho bà! Đây là một tấm thân sắt thép và một tâm hồn chỉ có một nỗi lo sợ trên đời là sợ phật ý phu nhân”.

    - Nếu ông còn nói đến tình cảm của ông với tôi thì tôi sẽ vĩnh viễn cáo từ ông.

    Buổi tối đó, công tước phu nhân có ý muốn báo cho Ferăngtê biết là sẽ trợ cấp cho con anh một khoản tiền nhỏ, nhưng bà sợ anh nghe thấy thế thì chạy đi tự tử mất.

    Ferăngtê vừa ra khỏi, nữ công tước có những linh cảm đen tối; bà tự nhủ; “Ta, ta cũng có thể chết, cầu Chúa cho được như vậy, và nhanh nhanh lên! Giá ta có được một con người xứng đáng với danh hiệu là người để ký thác Fabrixơ tội nghiệp của ta!”

    Bà nảy ra một sáng kiến: bà lấy một tờ giấy dùng cái vốn thuật ngữ luật học ít ỏi của mình viết một văn tự thừa nhận bà có nhận của ông Ferăngtê Panla số tiền hai mươi lăm nghìn frăng với điều kiện nhất thiết là phải trả cho bà Xaraxin và năm người con của bà mỗi năm một khoản thực lợi chung thân là một nghìn năm trăm frăng. Bà viết thêm: “Ngoài ra, tôi lưu tặng cho năm người con của Ferăngtê Panla mỗi người một khoản thực lợi chung thân là ba trăm frăng với điều kiện là y sĩ Ferăngtê phải chăm sóc thuốc men cho cháu tôi là Fabrixơ Đen Đônggô và coi nó như em. Tôi yêu cầu Ferăngtê làm như vậy”. Bà ký tên, đề ngày trước đấy một năm và cất tờ giấy ấy.

    Hai hôm sau, Perăngtê lại xuất hiện. Lúc đó cả thành phố xao xuyến về cái tin Fabrixơ sắp bị hành hình. Cái nghi lễ đen tối ấy sẽ diễn ra ở trong ngục thành hay dưới hàng cây khu công viên? Tối hôm đó nhiều thường dân đi dạo qua trước cổng thành để cố xem thử người ta có dựng đoạn đầu đài hay không: quang cảnh đó khiến Ferăngtê lo ngại. Anh gặp nữ công tước đang đầm đìa nước mắt, và nghẹn ngào không nói nên lời; bà vẫy tay chào anh và chỉ cho anh một chiếc ghế. Cải trang làm thầy dòng Capuyxanh, hôm đó trông Ferăngtê rất oai; anh không ngồi, anh quỳ xuống và lầm rầm cầu nguyện Chúa một cách thành kính. Trong một phút mà nữ công tước có vẻ dịu đi, anh tạm ngừng cầu nguyện, vẫn cứ tư thế cũ mà nói một lần nữa là anh hiến dâng tính mạng.

    - Ông hãy nghĩ lại về điều ông nối đi, bà công tước kêu to, mắt long lên sau khi khóc báo hiệu là cơn tức giận đã vùng lên át sự xúc động trìu mến.

    - Nó hiến dâng tính mệnh nó để trở triệt số phận của Fabrixơ hoặc để báo thù cho anh ấy.

    - Cũng có một dịp nào đó tôi có thể nhận sự cống hiến tính mệnh của ông.

    Công tước phu nhân nhìn Ferăngtê một cách chăm chú và nghiêm nghị. Mắt anh sáng niềm vui mừng. Anh vội vã đứng dậy và đưa hai tay lên trời. Bà công tước đi lấy cái giấy cất giấu ở ngăn kín một cái tủ lớn bằng gỗ hạnh đào. Bà bảo Ferăngtê:

    - Ông đọc đi!

    Đó là cái văn tự lưu tặng tiền cho con anh ta, và chúng tôi đã nói đến. Nước mắt và những cơn nghẹn nấc không để cho Ferăngtê đọc đến đoạn cuối: anh sụp quì xuống.

    - Ông trả lại cái giấy cho tôi, bà công tước nói, và lấy tờ giấy đưa vào ngọn nến, đốt ngay dưới mắt anh. Bà nói tiếp:

    - Không nên để lộ tên tôi nếu như ông bị bắt và bị xử tử; thật vậy, việc này là việc đứt đầu đối với ông.

    - Tôi biết mà làm thiệt hại được cho tên bạo chúa là chết vui chết sướng. Lại càng vui sướng hơn không biết bao nhiêu vì được chết cho phu nhân! Điều này dứt khoát và thông cảm rồi thì xin phu nhân vui lòng đừng nhắc tới cái chi tiết tiền bạc nữa; nhắc đến sẽ khiến cho tôi cảm thấy có một sự nghi ngờ nhục cho tôi.

    - Nếu ông bị liên lụy thì tôi cũng có thể bị và theo sau tôi là Fabrixơ, bà công tước đáp. Chính vì lý lẽ ấy chứ không phải vì tôi nghi ngờ gì lòng dũng cảm của ông, mà tôi đòi cái người đã đâm thủng quả tim tôi phải đầu độc chứ không phải bị đâm chết. Cũng vì cái lẽ rất quan trọng đối với tôi đó nên tôi truyền lệnh cho ông phải làm đủ mọi cách để thoát nạn.

    - Tôi sẽ thực hiện trung thành, đúng đắn và thận trọng. Thưa phu nhân, tôi dự kiến việc trả thù của tôi sẽ hòa hợp với việc trả thù của phu nhân: mà dù có khác đi thì tôi cũng sẽ thực hiện trung thành, đúng đắn và thận trọng. Tôi có thể thất bại, nhưng tôi nguyện dùng hết sức của một người đàn ông.

