19.Trang 371-390vancuong7975(lần 2)WIKI

17/11/15
19.Trang 371-390vancuong7975(lần 2)WIKI
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose:
    xe là một môn thế thao xa xỉ, và cần phải có một khoản tài trợ lớn đề có thể duy trì được một chiếc xe đua có tính cạnh tranh cao. Trên đường đua, Earnhardt được mệnh danh là Kẻ hăm dọa, song trong cuộc sống thường nhật, anh lại là một người rất rụt rè. Tuy vậy, anh vẫn hiểu tầm quan trọng của việc tạo dựng hình ảnh bản thân khi đại diện những nhà tài trợ của anh, giao lưu với những người hâm mộ. Anh quyết định thử sức ở cả những lĩnh vực không chuyên để khẳng định bản thân hơn nữa. Trong khi các tay đua NASCAR khác đang phải vất vả tìm nhà tài trợ, thì nỗ lực của Earnhardt trong lĩnh vực tiếp thị, cùng với thành tích đua xe đáng nể của anh và sự gắn bó mật thiết của anh với người hâm mộ đã giúp anh duy trì được mối quan hệ lâu dài với tập đoàn GM Goodwrench.

    Nguyên tắc cuối cùng của anh là làm việc vì tương lai của nghề nghiệp mà anh đã chọn. Thông qua Công ty Dale Eamdardt Inc., anh đã huấn luyện và truyền đạt kỉnh nghiệm cho những tay đua trẻ mới vào nghề để họ có thể trở thành những quán quân trong các giải đua xe. Thậm chí ngay trong phút cuối cùng của cuộc đời, Earhardt vẫn “hỗ trợ” để hai “học trò” của minh là Michael Waltrip và Dale con về đích đầu tiên. Trong một cuộc phỏng vấn gần đây, Steve Park, một tay đua và là thành viên của đội Earnhardt nói: “Anh đã dạy cho chúng tôi tất cả những gì để có thể trở thành nhà vô địch". Qua sự tin tưởng và giúp đỡ của anh đối với những tay đua trẻ, Earnhardt đảm bảo một sự tiếp nối thành công đối với môn thể thao mà anh đam mê.

    Nhìn lại những bước tiếp cận của anh, có thể hiểu được vì sao Dale Earnhardt lại có thể gặt hái được thành công lớn đến thế và làm tăng thêm danh tiếng cho giải NASCAR. Những quan điểm của anh mang tính toàn cầu, vì thế bất kể nghề nghiệp của bạn là gì, 5 nguyên tắc của Earnhardt đều có thể có ích cho thành công của bạn:

    1. Làm việc để nâng cao chuyên môn của mình.

    2. Mỗi ngày làm một việc nhỏ để tích luỹ thành công.

    3. Tập trung vào nhiệm vụ đặt trước mắt.

    4. Tiếp thị hình ảnh hay công việc của bạn ngay cả khi đó không phải là lĩnh vực sở trường.

    5. Chuẩn bị một sự tiếp nối trong công việc hay cuộc sống.

    Dale Earnhardt đã để lại một dấu ấn sâu đậm trong giới đua xe. Anh gây ảnh hường sâu sắc đến những đồng nghiệp của anh cũng như các thế hệ người hâm mộ. Sự cống hiến tận tụy và tấm gương của anh đã góp phần chứng minh rằng đôi khi những gã tốt bụng không mặc đồ trắng - họ lái một chiếc xe ô tô màu đen, và với tốc độ đáng nể.

    Chỉ sau vài thập kỷ nhân loại bước vào cuộc cách mạng thông tin, chúng ta đã nhận ra ngay những cách thức mới nhằm nâng cao sức mạnh, của công nghệ thông tin và máy tính. Một trường hợp đáng lưu ý, đó là mối liên quan giữa phương tiện truyền thông, liên lạc khẩn cấp, giao thông công cộng và công nghệ Internet với những mối lo ngại nảy sinh trong cộng đồng. Brian Roach, một thành viên thuộc Hội Evoỉưe được coi là một chuyên gia về ứng dụng công nghệ để giải quyết các vấn đề trong cộng đồng.

