18.vancuong7975(xong)WIKI

24/11/15
18.vancuong7975(xong)WIKI
  • Link docx

    Link pdf

    Francis đã nổi tiếng từ bé. Cậu sẵn sàng tham dự mọi cuộc ẩu đả và đã khiến cảnh sát để ý.

    “Một lần tôi cùng lũ bạn đang đứng ở góc phố Hoboken”, - sau này Sinatra kể lại với các nhà báo. “Tôi diện bộ đồ mới tinh làm cho tất cả phái phát ghen lên. Chúng tôi không làm gì càn quấy cả. Bỗng có hai cảnh sát đi đến và hỏi chúng tôi làm gì ở đó, mặc dù họ quá rõ đây là đường phố của chúng tôi. Các ông mù à, chúng tôi có làm chó gì đâu, tôi phải trả lời và bị họ đánh tới mức bộ đồ mới thấm đầy máu”. Nghe nói lúc đó Sinatra nghiên răng thề trả thù. Có điều chắc chắn là cho đến ngày nay, ông ta vẫn ghét cay ghét đắng cảnh sát. ,

    Giống như mọi người Ý khác, Frankie rất thích hát, hơn nữa cậu lại có một giọng hát du dương tình cảm. Cậu hát khắp nơi, ở nhà, trên đường phố, trong các cuộc hội hè và sau đó, trong một bar nhỏ ven đường ở New Jersey, nơi cậu làm bồi bàn. Ở đó, chỉ huy ban nhạc Harry James Band phát hiện ra năng khiếu của Sinatra và tạo điều kiện cho cậu phát triển. Chính ở nơi đây bắt đầu sự nghiệp choáng ngợp của danh ca Sinatra, thần tượng của các bà, các cô. Cậu có năng khiếu lại đẹp mã, thừa lòng can đảm, dám cãi lộn nhưng cũng biết cách luồn lót. Cậu không mấy quan tâm tới khía cạnh đạo đức các hành động của mình. Mục đích biện minh cho phương tiện mà Frank Sinatra có những đặc tính được người Mỹ đánh giá cao. Cậu được hâm mộ.

    Thời gian này, dàn nhạc Tomay Dorsey đã có tên tuổi và có cả khán giả nữa. Tất nhiên, chàng ca sĩ trẻ đầy hứa hẹn là miếng mồi hấp dẫn đối với bất cứ ông bầu nào. Dorsey tỏ ra khôn ngoan khi đề nghị với Sinatra một hợp đồng có lợi, còn chàng ca sĩ thì phạm sai lầm khi hạ bút ký giao kèo cho nhiều năm. Sau này khi muốn huỷ bỏ cam kết vì các đề nghị khác hấp dẫn hơn, Sinatra vấp phải bức tường không nhân nhượng của Dorsey. Không chịu bó tay, ca sĩ đi tìm bạn đồng minh khả dĩ có thế lôi anh ta ra khỏi cảnh tù túng. Khó có thể tin rằng một ca sĩ lại liên minh với mafia, tuy vậy rõ ràng là hiệp hội tội ác đã giúp đỡ Sinatra. “Bố già” mafia ở New Jersey là Quarico Moretti, biệt hiệu “Willie”, đã giải quyết vấn đề theo cách của mình. Một lần, sau buổi biểu diễn, Moretti chờ Dorsey trong phòng thay đồ, và dưới áp lực của họng súng côn, y đã mua lại bản hợp đồng của Sinatra với giá tượng trưng một đôla. Frankie Sinatra được tự do, song đồng thời ca sĩ lại bị sang tên cho mafia và dù muốn hay không, anh ta cũng đã hợp tác với tổ chức tội ác này suốt đời.

    Ai có quen biết đáng kể, người đó leo cao lên các bậc thang trong xã hội. Trong trường hợp Sinatra, phải nói rằng anh ta đã chạy nước rút lên đỉnh cao chói ngời của sân khấu kịch hát. Nhưng anh ta cũng phải trả giá cho sự giúp đỡ “số mệnh”- đó. Mafia đã sử dụng con bài Sinatra dưới nhiều hình thức. Danh ca nổi tiếng được coi là “người mẫu” quảng cáo dùng để quan hệ với các nhân vật tiếng tăm, để gây ảnh hưởng trong dư luận công chúng. Con tính rất đơn giản: một người Mỹ bình thường, khi nghe hay đọc ở đâu đó rằng thần tượng hát của họ cùng hội cùng thuyền với mafia, sẽ không tin những điều kinh khủng nói về mafia. Anh ta sẽ tự lập luận; nếu mafia kinh tởm như vậy thì đời nào một danh ca nổi tiếng lại đi kết bạn với các “bố già” của nó.