    - Vấn đề là ở chỗ đầu độc con người giết hại Fabrixơ.

    - Tôi đã đoán thế. Và từ hai mươi bảy tháng nay sống cuộc đời lang thang kinh khủng, tôi đã nhiều lần nghĩ tới một hành động như thế vì mình.

    - Nếu tôi bị phát hiện và kết tội là đồng lõa, nữ công tước nói tiếp, giọng kiêu hãnh, thì tôi không muốn người ta gán cho cái tiếng đã cám dỗ mê hoặc ông. Tôi ra lệnh cho ông đừng tìm cách giết hại nó trước khi có hiệu lệnh của tôi. Chẳng hạn nó chết lúc này thì có hại cho tôi chứ chẳng có chút ích lợi nào. Cái chết của nó sẽ xảy ra có lẽ sau nhiều tháng nữa, nhưng chắc chắn là nó sẽ phải diễn ra. Tôi muốn nó phải chết bằng thuốc độc và thà là tôi tha cho nó sống, tôi còn thích hơn là thấy nó bị một phát súng. Vì những quyền lợi mà tôi không muốn giải thích cho ông biết, tôi yêu cầu ông phải được sống.

    Perăngtê lấy làm thích thú với cái giọng mệnh lệnh mà công tước phu nhân dùng đối với anh ta. Như chúng tôi đã nói, anh ta gầy guộc một cách dễ sợ nhưng người ta vẫn nhận thấy trong tuổi thanh xuân, anh đã từng là một người rất đẹp trai; và ngày nay anh vẫn tưởng là anh còn như vậy. “Ta điên chăng, anh nghĩ thầm, hay là đúng nàng muốn một ngày kia, sau khi ta đã chứng tỏ lòng hy sinh tận tụy của ta, làm cho ta trở thành người đàn ông hạnh phúc nhất? Mà thực ra, tại sao lại không chứ? Ta không hơn con nộm Moxca bá tước đó hay sao ở con người khi gặp việc thì chẳng giúp được gì cho nàng hết cả, kể cả giúp cho cha Pabrixơ trốn khỏi nhà ngục”.

    Nữ công tước nói tiếp, vẫn cái giọng oai quyền đó:

    - Từ ngày mai, tôi cũng đã có thể muốn cho nó chết, ông biết cái be chứa nước mênh mông ở một góc lâu đài, kề bên cái hốc ẩn náu mà một đôi khi ông dùng. Có một cách bí mật để tháo cả khối nước ấy ra đường phố: ấy đó là cái lệnh báo phải trả thù cho tôi. Nếu ông ở Pácmơ ông sẽ thấy, nếu ông ở rừng ông sẽ nghe nói cái bể chứa nước lớn của lâu đài Xăngxêvêrina bị thủng. Thế là ông phải lập tức hành động, nhưng phải bằng thuốc độc và nhất là phải giữ gìn tính mệnh ông hết sức. Phải làm sao cho không bao giờ có một ai biết là tôi có nhúng tay vào vụ này.

    - Tôi có nói gì cũng thừa, Ferăngtê đáp với một niềm phấn khởi lộ liễu; tôi đã quyết định những phương pháp tôi sẽ sử dụng rồi. Tôi càng căm ghét tên đó hơn trước kia nữa, bởi vì nó còn sống ngày nào thì tôi còn không được tìm gặp phu nhân ngày ấy. Tôi sẽ đợi ám hiệu cái bể thủng đấy ở ngoài đường, Ferăngtê chào đột ngột và đi ra. Bà công tước nhìn anh bước đi.

    Khi anh đã đi qua phòng bên, bà gọi lại.

    - “Ferăngtê! Bà kêu to. Con người tuyệt vời!”

    Anh quay trở lại, có vẻ như lấy làm sốt ruột vì bị giữ lại.

    - Còn các con anh?

    - Thưa phu nhân, chúng sẽ giàu hơn tôi. Có thể phu nhân sẽ chỉ cho chúng một khoản trợ cấp nhỏ.

    - Này, nữ công tước nói và trao cho anh một cái hộp bằng gỗ ôliu, đây là tất cả số kim cương còn lại của tôi, trị giá năm mươi nghìn frăng.

    - Chao ôi, phu nhân! Người làm nhục tôi!... Ferăngtê nói, kèm theo một cử chỉ ghê tởm. Mặt anh biến sắc hoàn toàn.

    - Tôi không bao giờ gặp lại anh trước lúc hành động, cầm đi, tôi muốn thế! Nữ công tước nói với một giọng oai vệ khiến Ferăngtê đâm hoảng. Anh bỏ cái hộp vào túi áo và bước ra.

    Ferăngtê tự tay đóng cửa khi đi ra khỏi phòng. Nữ công tước gọi anh trở lại lần nữa. Ferăngtê trở vào vẻ lo ngại. Nữ công tước đứng ở giữa phòng khách; bà lao vào vòng tay anh. Giây lát sau, Ferăngtê suýt ngất đi vì sung sướng; rồi bà gỡ tay anh ra và đưa mắt chỉ ra phía cửa.

    “Đây là người duy nhất hiểu ta”, bà nghĩ thầm, “Fabrixơ cũng sẽ hành động như thế nếu được nghe ta nói”.