    GẶT HÁI THÀNH CÔNG NHỜ CỘNG ĐỒNG AM HIỂU CÔNG NGHỆ

    BRIAN ROACH

    Thành công đôi khi đến từ những nguồn lực mà ta không mong đợi. Khi chúng ta theo đuổi thành công trên phương diện cá nhân, gia đình hay công việc, chúng ta có thể hưởng lợi ích từ cộng đồng.

    Cộng đồng cung cấp các hệ thống trợ giúp - ví dụ như trao quyền thực thi pháp luật - giúp chúng ta dựa vào đó để đảm bảo sự tồn tại và an toàn. Những thành công hay thất bại của một người nào đó thường chỉ có sức ảnh hưởng nhỏ, chủ yếu đến cá nhân người đó, hoặc cùng lắm là đến các thành viên trong gia đình họ hay một bộ phận những người có mối liên hệ xung quanh. Nhưng thành công hay thất bại của cả cộng đồng sẽ có sức ảnh hưởng đến hàng trăm, hàng nghìn, thậm chí hàng triệu người.

    Các cộng đồng đang ngày càng tăng cường tận dụng thành tựu công nghệ để gặt hái nhiều thành công hơn. Trong khi mỗi chúng ta chia sẻ với nhau những thành công hay một thất bại của cộng đồng, hãy lựa chọn ra một nhóm xã hội để chứng minh luận điểm trên: Việc một cộng đồng sử dụng thành công công nghệ có thể giúp tạo ra sự khác biệt giữa sống và chết khi có thảm hoạ xảy ra.

    Đây là câu chuyện của một người cha - một người thành công trên tất cả các phương diện, từng sống ở gần thị trấn lớn khi có một sự cố xảy ra vào năm 1870. Một hôm ông trở về nhà và thấy vợ mình đang hoảng loạn, nước mắt đầm đìa nói rằng đứa con gái của họ bị mất tích. Thực ra, bà lo lắng vì bà đã thấy hai người đàn ông cưỡi ngựa đi lòng vòng ở xung quanh khu vực thị trấn và bà e chính bọn họ đã bắt cóc con gái mình. Người chồng nghe vậy vội chạy bổ đi tìm ông quận trưởng, ông quận trưởng tỏ ra rất thông cảm và nói có thể điều động ngay lực lượng cảnh sát, nhưng sẽ mất khoảng mấy tiếng để có thể bắt đầu công việc tìm kiếm.

    Năm 1925, một người cha nhận được một cuộc gọi ở văn phòng. Nhân viên điều hành tổng đài nối máy cho ông với người vợ đang hết sức hoảng loạn. Bà nói một người đàn ông đã bắt cóc con gái họ ở ngay hành lang trước nhà và lôi nó vào trong một chiếc xe mui kín màu đen. Bà vừa gọi cho cảnh sát. Và người nhân viên nhận điện thoại nói anh ta sẽ thông báo cho dân cư khu vực quanh đó đặc điểm nhận dạng chiếc xe. Người bố hy vọng nhân viên đó sẽ gặp may mắn và tìm được ra con bé, song ông biết mọi việc sẽ rất khó khăn. Vào những năm 1920, hầu hết các ô tô mui kín đều được sơn màu đen. Và đến khi thông báo được phát đến tất cả các khu vực xung quanh thì hẳn đã là quá muộn để cứu cô bé.

    Đến năm 1996. Một bé gái 9 tuổi xinh xắn tên là Amber Hagerman bị bắt cóc trong khi đang đạp xe trên đường Arlington, bang Texas. Cuối cùng người ta cùng tìm được cô bé, nhưng trong tình trạng bị giết thê thảm. Nhiều người dân quá bức xúc đã đến các trạm phát thanh trong khu vực và yêu cầu rằng trước tình hình trẻ em bị bắt cóc ngày càng gia tăng, các trạm phát thanh cần phải phát sóng rộng rãi những bản tin đặc biệt về các vụ bắt cóc này. Hiệp hội các nhà Quản lý đài phát thanh Dallas-Fort Worth đã quyết định thành lập các cơ quan hành pháp ở khu vực địa phương để xây dựng hệ thống cảnh báo sớm đầu tiên nhằm giúp tìm ra những đứa trẻ bị mất tích.