    Một phương pháp sử dụng tên tuổi nổi tiếng nữa cũng không mấy phức tạp. Ai cũng biết Sinatra có thu nhập khổng lồ. Báo chí Mỹ không bao giờ quên ca ngợi ai đó kiếm được nhiều tiền nhanh chóng dễ dàng. Sinatra đã thu về tới nửa triệu mác chỉ sau một đêm biểu diễn ở Tây Đức. Con người giàu có và được trả lương rất hậu này có thể, thậm chí bị bắt buộc, đầu tư kinh doanh, để các tờ bạc không nằm yên một cách biếng nhác. Song không ai biết là Sinatra đầu tư không chỉ tiền của mình, mà cả của găngxtơ Sam Giancans vì những khoản tiền trộm cướp dù sao cũng phải được hợp pháp hóa bằng các giấy tờ tài chính Sinatra còn là chủ nhân khách sạn sang trọng Sands và có cổ phần trong nhiều khách sạn và casino khác ở Las Vegas.

    Khởi nghiệp như một ca sĩ vô danh với 125 đôla mỗi tuần, sau vài năm, Sinatra đã trở thành triệu phú. Dinh thự của ông ta trên bờ biển trông giống như một thành phố lộng lẫy với bến cảng và sân bay riêng cho trực thăng. Trong chiếc Boeing 707 của mình, ông ta có bar, hai buồng ngủ và rạp chiếu phim. Ông ta cũng có địa vị và ảnh hưởng trong công nghiệp điện ảnh Hollywood. Thậm chí còn có ý kiến cho ông ta là một lãnh chủ giấu mặt trong giới phim ảnh, từ trong hậu trường quyết định số phận các diễn viên, ảnh hưởng tới sự nghiệp của các ngôi sao điện ảnh thượng hạng như Clark Cable và Gregory Peck.

    Em chú bác của Sinatra là bác sĩ Thomas Sinatra kết hôn với Phullis, con gái của “bố già” Carlo Gambino hình mẫu của nhân vật chính trong tiểu thuyết lừng danh “Bố già”. Chúng ta biết rằng Frank Sinatra đã tham dự đại hội găngxtơ ở La Habana, rằng ông ta là bạn của Lucky Luciano và Meyer Lansky, về các quan hệ của Sinatra với mafia, ban đầu chỉ là những lời đồn đại, sau đó xuất hiện trên báo chí. Danh ca nổi tiếng bị các thám tử FBI, thậm chí cả ủy ban hạ nghị viện hỏi cung. Chả là khi Lucky Luciano chết bất ngờ, và đến giờ vẫn còn là điều bí ẩn, trên sân bay Napoli, cảnh sát đã tìm thấy trong túi của y một hộp đựng thuốc lá bằng vàng với đề tặng: “To my dear pal Lucky, from his friend Frank Sinatra”(79).

    Găngxtơ Sam Giancana biệt hiệu là “Mommo” thừa hưởng cả gia tài của Al Capone khét tiếng trong khu vực Chicago và chắc chắn là y đã không phụ lòng sư phụ của mình. Y bị tìnhnghi là đã giết hay cho giết 55 người. Khi bị cảnh sát và FBI truy nã, y đã lẩn trốn trong các khách sạn của Sinatra ở Las Vegas, thậm chí sau đó y còn làm giám đốc một khách sạn và Sinatra đã hối lộ nhà chức trách chứ không dám thải hồi Giancana. Hiển nhiên là ông ta không thể tự tiện vì mafia nắm ông ta trong lòng bàn tay. Găngxtơ ủng hộ và bảo vệ Sinatra, song đồng thời cũng tống tiền ông ta. ủy ban điều tra quốc hội Mỹ đã xác minh là Frank Sinatra cho đến tháng tư 1962, đã ký cho anh em găngxtơ Fischetti 71 séc với tổng chi là 38.340 đô la. Khi bị hỏi lý do, Sinatra đã từ chối không trả lời.

    Năm 1972, Frank Sinatra lại được các thám tử FBI đến “thăm”. Một tên đâm chém của mafia là Joseph Barbora biệt hiệu “Nam tước” bị xử và kết án 15 năm tù. Khi bị hỏi cung, tên này đã tiết lộ hậu trường một số phi vụ của Frank Sinatra với bố già mafia ở New Jersey là Patriarca. Đó là những vụ chuyển khoản phi pháp tuy nhiên Patriarca đã phủ nhận lời buộc tội và FBI không có bằng chứng để có thể kết tội hai bạn hàng.