    Trong tính nết của nữ công tước có hai điểm đáng nói: bà đã muốn điều gì một lần thì cứ giữ nguyên điều đó; bà không bao giờ đem ra bán lại cái gì đã quyết định. Về việc này, bà thường lặp lại câu nói của người chồng đầu tiên, tướng Pietranơra đáng mến: “Sao mà hỗn láo với mình đến vậy? Ông nói; tại sao lại tưởng hôm nay ta thông minh hơn cái ngày ta quyết định việc ấy?” Từ lúc này, trong tính tình công tước phu nhân đã có điều ghê gớm ấy, mỗi lần trí bà suy nghĩ, mỗi khi mắt bà trông thấy một điều gì mới, bà đều có cảm giác mình thua kém quận vương, mình yếu hèn và bị lỡm. Theo bà nghĩ thì quận vương đã lừa bà một cách hèn nhát và bá tước Moxca, dù là vô tình, cũng đã tiếp tay cho quận vương bởi cái tâm địa nịnh thần của ông. Từ khi quyết định báo thù, bà có ý thức là mình mạnh, mỗi bước suy nghĩ là một lần đem lại hạnh phúc cho bà. Tôi muốn tin là cái sung sướng phi đạo lý mà người Ý tìm thấy trong sự trả thù do ở sức tưởng tượng mạnh của dân tộc ấy mà ra; người ở các nước khác thực ra không phải tha thứ, họ chỉ quên mà thôi.

    Nữ công tước chỉ gặp lại Panla vào những ngày ở tù cuối cùng của Fabrixơ. Có lẽ người ta đã đoán được, chính anh ta gợi ra cái ý vượt ngục. Ở trong rừng cách Xăcca hai dặm, có một cổ tháp thời trung thế kỷ đổ nát nửa chừng, cao hơn ba mươi thước. Trước khi nói lần thứ hai về việc đi trốn, Ferăngtê khẩn khoản yêu cầu bà công tước phái Luyđôvíc đến đó cùng với mấy người tin cậy, nối thang bậc lên tháp. Trước mắt nữ công tước, Ferăngtê leo thang lên tháp rồi từ tháp tụt xuống chỉ với một sợi dây thắt nút. Anh làm lại cuộc thí nghiệm ba lần rồi giải thích ý kiến của anh. Tám hôm sau, Luyđôvíc cũng muốn từ trên cổ tháp ấy leo xuống với dây thắt nút; lúc đó bà công tước mới thông báo sáng kiến này cho Fabrixơ.

    Trong những ngày cuối cùng trước lúc hành động, mà hành động này có thể đưa người tù đến chỗ chết bằng nhiều cách, công tước phu nhân chỉ tìm được những phút nghỉ ngơi bình tĩnh khi có Ferăngtê ở bên cạnh; lòng dũng cảm của con người ấy truyền điện cho lòng bà. Tuy nhiên, chắc bạn đọc cũng cảm thấy, bà phải giấu diếm sự gần gũi khác thường đó với bá tước. Bà không sợ ông ta phản ứng, bà sợ phải khổ sở về những ý kiến phủ định kia nọ của ông, những ý kiến ấy sẽ khiến bà lo ngại thêm. “Sao? Lấy làm cố vấn tâm phúc một người ai cũng biết là điên và bị án tử hình!” Và bà tự nhủ thêm: “Một người sau này có thể làm những việc kỳ quái nhất!” Ferăngtê ở trong phòng khách của nữ công tước vào lúc bá tước đến thuật cho bà biết cuộc trao đổi ý kiến giữa quận vương và Rátxi. Khi bá tước đi khỏi, phu nhân phải chật vật lắm mới ngăn được Ferăngtê chạy ngay đi thực hiện một ý đồ ghê gớm!

    Anh điên la lớn:

    - Cái thế của tôi bây giờ mạnh rồi! Tôi không còn có gì mơ hồ về tính chất chính đáng của hành động!

    - Nhưng mà trong phút giận dữ tất yếu sẽ xảy ra sau hành động, Fabrixơ sẽ bị giết!

    - Nhưng thế thì Fabrixơ lại phải liều mình leo từ tháp xuống. Việc đó làm được, dễ làm nữa kia, anh nói thêm, nhưng anh thanh niên ấy không có kinh nghiệm.

    Người ta tổ chức lễ cưới của em gái hầu tước Cretxăngzi và chính trong hôn lễ đó nữ công tước gặp Clêlia và nói chuyện với cô không bị những quan sát viên trong đám khách lịch sự kia nghi ngờ gì. Bà công tước tự tay trao cho tiểu thư Clêlia bọc dây trong khi hai người đi thở khí mát ngoài vườn giây lát. Người ta đánh những dây ấy rất cẩn thận, nửa bằng chỉ tơ, nửa bằng sợi gai, có những nút thắt; dây rất mỏng và mềm mại; Luyđôvíc đã thử sức bền chắc của nó và thấy ở đoạn nào nó cũng có thể mang nổi tám tạ mà không dứt. Người ta đã bỏ nén nó thành người gói mang hình dáng một cuốn sách khổ lớn. Clêlia nhận ngay các bó dây và hứa với bà công tước sẽ làm mọi việc con người có thể làm để đem nó lên tháp Fecnezơ.

    - Nhưng tôi e tiểu thư rụt rè nhút nhát. Vả lại, bà công tước nhã nhặn nói thêm, một kẻ xa lạ như vậy có gì đáng cho tiểu thư quan tâm?

    - Ông Đen Đônggô đang trong hoàn cảnh khổ đau, tôi hứa với bà là tôi sẽ làm cho ông ấy được cứu thoát.