    Được đặt theo tên một bé gái bị giết, hệ thống cảnh báo AMBER: “Mất tích trẻ em Mỹ: Truyền tin khẩn cấp cung cấp các thông tin kịp thời cho các gia đình khi con em họ bị mất tích cũng như cho cộng đồng quan tâm. Theo Toà án Mỹ, 74 % số trẻ em bị bắt cóc và xác của chúng được tìm thấy là những đứa trẻ chỉ mới bị giết trong vòng 3 giờ tính từ lúc chúng bắt đầu mất tích. Hệ thống cảnh báo AMBER có khả năng thông báo đến cộng đồng chỉ vài phút sau khi có một đứa trẻ bị bắt cóc. Giờ đây, cộng đồng đã có một phương tiện hỗ trợ đắc lực hơn cả lực lượng cảnh sát, tốt hơn điện thoại, và nếu xét về mặt tiến bộ công nghệ thì thậm chí còn tốt hơn cả Radio.

    Tháng 7 năm 2002, một người đàn ông đến gần một cô bé 5 tuổi tên là Samantha Runnion khi em đang ngồi chơi với một người bạn ở gần nhà tại quận Cam, California. Người đàn ông hỏi: “Cháu có nhìn thấy con chó nhỏ của chú đâu không?”. Gã không đợi câu trả lời mà đột nhiên tóm lấy Samathan, kéo em vào trong xe ô tô trong khi em cố giãy giụa và la hét. Sau đó, chiếc xe hoà vào dòng xe cộ trên đường phố.

    Hệ thống AMBER ngay tức khắc phát tin lên sóng radio và ti vi. Đây là một trong 3 trường hợp bang California sử dụng phiên bản của hệ thống trong thời kỳ kiểm định trước khi đưa ra sử dụng trên toàn bang. Ngoài việc thông báo, California còn sử dụng các tín hiệu điện tử dọc các đại lộ trong bang để đưa ra các thông tin mô tả đặc điểm của các loại xe và những trường họp nghi vấn.

    Cuộc săn lùng thủ phạm của vụ bắt cóc đã thể hiện sự thay đổi lớn của người dân California trong việc đoàn kết lại thành một cộng đồng và dùng công nghệ để cùng nhau tìm ra kẻ tội phạm. Do phần lớn những người lái xe đều nghe bản tin từ máy radio trong khi đang lái xe và những bảng thông tin điện tử được đặt ở khắp nơi trên các đường cao tốc của vùng miền Nam bang California nên mọi người đều hi vọng sẽ có ai đó nhìn thấy đứa trẻ, kẻ bắt cóc và phương tiện đi lại của chúng, hoặc nhìn thấy một cái gi đó có thể giúp ích cho cảnh sát tìm ra bé Samantha.

    Cuộc đấu tranh trở nên khó khăn hơn khi sau đó 24 giờ các nhà điều tra thông báo họ phát hiện ra xác một đứa trẻ ở gần Hạt có ngoại hình khá giống Samantha. Hôm sau mọi ngưởi đến nơi để xác thực.

    Hệ thống cảnh báo AMBER vẫn chưa phát huy được tác dụng của nó. Hệ thống này cần kết nối được các cuộc gọi của người dân với hàng trăm chỉ dẫn. thông báo cho cảnh sát. Chỉ trong vài ngày, chính quyền đã bắt được một kẻ tình nghi và các quan chức đã khen ngợi hệ thống này vì đã phát huy tính hiệu quả.

    Hệ thống AMBER đã giúp ngăn chặn được hai tình huống xấu nhất suýt nữa đã xảy đến với hai đứa trẻ khác trong thời kỳ thử nghiệm chương trình ở California. Ở trường hợp thứ nhất, đứa bé đã được cứu sống an toàn ở Mexico. Trường hợp thứ hai xảy đến với hai cô bé ở nam California bị một kẻ vừa mãn hạn tù vì tội hiếp dâm bắt cóc. Chiếc xe mà tên tội phạm lái chỉ sau vài giờ đã bị cảnh sát phát hiện, các nhà điều tra cuối cũng cũng giải cứu được hai cô bé.