    Frank Sinatra đã đi vào lịch sử Hoa Kỳ như là một danh ca, một ngôi sao điện ảnh với giải “Oscar” cho vai chính trong phim “Mãi mãi từ đây”. Song ít người biết rằng mafia đã gây áp lực bắt đạo diễn trao vai chính cho Sinatra. Lúc đầu khi người đạo diễn ngây thơ từ chối không làm theo ý mafia, một tối ông ta sửng sốt thấy trên giường ngủ của mình chiếc đầu máu me của con ngựa yêu.

    Diễn viên và ca sĩ Sinatra có các quan hệ thế lực. Một trong nhũng bạn thân của ông ta trong giới diễn viên Hollywood, Peter Lawford, là em rể tổng thống tương lai J.F.Kennedy. Khi khởi sự chiến dịch
    vận động tranh cử. Kennedy tiếp nhận sự ủng hộ của Sinatra lừng danh với sự thỏa mãn hiếm có. Một nhân vật nối tiếng như Sinatra quả là cái loa tuyên truyền hạng nhất. Sinatra đặt cược vào Kennedy và đã giúp ông ta với hết sức của mình. Sinatra nghiễm nhiên trở thành ngôi sao trung tâm của chiến dịch tranh cử. Khi Kennedy giành được quyền ứng cử. Sinatra đã tổ chức một buổi lễ với chương trình biểu diễn đặc sắc. Giá vé vào cửa dao động từ 100 đến
    10.000 đô la và ông ta đã nộp tất cả 1,4 triệu đôla thu được vào quỹ bầu cử. Bởi vậy không có gì ngạc nhiên khi Kennedy nhận chức tổng thống, Nhà Trắng bao giờ cũng rộng cửa với Sinatra. Thậm chí còn có nguồn tin cho biết tân tổng thống có hứa dành cho Sinatra một ghế đại sứ quan trọng. Nhưng rồi sự đổ bể của tình bạn, hay đúng hơn là của một vụ hôn phối lý trí đã xảy ra. ,

    Người em trai của Tổng thống là Robent Kennedy, ngay sau khi nhậm chức bộ trưởng tư pháp đã bắt đầu chiến dịch chống tổ chức tội ác ở Hoa Kỳ. Ngày 3-8-1962, giám đốc FBI Hoover nhận được báo cáo của mật vụ FBI mang mật danh LAT - 79. Theo báo cáo này. Frank Sinatra có quan hệ thường xuyên với mười “bố già” mafia thế lực. Các cuộc hội đàm của các sếp mafia bị ghi âm cũng khẳng định sự thật này. Những mối quan hệ mờ ám đã được lôi ra ánh sáng.

    Sinatra là cộng sự viên của bố già mafia Sam Giancana ở Chicago. Họ là chủ nhân của câu lạc bộ lộng lẫy, đắt tiền Cal Neva cho giới quý tộc ở
    Nevada. Chỉ có Sinatra công khai đứng tên vì Sam Gancana có tên trong sổ đen của FBI và không được phép kinh doanh khách sạn. Trường đua ngựa Berkshire bề ngoài là thuộc về Sinatra và diễn viên Hollywood Dean Mantin. Nhưng các ông chủ thật sự của nó là các găngxtơ quyền thế Caetano Luchese và Raymond Patriarca.

    Sinatra còn che chở cho một găngxtơ khác. Chúng ta đã biết rằng ông ta quan hệ với anh em Fischetti, bà con với Al Capone, có phần ăn chia trong các phi vụ mờ ám của chúng. Nhưng đây là luật có đi có lại: khi được giúp đỡ thành công trong một chương trình biểu diễn vô tuyến, Sinatra đã đồng ý cho Joe Fischetti nhận tiền thưởng của “người phát hiện năng khiếu”.

    Liên minh giữa diễn viên và ca sĩ Sinatra, với Tổng thống Kennedy không kéo dài bao nhiêu. Em trai Tổng thống là Robert Kennedy đã có trong tay các tài liệu tai tiếng. Anh em Kennedy không phải hoàn toàn liêm khiết như người ta vẫn viết về họ. Tổng thống Kennedy có tình nhân là Judith Camphell. Chính Frank Sinatra đã xe duyên cho mối tình này. Nhưng cô này đồng thời cũng là tình nhân của “bố già” mafia Sam Giancana và em trai Tổng thống có bằng chứng về vụ này. Tổng thống bị phản bội đem lòng căm ghét mafia và tất cả những ai liên quan tối tổ chức tội ác này, kể cả Frank Sinatra.