    Nhưng công tước phu nhân không tin gì lắm ở sự bình tĩnh nhanh trí của người con gái mới hai mươi tuổi; bà đã bàn những biện pháp đề phòng khác mà bà giữ kín đối với cô con gái quan trấn thủ đó. Người ta đoán quan trấn thủ dĩ nhiên có dự cuộc vui tổ chức nhân dịp lễ thành hôn của em gái hầu tước. Bà công tước nghĩ rằng nếu cho quan trấn thủ một liều thuốc mê mạnh, thoạt đầu người ta có thể tưởng đây là một cơn đau não; và như vậy thì thay vào việc để ông ấy vào trong xe ngựa đưa về ngục thành, người ta có thể khéo léo gợi ý và đạt kết quả đặt ông nằm vào một cái cáng để đưa đi. Tình cờ có một cái cáng ở trong nhà lễ. Ở đấy có những người thông minh mặc áo quần thợ để phục vụ cuộc lễ, trong cảnh ngộ lộn xộn chung, họ sẽ vui lòng tình nguyện khiêng người bệnh cho đến cái lều cao vòi vọi kia. Những người ấy do Luyđôvíc điều khiển; họ mang theo một khối lượng dây khá lớn giấu rất khéo dưới áo. Rõ ràng bà công tước đã hóa nên lẩm cẩm từ khi suy tính thực sự về việc Fabrixơ vượt ngục. Nguy cơ của con người thân thương đó vượt qua sức chịu đựng của lòng bà, nhất là kéo dài lâu quá. Vì quá cẩn thận, bà suýt làm hỏng việc, như chúng ta sẽ thấy. Mọi việc xảy ra như bà dự tính, chỉ có cái khác là hiệu lực của liều thuốc mê quá lớn: mọi người, kể cả thầy thuốc, đều tin là quan trấn thủ xung huyết não thật.

    May sao Clêlia cuống cuồng tuyệt vọng, chẳng mảy may nghi ngờ gì về hành động quá ác của nữ công tước. Chiếc cáng khiêng quan tướng mê man như chết vào thành, gây nên một cảnh náo loạn quá lớn khiến cho Luyđôvíc và người của anh đi lọt không gặp trở ngại gì. Họ chỉ bị khám xét qua loa ở cầu Tên Nô lệ. Đưa quan tướng vào giường xong, họ được mời xuống nhà bếp, ở đấy bọn gia nhân khoản đãi họ tử tế; nhưng sau bữa ăn kéo dài đến gần sáng, người ta cho biết là theo luật lệ nhà tù, họ phải bị nhốt trong những phòng thấp của lâu đài, cửa lại khóa cho đến hết đêm và sáng ra, người trợ tá của quan trấn thủ sẽ giải phóng cho họ.

    Những người này đã tìm được cách giao cho Luyđôvíc những dây họ mang theo, nhưng Luyđôvíc mất nhiều công khó nhọc mà vẫn chưa làm cho Clêlia chú ý trong giây lát. Cuối cùng, khi Clêlia rời phòng này qua một phòng khác, Luyđôvíc nói cho cô biết anh đã đặt những bọc dây ở một xó tăm tối tại phòng khách tầng một. Clêlia giật mình khi nghe thấy sự việc lạ lùng này và tức thời cô có những nghi ngờ kinh khủng. Cô hỏi Luyđôvíc:

    - Anh là ai?

    Nghe câu trả lời mơ hồ của anh ta, cô nói tiếp:

    - Đáng lẽ tôi phải bảo bắt anh ngay. Anh hoặc bọn người của anh đã đầu độc cha tôi!... Hãy thú ngay thứ thuốc độc mà anh cho cha tôi uống là thứ gì, để viên y sĩ của ngục thành cho uống thứ thuốc giải độc thích đáng. Bảo ngay, không thì anh và bọn đồng lõa của anh không ra khỏi ngục thành này đâu, không bao giờ.

    - Tiểu thư không nên hoảng sợ, Luyđôvíc trả lời đĩnh đạc và lễ phép một cách lý tưởng. Chẳng có thuốc độc nào cả; người ta dại dột cho quan tướng uống một liều lôđanrom[3] vá hình như người gia nhân được giao làm điều tội lỗi ấy đã nhỏ quá tay mấy giọt. Chúng tôi rồi sẽ ân hận suốt đời: nhưng tiểu thư có thể tin rằng ơn trời, không có gì nguy hiểm cả: tiểu thư cần báo điều trị cho quan trấn thủ y như là ngài đã lầm, uống lôđanrom quá liều lượng. Tôi trân trọng xin thưa với tiểu thư lần nữa là tên gia nhân phụ trách tội ác này không dùng thuốc độc thực sự như Bacbon, khi hắn định đầu độc ông lớn Fabrixơ. Người ta không có ý định trả thù về nguy cơ đe dọa đức cha Fabrixơ; người ta chỉ giao cho tên gia nhân vụng về đó một cái lọ con đựng chất lôđanrom, tôi thề với tiểu thư như vậy! Nhưng cũng phải yên trí rằng nếu như tôi bị chính thức hỏi cung thì tôi sẽ chối phăng tất cả.

    Vả lại, nếu như tiểu thư nói chuyện lôđanrom hay thuốc độc với bất cứ một người nào, kể cả cha Xêđa tốt bụng, thì là chính tay tiểu thư giết Pabrixơ đó. Vì tiểu thư sẽ làm cho tất cả những dự định vượt ngục đều xếp xó; và tiểu thư biết rõ hơn tôi là không phải với thứ lôđanrom tầm thường ấy mà người ta tính đầu độc ông lớn Fabrixơ; tiểu thư cũng biết rằng một người nào đó đã cho kỳ hạn chỉ một tháng để hoàn thành tội ác ấy, và lệnh ghê gớm kia được nhận lĩnh hơn một tuần qua rồi.