    Bang Caliomia đã mở rộng chương trinh Báo động AMBER từ giai đoạn thử nghiệm sang giai đoạn đưa vào sử dụng trên khắp bang. Tháng 10 năm 2002, luật sư trưởng Hội đồng Tuần tra Đường Cao tốc California D.o. Spike Helmick, ông Bill Lockyer và chủ tịch Hiệp hội Truyền phát thanh California, ông stan statham công bố những thông tin chi tiết về tài liệu hướng dẫn sử dụng hệ thống AMBER để giúp các cộng đồng khác có thể tự mình thiết lập và tiến hành các chương trình Báo động AMBER trong khu vực của họ.

    Công nghệ vẫn đang trên con đường phát triển, đổi mới, và giúp con người đạt được những điều kỳ diệu. Công nghệ giúp đưa mọi thứ đi xa hơn. nhanh hơn, giúp liên lạc thuận tiện hiệu quả hơn, góp phần tạo ra những thay đổi và bước nhảy vọt trong cách con người giải quyết các vấn đề xã hội. Cách ứng dụng công nghệ một cách đơn giản nhưng hiệu quả trong hệ thống cảnh báo AMBER đã giúp cộng đồng đoàn kết chặt chẽ với nhau hơn, cùng cảnh giác để bảo vệ con em họ không lập lại số phận đáng thương như Amber Hagerman và Samantha Runnion. Và ngay cả khi điều tồi tệ nhất xảy ra, tập thể công lý này ít nhất vẫn có thể giúp truy bắt được kẻ tội phạm để chúng không thể làm hại thêm những đứa trẻ khác.

    Đối với những người đang học hỏi để đạt được thành công, có thể thấy rằng việc cộng đồng sử dụng công nghệ (trong đó hệ thống Cảnh báo AMBER là một minh chứng) đã cho ta một bài học đáng giá. Khi chúng ta xem xét những viên gạch để xây dựng nên thành công - “Lòng nhiệt tình? Xem lại. Tầm nhìn? Xem lại. Hệ thống? Xem lại. Mục tiêu rõ ràng? Xem lại” - chúng ta nên áp dụng những công nghệ tốt nhất có thể, và sau đó phải phát huy tối đa công nghệ đó với tất cả những giá trị của nó.

    Cho dù người ta vẫn đang tiếp tục tranh cãi về những điều xung quanh vũ trụ, xem ra thời đại vũ trụ vẫn chưa thực sự đến và đạt những thành tựu ngoài trái đất cũng như những hi sinh của các nhà khoa học, nhà kỹ thuật và thiên văn học trong suốt hơn một thập kỷ qua hẳn sẽ tạo lập bước khởi đầu cho những cuộc phiêu lưu mới của con người. Thành công sẽ được đo bằng mức độ phổ biến của du lịch trong không gian Buzz Aldrrin, một trong hai người đầu tiên đã có cơ hội được đặt chân và đi trênMặt trăng, nói về tương lai rộng mở của ngành du lịch hàng không với Elizabeth Misner, một cây bút chuyên viết về kinh doanh ở Los Angeles.


    HẸN GẶP BẠN TRONG KHÔNG GIAN

    BUZZ ALDRIN VÀ ELIZABETH MISNER

    Những hình ảnh của ngày hôm đó lúc nào cũng như cháy rực trong tâm trí tôi: cảnh hiu quạnh trên bề mặt của Mặt trăng, và nhìn từ đây Trái đất như bông hoa của vũ trụ, trôi lơ lửng phía chân trời. Đó là những hình ảnh rất rõ ràng, sắc nét, và rộng mênh mông không biên giới. Ta không thể diễn tả được hết vẻ đẹp đó trong bất kỳ bộ phim nào.

    Mọi người thường hỏi tôi cảm giác như thế nào khi “ở ngoài Trái đất”, hay đi bộ trên Mặt trăng. Câu trả lời của tôi là, bất kì ai có cơ hội được lên Mặt trăng thì chắc chắn đó sẽ là kỷ niệm sâu sắc nhất mà họ trải qua trong đời.