    Ngay từ năm 1603 ở đất thánh Jeruzalem đã mọc lên khách sạn “Maria Latina”. Không có gì đáng ngạc nhiên cả. Thời bấy giờ khách hành hương đã qua lại vùng này và được các tu sĩ phục vụ trong vai đầu bếp, hầu bàn và quét dọn. Nhưng rồi trước cổng thành xuất hiện tướng Hakama Biamrillán Bétlem kiểu La Mã. Sau đó, những người thiên chúa giáo xây dựng lại khách sạn. Năm 1913, “giám đốc” khách sạn là Gérard được giáo hoàng đích thân trao văn bản sản nghiệp. Đó là buổi đầu khai sinh của hội hiệp sĩ Malta, một tổ chức kỳ quặc với cương lĩnh không rõ ràng nhưng lại có đặc quyền đặc lợi đáng kể. Đầu thế kỷ này, các “hiệp sĩ" định cư ở các nước châu Âu và cả châu Mỹ, chăm nom các đoàn tàu quân y; ở Praha trong thời kỳ cộng hòa thứ nhất, họ quản lý các xe cứu thương, họ làm việc như những hộ lý và có đại diện ngoại giao ở nhiều quốc gia. Một sứ giả của hội tên là Ivan Markovics, người Hungari. Ông này đi khắp nơi ở châu Âu cũng như châu Mỹ để mộ hội viên.

    Đối với những kẻ giàu có, danh hiệu hiệp sĩ chắc phải rất hấp dẫn. Hội viên được quyền đeo trên cổ chữ thập Malta, ngù kim tuyến vắt qua ngực và trong túi là hộ chiếu bọc da đỏ chi phí cho tất cả các đồ trang điểm đó khoảng 10.000 đô la. Đối với triệu phú, đây là khoản không đáng kể. Đốì với Frank Sinatra cũng vậy.

    Ông ta giàu có, nổi tiếng và được hâm mộ, nhưng chưa được gắn mề đay, không được phong tước quý tộc và cũng không thể có hộ chiếu ngoại giao để khỏi bị những nhân viên hải quan tò mò quấy rầy. Cho nên đã lâu ông ta ao ước trở thành hội viên của cái hội đặc biệt này. Một phần có lẽ cũng để làm tấm bình phong che đậy sự hợp tác của ông ta với mafia. Song cuộc sống sao mà éo le. Đề nghị cho Sinatra nhập hội hiệp sĩ Malta lại do chính mafia, cụ thể là Jimmy Fratianno, một găngxtơ tên tuổi và là một trong các bố già mafia, đưa ra.

    Vào thời gian này, Fratiano là sếp mafia ở Los Angeles và là chiến hữu của các “bố già” ở Cleveland, Chicago và New York. Dưới danh nghĩa thành viên ban quản trị liên hiệp công nghiệp, các sếp găngxtơ đều đặn găp nhau trong các buổi họp định kỳ để giải quyết các vấn đề chung. Tuy nhiên đề nghị Sinatra trở thành hiệp sĩ, Fratianno còn có ý đồ riêng.

    Nhà hát Westchester Premier Theatre có 3500 chỗ ngồi. Các buổi hòa nhạc, biểu diễn của các ca sĩ danh tiếng thường được tổ chức ở đây. Chủ rạp là Tom Marson, song các bố già mafia lại có cổ phần. Thời kỳ này rạp hát đang bị thất thu và Jimmy Fratianno đưa ra sáng kiến để tăng doanh thu. Theo luật có đi có lại, y chuẩn bị một đề nghị với Sinatra, nhưng y tâm lý chờ đến sau lễ phong tước.

    Ivan Mrrkovics là một người oai nghiêm. Giống như hầu hết những kẻ phiêu lưu chuyên nghiệp, ông ta cư xử như các quý tộc Tây Ban Nha. Ông ta mặc trên người bộ lễ phục đắt tiền, đeo dải lụa đỏ ngang ngực và trên nền túi trắng là chữ là thập Malta bằng vàng đính kim cương. Áo khoác bằng tơ đỏ ngang vai và găng tay trắng muốt với chiếc nhẫn giống như một hoàng đế thật sự chứ không phải là một sứ giả đáng ngờ của một hội đáng ngờ.

    Frank Sinatra đến dự lễ phong tước cùng với con gái và số đông bạn bè, Jimmy Frantianno ra đón ông ta tận ngoài cửa. Y ôm hôn Sinatra thắm thiết, sau đó trịnh trọng đưa ông ta tới chỗ Markovics. Ông này giữ trong tay văn bằng được làm từ một thú da quí, trong đó có ghi văn bằng được làm từ ngày tháng năm này, Frank Sinatra trở thành hiệp sĩ Malta và được quyền mang băng đỏ, chữ thập Malta và hộ chiếu bọc da đỏ, đồng thời được sử dụng danh hiệu sir(80) Francis. Ca sĩ hài lòng mỉm cười. Ông ta đã đạt được điều mong muốn. Chỉ có một điều nhỏ làm ông mất vui. Hộ chiếu đỏ không phải hộ chiếu ngoại giao và không bảo đảm đặc quyền ngoại giao, cho nên các nhân viên hải quan vẫn sẽ tiếp tục khám sét hành lý của ông.