    Bởi thế, nếu tiểu thư cho bắt tôi, hoặc là chỉ cần tiểu thư nói một tiếng với Đông Xêđa hoặc bất cứ một người nào khác, tiểu thư sẽ làm cho tất cả những kế hoạch của chúng tôi phải chậm đi nhiều hơn là một tháng, nhiều lắm, và tôi có nói tự tay tiểu thư giết hại đức cha Fabrixơ cũng là có lý quá.

    Clêlỉa lấy làm kinh hoàng về sự bình tĩnh lạ thường của Luyđôvíc. Cô tự nhủ:

    “Rõ là ta đang hội đàm chính thức với tên đầu độc cha ta, và nó dùng lời lẽ văn hoa trang trọng để nói chuyện với ta! Và chính là tình yêu đã dắt dẫn ta đến những tội ác này!...”

    Dầy vò vì hối hận, cô nói năng khó nhọc lắm. Cô bảo Luyđôvíc:

    - Tôi khóa cửa nhốt anh trong phòng khách này. Rồi tôi chạy đi tìm ông thầy thuốc nói cho ông ta biết chỉ là lôđanrom mà thôi. - Nhưng mà lạy Chúa! Ta sẽ nói là ta tự biết được việc ấy cách thế nào đây? Rồi tôi trở lại giải thoát cho anh. Clêlia vừa đi khỏi, bỗng vụt chạy trở lại bên cửa hỏi:

    - Nhưng Fabrixơ có biết gì vụ lôđanrom này không?

    - Không đâu, trời đất ạ! Thưa cô, nếu ông lớn biết thì khi nào ông lớn đồng ý. Vả lại, nói điều cơ mật này ra cho ông biết có ích lợi gì? Chúng tôi hành động với sự thận trọng nghiêm ngặt nhất. Vấn đề là phải cứu cái mạng đức cha không thì cha sẽ bị đầu độc trong vòng ba tuần tới: lệnh ấy đã truyền ra do một người thường không gặp trở ngại trong mọi ý đồ của mình; và để thưa hết với tiểu thư, người ta bảo rằng chính quan tư khấu Rátxi khủng khiếp đã được cho thi hành mệnh lệnh ấy.

    Clêlia kinh hãi chạy đi. Cô tin hoàn toàn ở lòng trung thực tuyệt đối của Đông Xêđa cho nên sau khi rào đón, cô mạnh dạn nói với ông là người ta chỉ cho quan tướng uống lôđanrom mà thôi chứ không có gì khác. Không đáp, không hỏi gì. Đông Xêđa chạy ngay đi tìm viên y sĩ.

    Clêlia đã giam Luyđôvíc với ý định sẽ chất vấn thêm anh ta, cho nên cô trở lại phòng khách. Anh không còn ở đó nữa, anh đã tìm cách trốn ra được. Cô tiểu thư nhìn thấy trên chiếc bàn còn một túi đầy những đồng xơcanh và một hộp nhỏ đựng mấy thứ thuốc độc, cô rùng mình, thầm nghĩ: “Ai dám nói họ chỉ phục chất lôdanrom cho cha ta mà thôi và bà công tước không có ý định báo thù cái âm mưu của Bacbon?”

    - Lạy Chúa! Cô kêu lên, như thế này là tôi giao thiệp với những kẻ đầu độc cha tôi! Và tôi sẽ để chúng sổng mất! Có lẽ bị khảo đả, tên ấy sẽ thú nhận một thứ gì khác lôđanrom!”

    Clêlia lập tức quì xuống, giàn giụa nước mắt và cầu nguyện Đức Mẹ thiết tha.

    Trong lúc đó, viên y sĩ ngục thành rất ngạc nhiên về cái tin Đông Xêda báo là ông ta chỉ phải đối phó với chất lôđanrom mà thôi; ông cho bệnh nhân uống những thuốc thích hợp làm mất nhanh chóng những triệu chứng đáng lo nhất. Trời bắt đầu sáng thì quan tướng cũng bắt đầu hồi tỉnh. Hành động đầu tiên chứng tỏ ông đã tỉnh là việc ông rầy la mắng nhiếc viên đại tá chỉ huy phó, vì viên này thấy cần ra và đã ra những lệnh thông thường nhất trong khi quan tướng bất tỉnh.

    Rồi ngài nổi lôi đình vì một chị nấu bếp đem xúp cho ngài đã thốt ra cái tiếng xung huyết não.

    - Ta đã đến tuổi xung huyết não à? Quan tướng hét. Chỉ có bọn tử thù của ta là ưa phao truyền những tin đồn như vậy. Vả lại, ta có bị chích huyết đâu, ngay bọn chuyên vu khống cũng đâu dám nói đến chuyện xung huyết não?