    Thực ra, đó là một lần trải nghiệm kỳ thú vòng quanh trái đất trong 90 phút mà tôi lấy làm ngạc nhiên là chỉ có rất ít người được thưởng thức. Tôi thấy điều này thật là sai lầm. Tại sao mọi người lại không có được cơ hội đó? Tôi không muốn dùng thành quả trong chuyến du hành vào không gian để chứng minh cho thành công của mình. Tôi chỉ muốn dùng lần trải nghiệm kỳ thú nhất trong cuộc đời tôi để nó trở thành điểm xuất phát cho thành công của những người khác trong ngành công nghiệp không gian này.

    Suy nghĩ này xuất hiện trong đầu tôi lần đầu tiên cách đây 10 năm, một ý tưởng đã được hình thành và tôi quyết tâm biến ý tưởng đó thành hiện thực. Sẽ phải mất một quá trình để tiếp thị, nhưng tôi biết sẽ có hàng nghìn người sẵn sàng muốn chi ra một số tiền trong tài sản của họ cho một cuộc hành trình bay vào không gian chỉ duy nhất một lần trong đời như thế này. Tôi muốn là thành viên trong một tổ chức có thể biến ý tưởng này thành sự thực.

    Trước tiên, chúng tôi cần phải khích lệ mọi người. Cách đây không lâu, tôi thành lập tổ chức phi chính phủ có tên là ShareSpace để giúp những người bình thường có thêm sự quan tâm và gắn bó hơn với không gian và du lịch không gian.

    ShareSpace mở chương trình xổ số để trao cơ hội cho những ai chiến thắng sẽ được vào thăm các trạm không gian, chứng kiến cảnh tượng phóng tàu con thoi, được trải nghiệm trạng thái bay lơ lửng không trọng lượng và sau đó là, theo như lời hi vọng, họ sẽ được bay vòng quanh quỹ đạo Trái đất.

    Tôi mong muốn mọi người sẽ quan tâm đến điều này và nhận ra được rằng du lịch vũ trụ không chỉ là giấc mơ của một số người mà là cơ hội của tất cả chúng ta - một sự trải nghiệm không chỉ dành cho những người giàu mà cho cả những người có chút may mắn! Với sự sáng tạo và trí tưởng tượng, chúng ta có thể thấy giấc mơ này là hoàn toàn có thật.

    Thám hiểm không gian tốn khá nhiều chi phí, vì thế chúng tôi cần phải mở ra những ý tưởng mới để làm cho hành trình trở nên dễ dàng hơn. Hãy tưởng tượng mỗi khi bạn đi máy bay qua một nước hay qua một vùng biển mà vất bỏ chiếc vỏ của máy bay. Đó cũng là cách chúng tôi định làm để đến được mặt trăng. Chúng tôi bay trong một tên lửa có chân cầm và hạ cánh vào trong một chiếc tàu con thoi có kích thước không lớn hơn một chiếc Volkswagen.

    Đó là lý do vì sao giờ đây tôi đang làm việc với những người khác để thiết kế và tiến hành cái tôi gọi là tên lửa Starbooster. Đó là những bệ phóng tên lửa có khả năng tái sử dụng, làm nhiệm vụ đốt nhiên liệu và được thiết kế với cánh ở hai bên để chúng có thể bay về Trái đất. Tên lửa Starbooster thậm chí có thể được cải tiến để thay thế tàu con thoi của NASA. Nếu tôi không phải là thành viên của trạm Apollo, thì hẳn tôi đã không thể có được năng lực cùng như sự tin tưởng cần thiết để thúc đẩy sự thành công của ngành du lịch không gian vũ trụ trong tầm với của chúng tôi.

    Đó không phải là một câu chuyện khoa học viễn tưởng. Sẽ có một ngày con người sống và làm việc trong vũ trụ. Vấn đề chỉ còn là thời gian.

    Khi những thế hệ tương lai nhìn lại kỉ nguyên của chúng ta, họ sẽ nghĩ chúng ta đã thất bại trong việc nắm bắt ý nghĩa của tương lai hay họ sẽ cảm ơn chúng ta về cách chúng ta vươn tới tương lai và giúp biến giấc mơ thành hiện thực? Với những thành quả mà ngành công nghiệp vũ trụ đạt được, trẻ em của thiên niên kỷ mới sẽ có khả năng bay đến được các hành tinh và Mặt trăng của chúng, và sau đó là vươn tới những vì sao.