    Sau lễ phong tước, sâm banh nổ bôm bốp, rượu tràn cốc, những lời tâng bốc lên chín tầng mây, nhưng đồng thời cũng là sự thực hiện giai đoạn hai kế hoạch của Fratianno. Y kéo sir Francis ra một góc và giải thích tình trạng tài chính khó khăn của hội hiệp sĩ Malta và của cả mafia ở Los Angeles, nơi y làm “bố già”. Các hiệp sĩ và găngxtơ cần nhiều tiền và Sinatra có thể giúp chúng bằng ba bốn buổi trình diễn ở Wesstchester Premier Theatre.

    Sir Francis không thế, và có lẽ ông cũng không muốn, từ chối. Ông ta biết rõ rằng trên thế giới này không có gì cho không cả, và thế là sau vài ngày, ông ta yêu cầu Fratianno giúp đỡ. Andy Celantano, biệt hiệu “Bandzo”, là một trong các vệ sĩ của Sinatra trở chứng gây phiền hà. Hắn chơi cá ngựa nhiều hơn làm việc, cho nên bị Sinatra thải hồi. Bây giờ hắn đến và dọa sẽ kể với các nhà báo về mặt trái của Sinatra. Frantinno gật đầu, Celantano biến mất. Có thể là người ta chỉ đánh hắn một trận nhừ tử để hắn nhận thức được rằng, sếp bao giờ cũng là sếp, là hắn khôn hồn đánh bài chuồn.

    Sir Francis, bạn của tất cả các Tổng thống Mỹ còn sống và là đồng nghiệp Hollywood của diễn viên điện ảnh Ronald Reagan, nhẽ ra phải bị truy tố vì tội trốn thuế và thu nhập phi pháp 50.000 đô la. Nhưng Frankie có những quan hệ thế lực và khá nhiều tiền. Ông ta biết về các nhân vật quan trọng nhiều hơn mức cần thiết.

    Thế là tất cả vẫn giữ nguyên như cũ, Ranh giới giữa cái tốt và cái xấu, cái hợp pháp và phi pháp nhiều khi quá mò, đến mức người ta không phân biệt được. Năm 1972, khi Sinatra, bị đưa ra trước uỷ ban điều tra của hạ nghị viện Mỹ, ông ta phủ nhận tất cả, và người ta cũng không có đủ bằng chứng buộc tội ông.

    LA HABANA
    Khi ngồi trong nhà hàng “The Embers” ở Miami Beach, y cư sử như một công chức nhà băng cần mẫn với thu nhập tương đối. Khi dắt chó đi dạo trong khu phố Herclija ở Tel Aviv, trông y giống như một kẻ hưu trí an phận. Song trong thực tế, Meyer Lansky là một nhân vật chủ chốt trong lịch sử mafia, là người tổ chức giấu mặt mọi phi vụ tài chính quy mô. Y cũng còn là đạo diễn trong hậu trường các sự kiện chính trị, rõ ràng nhất là ở Cuba.

    Hòn đảo mặt trời và các bãi biển trắng với các cô gái xinh đẹp là đất làm ăn lý tưởngcủa mafia. Lansky quyết định mở rộng vương quốc của mình và xây dựng, theo mẫu Las Vegas, trên đất Cuba những casino khổng lồ, khách sạn lộng lẫy và hộp đêm tiện nghi. Nhưng y cần có một chính trị gia Cuba thế lực khả dĩ có thể ủng hộ và tạo điều kiện thực thi có ý đồ mafia. Lansky biết một người như vậy, thậm chí họ còn là bạn thân của nhau. Người đó tên là Batista và sau này đã trở thành tên độc tài khét tiếng. Đầu những năm 50. Batista sống lưu vong ở Florida.

    Năm 1948, ở Cuba có sự thay đổi trong dinh tổng thống. Carloss Frio Socarrás nhậm chức Tổng thống thay cho Ramón Grau San Martin. Sự thay đổi này có lợi cho mafia và Lansky, vì tân tổng thống là bạn của Batista, mà Batista lại là bạn của Lansky khởi sự “chiến dịch La Habana” với sự hào phóng đặc trưng cho những triệu phú dễ dàng kiếm nhiều tiền. Y hối lộ Tổng thống một biệt thự lộng lẫy cực kỳ, trị giá hai triệu đôla, trong khi thu nhập hàng năm của Tổng thống không quá 25.000 đô la. Lansky không đầu tư thiếu tính toán.