    Bận rộn về việc chuẩn bị vượt ngục, Fabrixơ không thể đoán ra những tiếng huyên náo lạ lùng vang dội trong ngục thành khi đưa quan tướng ngắc ngoải về, là tiếng gì. Lúc đầu anh lờ mờ nghĩ có lẽ người ta đã cải xử án anh và họ đến để mang anh đi hành quyết. Sau thấy không ai vào buồng, anh nghĩ rằng Clêlia đã bị phản bội, rằng khi cô trở về ngục thành, người ta đã tịch thu hết những thừng, dây mà chắc là cô mang về theo cô và thế là những dự tính đào tẩu của anh từ nay không thể thực hiện. Hôm sau, vào lúc tờ mờ sáng, anh thấy có một người lạ mặt đi vào buồng anh, lẳng lặng đặt ở đấy một giỏ quả cây. Ở dưới các quả cây có giấu bức thư sau đây:

    “Thấm thía niềm hối hận sâu sắc nhất về một điều mả người ta đã làm, ơn Chúa! Không có sự đồng ý của tôi, - nhưng mà do một ý kiến của tôi đã khiến họ nẩy ra ý định ấy - tôi đã phát thệ với đức Thánh Mẫu là nếu nhờ sự phù hộ linh thiêng của Người mà cha tôi được cứu sống, thì sẽ không bao giờ tôi cải lệnh cha tôi; tôi sẽ kết hôn với hầu tước Cretxăngzi khi nào cha tôi bảo, và tôi sẽ không bao giờ gặp lại anh! Tuy nhiên tôi nghĩ là tôi có bổn phận hoàn thành việc đã bắt đầu. Chủ nhật sau, đi xem lễ về - tôi yêu cầu người ta đưa anh đi lễ đấy (hãy lo chuẩn bị cho linh hồn, anh có thể chết trong cuộc mạo hiểm ấy) - khi đi lễ về, chậm chậm hãy vào buồng, trì hoãn càng lâu càng tốt, anh sẽ tìm thấy những gì cần thiết cho hành vi dự định. Nếu anh chết, tôi sẽ đau buồn lắm! Anh có cho là tôi đã góp sức vào đưa anh đến chỗ chết không? Không phải chính bà công tước đã nói đi nói lại với tôi nhiều là cánh Ravécxi thắng thế là gì? Họ muốn ràng buộc hoàng thân bằng một tội ác chia rẽ vĩnh viễn người với bá tước Moxca. Bà công tước giàn giụa nước mắt thề với tôi là chỉ còn có cách ấy; anh sẽ chết mất nếu anh không làm một cố gắng gì. Tôi không nhìn anh được nữa, tôi có lời nguyền như vậy. Nhưng chủ nhật tới, vào đêm, nếu anh thấy tôi mặc toàn đồ đen đứng ở cửa sổ quen thuộc, thì đó là ám hiệu cho biết là tới hôm sau, tất cả đã được bố trí với khả năng cao nhất của tôi. Quá mười một giờ, cũng có thể đến nửa đêm hoặc một giờ sáng, một chiếc đèn con sẽ xuất hiện ở cửa sổ tôi, đó là phút quyết định: Lúc đó anh khấn vị thánh đỡ đầu của anh, anh mặc quần áo linh mục mà anh đã được cấp, và hành động.

    Chào Fabrixơ, tôi sẽ cầu nguyện và tuôn những dòng lệ cay đắng nhất, anh nên tin như thế, trong khi anh xông pha trong những gian nguy lớn lao dường ấy. Anh chết, tôi cũng không sống nổi... lạy Chúa! Tôi nói vậy? Nhưng nếu anh thành công, tôi không bao giờ gặp lại anh nữa. Chủ nhật, sau buổi xem lễ, anh sẽ tìm thấy trong buồng ngục tiền bạc, thuốc độc, đây, do người phụ nữ ghê gớm ấy gửi đến, người ấy yêu anh cuồng nhiệt và nói với tôi đến ba lần là phải dùng cách nầy thôi. Cầu Chúa và Đức Mẹ phù hộ anh”.

    Fabiô Côngti là một anh chúa ngục luôn luôn lo ngại, luôn luôn khổ sở, lúc nào cũng mơ thấy một tên tù nào đó của mình sổng tù: ai ở trong ngục thành cũng ghét lão. Nhưng tai ương khiến cho tất cả mọi người có những quyết định giống nhau, những người tù tội nghiệp, cả những người bị xiềng xích trong những ngục tối cao một thước, rộng một thước, dài hai thước rưỡi, ở đó họ không đứng cũng không ngồi được, tất cả tù nhân kể cả những người nhốt ngục tối ấy, tôi đã nói, đều có sáng kiến góp tiền cho anh thờ hát một bài Thiên tụng[4] khi họ biết là vị chúa ngục của họ đã thoát nạn. Vài ba người trong số những kẻ khốn khổ đó lại còn làm thơ mừng Fabiô Côngti. Than ôi! Đó là hiệu lực của họa tai trên những con người ấy! Với ai phê phán họ, tôi mong sao cho số phận cũng dun dủi kẻ đó vào trong khám tối cao một thước với hai lạng rưỡi bánh mỗi ngày và nhịn những ngày thứ sáu mỗi tuần để xem sao!

    Clêlia chỉ rời buồng bố khi đi cầu kinh trong nhà nguyện; cô nói quan trấn thủ quyết định chỉ cho phép vui chơi vào ngày chủ nhật. Sáng chủ nhật đó, Fabrixơ đi lễ và dự buổi hát Thiên tụng; buổi tối đốt pháo hoa và trong các phòng thấp của lâu đài, người ta phát cho lính tráng một suất rượu vang gấp bốn suất quan trấn thủ quy định; một bàn tay xa lạ nào không biết lại gửi đến bốn thùng rượu mạnh mà bọn lính chọc thủng tuốt. Bọn lính đang say sưa bỗng hào hiệp nghĩ tới năm bạn đồng ngũ đứng gác ở quanh lâu đài và không dành để cho họ bị thiệt ở vị trí của họ; mỗi khi họ đến chòi canh, một gia nhân tâm đắc mời rượu họ; và không biết bàn tay nào cũng phát một cốc rượu mạnh cho mỗi người lính lĩnh phiên gác vào nửa đêm và những phiên sau, trong đêm: mỗi lần phát rượu mạnh, người ta đều để quên chai lại ở chòi canh (như vụ xét xử về sau đã phát hiện).