    Lần sau khi bạn đứng ngắm Mặt trăng, hãy tưởng tượng thời khắc bạn ở trên bề mặt Mặt trăng và chia sẻ cảm xúc như trong mơ của bạn với tôi và những người khác nữa cũng đang đứng ở trên đó. Chỉ đến khi làm được như vậy chúng tôi mới coi thành công của mình là thực sự có ý nghĩa!

    Trong cuộc sống, những người biết đi lên từ hoàn cảnh khó khăn thường khiến cho người khác rất cảm phục. Tự mình vươn lên, tự khám phá và quyết tâm theo đuổi hoài bão, mục tiêu của mình, ý chí kiên cường vượt qua những trở ngại thách thức có thể đóng vai trò là đòn bẩy nhằm đạt được những mục tiêu không vụ lợi trong cuộc sống. Ron Ham là một nhà tư vấn tiếp thị và là một thương gia ở Scotland, người chuyên giúp đỡ những chủ doanh nghiệp khác mở rộng kiến thức xã hội của họ cũng như các vấn đề mấu chốt. Vợ của Ron, Sue, sẽ tiếp nhận công việc kinh doanh của ông.


    BILLY CASPER: HÃY CHƠI TRÒ CHƠI CỦA CHÍNH BẠN

    RON VÀ SUE HAIN

    Quả bóng chơi gôn bị bật nảy qua đồng. Cậu bé 4 tuổi rưỡi Billy Casper, đứng chân đất trên bãi cỏ xanh trải những hòn sỏi, nhìn quả bóng theo hướng một trong ba cái lỗ mà bố cậu và cậu đã đào một cách thô sơ ở nông trang mà họ đang sinh sống, vùng New Mexico. Cậu nắm chặt chiếc gậy đánh gôn cỡ của người lởn mà bố cậu cho, những con bò đang rống lên như thể chúng đang muốn là những khán giả đứng ở ngoài sân cỏ để xem và cổ vũ. Cậu bé lại chỉnh quả bóng một lần nữa và hướng mắt tới những cái lỗ đánh gôn được đào một cách sơ sài.

    Mặc dù những cái lỗ họ đào để chơi gôn hết sức sơ sài - một cách thể hiện cuộc sống nghèo khổ cơ cực của những người nông dân chân lấm tay bùn, song họ vẫn mỉm cười khi thấy đứa con tài năng đi chân đất của mình đang đẩy bóng vào hết lỗ này đến lỗ khác. Họ không ngăn cản trò chơi yêu thích của Bỉlly, vì thế cậu bé vẫn tiếp tục đam mê trò chơi của mình ngay cả sau khi gia đình cậu chuyển đến vùng San Diego vài năm sau đó để tìm việc làm. Ở đó có những đồng cỏ thực sự để chơi gôn, và cậu bé vẫn tiếp tục chơi trò chơi này.

    Khi Billy bắt đầu cao hơn chiếc gậy đánh gôn thì bố mẹ cậu ly thân. Khi cậu bước vào tuổi dậy thì, bố mẹ cậu ly dị và bỏ đi. Casper bị bỏ mặc và để kiếm miếng cơm, suốt những năm học trung học, cậu phải đi làm người nhặt bóng cho những người chơi gôn.

    Gia đình tan vỡ khiến cuộc đời cậu trở nên đáng buồn, song trường phổ thông đã trao cho Casper hai món quà giúp cuộc đời cậu rẽ sang một hướng tốt đẹp hơn. Cậu gặp gỡ và hẹn hò với một cô bạn mà sau này chính là vợ cậu và một người bạn tri âm tri kỉ, Shirley, cũng có hoàn cảnh gia đình giống cậu. Và lúc đó Casper nhận thấy mình có thể làm giàu với môn thể thao này.