    Trước đó, y đã thông báo cho Tổng thống điều kiện của mình: Batista phải được phép trở về Cuba. Chỉ Batista mới có thể bảo đảm cho mafia “khí hậu” thuận lợi để kinh doanh, chỉ Batista mới có khả năng duy trì trật tự trên đảo, và chỉ Batista mới bảo đảm thực hiện phương án quy mô của mafia. Thế là găngxtơ và bố già mafia Meyer Lansky đã tác động vào lịch sử Cuba và ảnh hưởng tới đường lối chính trị tương lai trên đảo.

    Fulgencio Batista y Zaldivar là một trong những tên độc tài nguy hiểm và tệ hại nhất vùng Caribê. Y sinh năm 1901 ở phía đông hòn đảo. Cha y là một thợ cạo lành nghề, còn y thuở thiếu thời đã từng làm thợ nề, thợ may và cũng có lúc cầm rựa chặt mía như một machetero(81) chính cống. Năm 1920 y nhập ngũ, tốt nghiệp trường hạ sĩ quan và trở thành cán bộ tham mưu của bộ tổng hành dinh. Sau đó y được Tổng thống Gerardo Machado chọn làm thư ký riêng. Trong nửa sau của những năm hai mươi, y tham gia tổ chức quân sự tiến hành đảo chính. Ngày 4-9-1933 tên độc tài Machado chạy chốn khỏi đảo, Batista được cử làm thủ tướng chính phủ và tổng chỉ huy quân đội. Từ đó cho đến năm 1939, y là “người hùng” số một và là tên độc tài quyền lực vô hạn ở Cuba. Năm 1940 y được bầu làm Tổng thống. Thắng lợi đã không tái diễn, trong đợt bầu cử năm 1944, y thất bại và đã phải đi cư trú chính trị ở Florida cho đến tận năm 1948. Ở Florida y đã thỏa thuận với mafia và với sự ủng hộ của Meyer Lansky, một lần nữa y dấn thân vào con đường danh vọng.

    Con đường dẫn đến quyền lực của Batista đã lát bằng đô la. Meyer Lansky đã đặt cuộc vào con ngựa của mình bằng cả một gia sản, y làm môi giới, hối lộ bất cứ ai có thể, để tạo ra một không khí chính trị thuận lợi cho Batista. Ban đầu tình hình có vẻ không được như ý, nhưng Lansky vẫn kiên trì đầu tư. Cuối cùng, hoa mắt vì tài khoản kếch xù (có được bởi số tiền hối lộ) trong nhà băng Thụy Sĩ, đến Tổng thống Socarrás phải chạy trốn khỏi đảo và Batista lại chễm chệ trên ngôi độc tài với quyền lực vô biên. Thậm chí năm 1959, bị phong trào cách mạng do Fidel Castro lãnh đạo lật đổ.

    Tình báo Hoa Kỳ đã biết Meyer Lansky từ hậu trường việc chuẩn bị đổ bộ lên đảo Sicilie của Đồng minh Tây phương. Không có tổ chức tình báo nào lại rời mắt khỏi các cộng sự viên khi trước của mình cả, bởi vậy không phải không có lý khi nói rằng, trong khi dọn đường cho Batista trở lại Cuba, Meyer Lansky đã nhận được chỉ thị và hướng dẫn của các ông bạn cũ. Sau này Doe Stacher khẳng định rằng Meyer Lansky đã dự một số cuộc họp với các quan chức chính phủ cao cấp và là người môi giới của Washington với tên độc tài Batista.

    Lansky đã tạo ra một thế đứng thuận lợi. Ngay cả trong chính trị, quy luật có đi có lại cũng được thực hiện. Kinh nghiệm thành công từ Las Vegas tỏ ra vô cùng hữu ích: khách sạn hạng nhất với giá hạ, nhà hàng với các món ăn hảo hạng và phục vụ khỏi chê, hộp đêm cùng với tất cả những gì liên quan tới khái niệm đó, những cuộc biểu diễn của các ngôi sao tên tuổi Hoa Kỳ. Độc tài Batista là một bạn hàng tham lam. Trong quá khứ y đã quen ăn chia với mafia và lúc này y nghiễm nhiên trở thành một cộng sự viên ngầm. Không rõ ai là tác giả của sáng kiến này, chỉ biết người đứng đầu nhà nước và mafia đã thỏa thuận một sự hợp tác hết sức đơn giản: mỗi đô la đầu tư của mafia có một đô la trong ngân sách quốc gia Cu ba đi kèm. Tuy nhiên, thỏa thuận tài chính không dừng lại ở đó. Một quy ước đặc biệt giữa người đứng đầu nhà nước có nghĩa là cả chính phủ Cuba, với đại diện của hiệp hội tội ác được ký kết, đảm bảo, quyền lợi và nghĩa vụ của hai bên hữu quan. Mỗi khách sạn mới, với chi phí xây dựng hơn một triệu đô la, được nghiễm nhiên cấp giấy phép “hành nghề’’ cờ bạc. Khách sạn với casino được giải phóng khỏi nộp thuế. Cộng hòa Cuba còn cam kết cho nhập miễn thuế từ Hoa Kỳ vật liệu xây dựng trang bị bên trong và tiện nghi khách sạn. Các nhân viên khách sạn và casino từ Hợp chủng quốc Hoa Kỳ không phải trả bất cứ thứ thuế nào cả.