    Sự náo loạn kéo dài hơn là Clêlia dự tính và chỉ đến hồi một giờ đêm, Fabrixơ mới bắt đầu phá mái che nắng, trong tám ngày qua, anh đã cưa hai chấn song cửa sổ buồng anh, cái cửa không mở ra phía chuồng chim. Khi phá hủy mái che nắng, anh làm việc hầu như ngay trên đầu bọn lính gác lâu đài, nhưng chúng không nghe thấy gì hết. Fabrixơ đã thắt thêm mấy nút trên cái dây dài vô tận cần thiết để tụt xuống từ độ cao ghê gớm ba mươi sáu sải ấy. Anh buộc chéo dây, qua mình: dây vướng lắm vì khối lượng to quá; các nút thắt không cho phép dây quấn khít với nhau cho nên vòng ngoài cánh thân anh đến những hơn hai gang tay. “Cái trở ngại lớn là ở đây” Fabrixơ tự nhủ.

    Thu xếp tạm xong với dây đó, Fabrixơ lấy cái dây dùng để tụt khoảng cách bảy sải từ cửa sổ anh đến sân thượng của tháp lớn, trên đó lầu quan trấn thủ được xây dựng. Tuy nhiên, dù bọn lính canh có say rượu đến mấy cũng không thể nhằm ngay đầu chúng mà leo xuống, anh leo qua cái cửa sổ thứ hai - như chúng tôi đã nói - mà ra, cái cửa mở ra trên mái một bót lính lớn. Do tính gàn dở thường có ở người bệnh, khi tướng Fabiô Côngti bắt đầu nói được thì ông cho ngay hai trăm lính lên đóng ở cái bót gác cũ đó, cái bót gác bỏ bê từ hai thế kỷ nay. Ông nói người ta dầu độc ông xong, nay lại muốn ám sát ông ngay trên giường và hai trăm lính ấy phải bảo vệ ông. Ta có thể đoán cái biện pháp bất ngờ ếy có tác dụng thế nào đối với tâm hồn Clêlia; cô gái hiếu hạnh cảm thấy mình đã phản bội cha mình quá lắm, một người cha hầu như bị đầu độc và suýt chết vì quyền lợi của một tù nhân mà mình yêu dấu. Cô nhìn thấy mệnh Trời trong việc hai trăm lính kia được đưa lên bót gác. Trời cấm cô không được làm gì thêm nữa, không được giải thoát cho Pabrixơ.

    Tuy nhiên ai ở Pácmơ cũng nói đến cái chết sắp tới của Fabrixơ. Người ta còn bàn luận về vấn đề buồn thảm ấy ở ngay lễ mừng cưới tiểu thư Fiuylia Cretxăngzi. Chỉ vì một chuyện cỏn con như thế, một nhát kiếm vụng về đâm phải một kép hát, mà một công tử vọng tộc như Fabrixơ bị giam cầm chín tháng ròng, mặc dù có sự che chở của quan thủ tướng, thì hẳn là có vấn đề chính trị trong vụ này. Thế thì có lo cho hắn thêm nữa cũng hoài công, người ta nói như vậy; nếu nhà cầm quyền thấy không tiện xử tử nó ở nơi công cộng thì nay mai hắn sẽ chết vì bệnh thôi. Một người thợ khóa gọi đến chứa khóa ở lầu tướng Côngti nói về Fabrixơ như là một tù nhân đã bị thủ tiêu lâu rồi, mà người ta không báo tin vì lý do chính trị. Câu nói của người thợ ấy khiến Clêlia phải nhất quyết.



    Chương thứ hai mươi hai

    Trong ngày hôm đó, Fabrixơ băn khoăn về vài ý nghĩ nghiêm túc và khó chịu, nhưng càng nghe tiếng chuông báo thời giờ nhích dần đến giây phút hành động, anh càng thấy vui vẻ, nhanh nhẹn. Bà công tước viết thư có cho anh biết là khi ra giữa cảnh gió lộng, anh có thể bất ngờ bị khó chịu và vừa ra khỏi ngục, anh có thể không bước đi được; trong trường hợp đó, thà liều để cho bị bắt lại còn hơn là lao từ trên ngọn một tường thành cao sáu mươi thước xuống. “Nếu ta gặp cái tai họa đó, Pabrixơ tự nhủ, thì ta sẽ nằm bao lơn ngủ tiếng đồng hồ rồi ta tiếp tục; bởi vì ta thề với Clêlia rồi, cho nên thà rơi từ trên đầu lũy xuống, cao bao nhiêu cũng mặc, còn hơn là cứ phải ngẫm nghĩ mãi về cái vị bánh mì mà ta ăn. Bị đầu độc thì sắp chết, còn có những đau đớn gớm ghê nào mà con người không phải chịu? Fabiô Côngti không kiểu cách rởm đâu, hắn sẽ cho ta xơi chính cái thứ thạch tín mà hắn dùng để đánh bả chuột trong thành hắn”.