    Sự nghiệp của anh trên thảm cỏ xanh bắt đầu khi anh được nhận học bổng cho môn gôn ở trường Đại học Notre Dame. Tuy nhiên cuộc chiến trên bán đảo Triều Tiên đã làm gián đoạn các kế hoạch của Casper, vì anh bị gọi đi lính phục vụ lực lượng hải quân trong 4 năm.

    Casper được trợ cấp thêm trong khoản lương lính hải quân còm cõi của anh nhờ việc dạy các sỹ quan chơi gôn và làm nhiệm vụ quản lý khu vực chơi gôn trong vùng. Anh và Shirley sau đó cưới nhau và sinh đứa con đầu lòng tên là Linda.

    Sau thời gian phục vụ trong Hải quân, Billy tham gia tranh giải vô địch gôn hạng thấp nhất ở miền nam California. Anh và Shirley nhanh chóng nhận ra rằng anh nên tham gia giải thi đấu gôn quốc gia với tư cách là một người chơi gôn chuyên nghiệp. Là một vận động viên chuyên nghiệp, anh sẽ không phải trả phí dùng sân chơi - một lợi ích không nhỏ cho một gia đình bé nhỏ đang muốn tìm kiếm cơ hội vươn lên.

    Được hai doanh nhân trong vùng tài trợ, nhà Casper được chuyển đến một khu nhà mới. Chặng dừng đầu tiên: Portland, Oregon, nơi sự xuất hiện của Casper với tư cách là một tay chơi gôn chuyên nghiệp giúp anh kiếm được 33,33 đô la.

    Casper và gia đình của anh tiếp tục tạo thêm tiếng tăm ở khu vực quanh họ đang sống trong một vài năm tiếp theo. Họ đã có cuộc sống rất vui vẻ và chuẩn bị cho giải vô địch sắp sửa diễn ra. Anh không bao giờ quên rằng môn chơi gôn là nguồn sống của cả gia đình anh.

    Trong khi những đối thủ của anh phần lớn là những kẻ kênh kiệu khoa trương, Casper vẫn nghiêm khắc tập luyện và xem xét chính bản thân mình. Anh kết họp tài năng sẵn có của mình với sự luyện tập cao độ “phải luôn nghĩ đến giải đấu này" - ngày nay phương pháp đó được biết đến với tên gọi hình ảnh hoá.

    Mục tiêu của anh hết sức giản dị: giành chiến thắng để có một số tiền đủ duy trì cuộc sống gia đình. Anh tập trung vào một loạt các mục tiêu nhằm giúp anh dần đạt được những thành công lớn hơn. Đầu tiên là giải vô địch đầu tiên PGA của anh, sau đó sẽ là giải Mỹ mở rộng. Casper hiểu rằng anh đã phải trải qua từng bài kiểm tra nhỏ một trước khi đến những bài kiểm tra tiếp theo với mức độ khó hơn.

    Lần lượt, anh đều đạt được những mục tiêu mà mình đề ra. Chiến thắng đầu tiên của anh là ở giải Labatt mở rộng năm 1958, lúc đó anh đã hoàn thành mục tiêu thứ 57 của mình trong tổng số 58 mục tiêu anh đề ra. Và sau đó là chiến thắng ở giải Mỹ mở rộng năm 1959.

    Đột nhiên, anh gặp phải một vấn đề mà anh không ngờ tới. Đó là anh đã hoàn thành tất cả các mục tiêu mình đã liệt kê ra. Anh “đã thành công”, còn giờ thì sao?

    Casper đã học được một bài học vô cùng giá trị: tình thế nguy hiểm nhất bạn gặp phải trong cuộc đời là khi bạn hoàn thành được mục tiêu của mình. Cần phải đánh giá lại bản thân và đề ra mục tiêu tiếp theo cho mình.

    Mục tiêu tiếp theo của anh trở thành chiếc Chén Thánh: chiến thắng tại giải vô địch Golf Master ở Augusta, Georgia. Anh và Shirley lúc đó cũng muốn có thêm một đứa con nữa, lúc đó Linda đã có 2 em trai là Billy Jr. và Bobby.

    Tham vọng thành công trong cả hai việc khó khăn hơn hai người tưởng.