    Meyer Lansky hiểu rõ đồng nghiệp của mình. Chúng cần phải hợp pháp hóa hàng triệu đô la, bất minh và Lansky tạo cho chúng cơ hội. Y mời các chiến hữu thân cận đến La Habana, dẫn chúng tham quan khách sạn và casino và cho phép chúng trở thành cổ đông. Thế rồi chiến dịch đổ bộ của mafia Hoa Kỳ lên đảo Cuba được thực thị. Các thành viên hiệp hội tội ác đã nhanh chóng chiếm lĩnh thủ đô La Habana. Quý tử của Lansky Jake đã nghiễm nhiên nhậm chức giám đốc National khách sạn lâu đời nhất, đồng thời y có trách nhiệm trông coi việc nộp tiền lời từ các sòng bạc. Bạn hữu Moe Dalitz bay đến và trở thành chủ nhân một casino lớn. Tuy nhiên găngxtơ Santos Trafficante từ Florida đã không thành công với ý đồ xây dựng casino ở La Habana. Trafficante không được cấp giấy phép, bởi vì Meyer Lansky đã thoả thuận trước với Batista rằng y sẽ đích thân thẩm tra từng người một trong lĩnh vực kinh doanh này.

    Sam Tucker, giám đốc tài năng của Beverly Hills Club ở Los Angeles, cũng chuyển đến La Habana để giúp Lansky và đồng bọn cai quản các sòng bạc, hộp đêm và quán bar. Hiển nhiên là sếp lớn Lansky dành cho mình những phần béo bở nhất.

    Y sở hữu các khách sạn lớn Sevilla Biltmore và Habana, Hilton (ngày nay là Habana Libere), đồng thời y còn bỏ ra 14 triệu đôla đế xây dựng khách sạn khổng lồ Riviera. Tuy vậy, cả trong sổ sách thổ trạch, danh mục sản nghiệp và cả trong các tài khoản ngân hàng, không bao giờ xuất hiện tên Meyer Lansky.

    Cuba những năm đó là của người Mỹ và mafia. Một cầu hàng không đã nối liền đảo mặt trời với Florida cách đó chỉ có 140 cây số. Trên sân bay hiện đại mới xây, máy bay hạ cánh đều đặn, mang theo du khách Mỹ, trong đó có người chỉ đơn thuần đi nghỉ thứ bảy chủ nhật. Đảo mặt trời, một trong, những thiên đường cuối cùng, đã nhanh chóng nhận biệt hiệu “nhà thổ châu Mỹ”.

    Các nhà báo viết tiểu sử Lansky gồm Eisenberg, Dan và Landan có khuynh hướng nhấn mạnh các mặt tốt và hợp pháp, trong việc kinh doanh của y. Thậm chí họ còn đi xa tới mức tuyên bố: bố già mafia là một nhà kinh doanh tài giỏi, có thiện chí giúp đõ nhân dân Cuba và đã giáo dục con đẻ của mình sống lương thiện như công dân kiểu mẫu Hoa Kỳ.

    Bề ngoài có vẻ như thế thật. Con của Lansky là Buddy chỉ làm thường trực hay thậm chí chỉ ngồi trực điện thoại trong các khách sạn của bố ở Las Vegas, ở Flodida hay ở Cu ba. Nhưng đó không phải là sự khiêm tốn, bởi vì hai vị trí trên là các đầu mới thông tin. Người thường trực biết nhân vật nào đang trọ trong khách sạn, quan hệ với ai và tại sao. Nhân viên điện thoại thì có thể nghe trộm, bởi thế người này có một vị trí đặc biệt. Ngay chính tỉ phú Aritlioteles Onassis thuở hàn vi cũng làm nhân viên điện thoại trong một khách sạn sang trọng ở Buenos Aires. Ông này nghe trộm mệnh lệnh các chủ nhà băng cho các nhân viên chứng khoán, theo đó mà đầu cơ, trục lợi và bằng cách đó, có được số vốn ban đầu. Buddy Lansky và anh trai là Jake canh giữ tài sản của bố và báo động cho y biết mới nguy hiểm có thể đe dọa công cuộc kinh doanh: Nhưng chúng đã không tính đến khả năng Cách mạng: và chỉ nghe đến tên Fidel Castro khi mà Cách mạng đã giành được chính quyền trên toàn Cuba. Thế là trong 36 chước, chước chuồn là hơn.