    Vào nửa đêm, một đám sa mù loại dày đặc biệt và trắng, mà sông Pô đôi khi phủ lên hai bờ của nó, trải thảm trên thành phố rồi lan đến sân thượng và các công sự vây quanh tháp lớn của ngục thành. Fabrixơ cho là từ trên bao lơn, người ta không thể nhìn thấy những cây keo nhỏ ở khu vực các mảnh vườn do bọn lính lập dưới chân bức tường thành cao ba mươi sáu sải. Anh nghĩ thầm: “Tuyệt diệu!”

    Quá mười hai giờ rưỡi một tí, ám hiệu cây đèn con xuất hiện ở cửa sổ chuồng chim, Fabrixơ đã sẵn sàng hành động. Anh làm dấu thánh giá, rồi buộc vào thành giường cái dây dùng để leo khoảng cách bảy sải từ cửa sổ xuống sân thượng. Không gặp trở ngại gì, anh xuống đến mái bót gác có hai trăm lính mới đóng từ hôm trước, mà chúng tôi đã nói. Khốn khổ thay đến mười hai giờ bốn lăm, bọn lính vẫn chưa ngủ. Trong khi anh đi rón rén trên mái nhà lợp ngói phong ruột. Fabrixơ nghe chúng nói với nhau là quỉ đang đi trên mái nhà, phải lấy súng thử bắn một phát giết nó. Một vài giọng nói khác bảo ước như vậy là không kính Chúa, mấy người nữa nói nếu bắn một phát súng mà không giết được gì cả, thì quan trấn thủ sẽ bỏ tù cả lũ vì tội cả lũ báo động toàn đội. Cuộc tranh luận hay ho đó làm cho Fabrixơ cố đi nhanh và càng gây tiếng động mạnh hơn. Khi đu lủng lẳng trên dây và tụt qua trước các cửa sổ bót gác, anh thấy các cửa này lỏm chởm những mũi lê, nhưng cũng may vì mái nhà nhô ra nhiều nên anh cách cửa trên một thước rưỡi. Một đôi người thuật chuyện bảo Fabrixơ điên rồ, đã ném cho bọn lính một nắm xơ canh. Điều chắc chắn là anh đá rải nhiều đồng xơ canh trên sàn buồng anh và cũng có vứt một số khác trên sân thượng, trong khi đi từ tháp Fácnezơ đến bao lơn, may chăng làm xao nhãng bọn lính nếu chúng đuổi theo.

    Xuống đên sân thượng, anh thấy mình ở giữa nhiều lính gác, những người này bình thường cứ mươi lăm phút thì hét trọn một câu: Tình hình quanh vị trí tôi đều tốt cả; anh lần đến bao lơn phía tây và tìm tảng đá mới.

    Điều có vẻ khó tin và có thể khiến người ta nghi ngờ sự việc nếu như không được cả một thành phố chứng kiến kết quả, đó là việc những người lính đứng gác dọc theo bao lơn không trông thấy và không tóm được Fabrixơ. Đúng là đám sương mù mà chúng tôi có nói đến đã bắt đầu dâng lên, Fabrixơ về sau nói khi anh đứng ở sân thượng, anh thấy hình như nó đã lên đến nửa thân tháp Fabrixơ. Tuy nhiên màn sương ở đây mỏng, anh vẫn nhìn thấy rõ ràng mấy người lính gác đi lại. Anh nói thêm là như có một sức mạnh dị thường thúc đẩy, anh cả gan đến đứng giữa hai tên lính gác gần nhau. Anh bình tĩnh tháo cuộn dây lớn quấn quanh người và làm rơi nó hai lần, phải mất nhiều thì giờ mới gỡ rối và đặt nó trên bao lơn được. Anh nghe lính nói chuyên rầm rì tứ phía, bụng quyết đâm chết đứa nào xông tới anh. “Tôi chẳng luống cuống tí nào, anh nói tiếp. Tôi cảm thấy như mình đang thực hiện một nghi lễ”.

    Cuối cùng anh buộc cái dây đã được gỡ rối vào một cái lỗ khoét ở bao lơn để thoát nước; anh leo lên bao lơn và nhiệt thành cầu nguyện. Rồi như một anh hùng thời hiệp sĩ, anh nghĩ đến Clêlia một lát. Anh thầm nghĩ: “Mình đã khác biết bao với cái anh chàng Fabrixơ trai lơ và phóng túng khi vào chỗ này chín tháng trước đây!”. Rồi anh bắt đầu tụt từ độ cao lạ lùng ấy xuống. Anh kể là mình hành động như một cái máy, không khác gì leo dây giữa ban ngày trong một vụ đánh cuộc với bạn hữu. Đến quãng giữa, thình lình anh thấy đôi cánh tay rã rời, mất hết sức; anh nhớ như có buông dây ra một thoáng nhưng rồi nắm lại ngay. Có lẽ anh đã níu các bụi cây khi leo dọc theo các bụi đó và nó làm anh xây sát. Từng lúc anh thấy đau nhói giữa hai vai, đau đến nỗi không thở được. Anh bị đu đưa một cách quá khó chịu, cứ từ cái dây bị đưa chập vào các bụi cây. Nhiều con chim khá lớn và chạm vào người anh. Mấy lượt đầu, anh ngỡ là bị đánh trúng bởi những kẻ từ trên thành leo xuống, đi theo đường dây của anh để đuổi bắt anh và anh chuẩn bị chống cự. Cuối cùng anh xuống đến chân tháp


    [1] Nguyên văn La tinh: in petto.

    [2] Nguyên văn A l’ave Maria.

    [3] Laudarum: Thuốc giảm thống, gây mê chế từ thuốc phiện ra.

    [4] Nguyên văn La tinh: Te deum.
  • Chia sẻ trang này