    Batista gói ghém những gì gói ghém được và biến mất. Các thành viên mafia chủ nhân khách sạn và sòng bạc nối gót y, Meyer Lansky rời khỏi đảo bằng một trong những máy bay cuối cùng. Sau này y tuyên bố rằng trong cuộc chạy trốn hỗn loạn khỏi Cuba, y đã để lại La Habana 17 triệu đô la tiền mặt, một phần tiền lời là các sòng bạc. Quả là một điều khó tin. Nếu đúng là y còn tiền mặt thì y vẫn có thể mang theo trong chuyến bay cuối cùng. Con trai y là Jake, giám đốc khách sạn National, vẫn còn ở lại đảo. Một số nữa cũng ở lại để canh giữ của cải mafia. Các nhân viên CIA cũng ở lại.

    Tất nhiên là báo chí Mỹ lợi dụng cơ hội và thổi phồng mất mát của mafia. Xuất hiện các con số, dự đoán của ký giả và những chuyện giật gân bịa đặt. Một trong những tin vịt đó phao đồn rằng ngay sau khi trốn khỏi Cuba. Meyer Lansky đã đến gặp những người quen cũ ở CIA với đề nghị thanh toán Fidel Castro theo bài bản của hãng Murder Inc. Nghe đâu y tin chắc rằng các tay súng nhà nghề của mafia sẽ thừa sức giải quyết lãnh tụ Cách mạng Cuba, cách mạng sẽ tàn lụi sau cái chết của Fidel, độc tài Batista sẽ trở lại ngai vàng và mafia sẽ quay lại với khách sạn và sòng bạc.

    Trước khi tái hiện các sự kiện, thật sự dẫn đến các kế hoạch ám sát Fidel Castro. Lúc bấy giờ, chúng ta hãy chú ý đến một khẳng định nữa của những người viết tiểu sử Lansky. Họ viết rằng ngay từ những ngày đầu tiên của chính phủ Castro. Meyer Lansky đã sử dụng tất cả những ảnh hưởng chính trị của mình hòng “lật đổ chính phủ Castro”. Y đã chọn con đường vòng vèo và vô vọng. Một trong những người được Lansky đặt cá là Richard Nixon. Tổng thống Mỹ sau này. Trong những năm 50, Nixon cũng mò đến Cuba tìm cơ hội làm ăn và trước đó ông ta đã có quan hệ với mafia. Khi còn là luật sư ở California. Nixon đã làm quen với găngxtơ Buges Salvatore. Sau này vệ sĩ của Siegel là Mickey Cohen có khoe khoang đã giúp Nixon vào Nhà Trắng bằng số tiền đóng góp vận động tranh cử.

    Casiuo Sanssouci ở La Habana cũng thuộc về Meyer Lansky. Ở đây đã xảy ra một việc phiền toái đối với nhân vật thứ hai được Meyer Lansky tuyển để lật đổ chính phủ cách mạng Cuba. George Smathers là nghị viện quốc hội Hoa Kỳ, hơn nữa y còn là bạn thân của Nixon. Điều hành casino này là Norman Rothman, một người giàu kinh nghiệm và tin cậy. Nghị sĩ Smathers chơi quá mức cho phép, thua to và không có tiền trả nợ. Theo tiền lệ Rothman, dọa sẽ kiện y. Thế là luật sư và sau này là Tổng thống Nixon phải can thiệp, ông ta gọi điện tới sứ quán Mỹ yêu cầu gây áp lực để giám đốc casino từ bỏ ý đồ kiện cáo. Rothman đành phải “ngậm bồ hòn khen ngọt”. Nghe đâu Smathers trả lời bằng cách thuyết phục bạn thân là Tổng thống Mỹ John F.Kennedy bật đèn xanh cho vụ đổ bộ vũ trang lên Cuba. Nếu như đó là sự thật thì Smathers đã nhọc công vô ích. Ngày nay có quá nhiều tài liệu chứng minh rằng Tổng thống Kennedy không ngồi đợi ai đến thuyết phục cả.

    Đề nghị ám sát Fidel Castro lần đầu tiên được đại tá lính thủy đánh bộ Mỹ Jac Hawkins và nhân viên ĐP (Deputy Directorate for Plans)(82)Jacob Esterline đưa ra. Họ tính đến việc sử dụng dân di tản Cu Ba và tung vào đảo các toán thám báo nhà nghề. Trong vụ đổ bộ lên bãi biển Girón, cách mạng Cuba đã chiến thắng huy hoàng, còn Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, CIA và cá nhân Tổng thống Kennedy đã phải nếm mùi thất bại nhục nhã.
  • Chia sẻ trang này