    Năm 1963, Casper bị trật cơ bàn tay trong trận đấu ác liệt với Jack Nicklaus. Các chuyên gia nói họ thực sự bó tay. Và vì các tổn thương về tim, anh và Shirley không thể có con thêm được nữa.

    Họ đối mặt với sự thất bại này bằng cách cùng chia sẻ sự quan tâm đến gia đình và thể hiện niềm tin sâu sắc vào tôn giáo. Nhà Casper đã nhận nuôi 6 đứa con, tất cả đều là những trẻ em nghèo túng.

    Họ cũng học được một bài học cho thành công khác: đừng bao giờ đốt cháy những cây cầu của bạn, bởi vì bạn sẽ không biết bạn sẽ nhận được sự giúp đỡ từ đâu. Một trong những đứa trẻ họ nhận nuôi hay chơi gôn với một người biết nắn xương. Người này đồng ý giúp chữa trị bàn tay cho Casper.

    Casper đã phải trải qua một cuộc điều trị dài và đau đớn với rất nhiều bài luyện tập rèn luyện sức cơ tay. Cuối cùng, anh đã kịp trở lại tham gia giải vô địch.

    Số phận như thể muốn nói với anh “Không nhanh như thế đâu”. Ngay khi anh bắt đầu hồi phục phong độ và lấy
    lại tự tin, anh lại phải chịu thêm một chấn thương nữa về cơ, lần này là ở lưng, và lại phải chịu đựng những cơn đau đớn không kể xiết.

    Cuối cùng, sau một thời gian, anh cũng hồi phục cả sức khỏe lẫn sự dẻo dai. Casper nhanh chóng quay lại thi đấu và trở thành nhà vô địch Ryder Cup ở Scotland sau 3 vòng đấu. Và, như thể được thưởng vì những nỗ lực, lòng kiên trì và thái độ sống tích cực của mình, anh và Shirley có thêm hai đứa con nữa.

    Casper đã thể hiện được sự khiêm tốn cũng như tinh thần quyết tâm thi đấu thành công ở giải Mỹ mở rộng vào tháng 6 nãm 1966, một năm sau khi anh hồi phục những chấn thương ở lưng. Phải thi đấu với Arnold Palmer để đoạt vị trí quán quân ở vòng đấu cuối cùng - với rất nhiều fan ủng hộ “Arnie’s Army” - người anh hùng của họ - Casper đặt cho mình một mục tiêu hết sức khiêm tốn: tỏ ra không quá khiêm tốn. Anh cảm thấy, dùng đúng từ của anh là, “một gã bị đánh bại một cách tuyệt vọng”.

    Đó là một trận thi đấu giúp anh trở thành huyền thoại. Anh đánh nhẹ quả bóng qua lỗ thứ 13, sau đó quả bóng lăn nhẹ đến. gần vị trí của Palmer ở lỗ thứ 15. Bất chợt, nó lại lăn xuống vị trí thứ ba. Khi Casper đứng ở vị trí thứ 16, lúc đó anh dám chắc mình có thể thắng. Chất Adrenaline trong anh tăng mạnh làm anh vô cùng phấn chấn, anh có cảm giác vô cùng hồi hộp không thể tin nổi, anh nghe thấy tiếng nói nhỏ trong đầu đang thúc giục anh, ‘Tiếp đi, tiếp đi nào! Đây không phải lúc để hèn nhát!”. Anh đi lùi lại phía sau quả bóng để chỉnh lại trọng tâm. Anh nói với mình “Hãy cứ chơi như mọi khi, hãy chơi trò chơi của chính mình”. Anh chỉnh bóng và sau đó hất nhẹ làm nó lăn xuống đường bóng.

    Cú đánh của Palmer làm bóng lao vào một cành cây và lăn xuống đường bóng 18 mét khiến cho anh thực sự gặp rắc rối. Casper dễ dàng gạt hai đường bóng cách anh 4 mét và sau đó chậm rãi cho bóng lăn vào đúng lỗ gôn. Palmer không thể nào lấy lại được phong độ từ cú đánh gôn của Casper, và Casper càng ngày càng đến gần với chức vô địch hơn và trúng được 18 quả vào 16 gôn trong ngày hôm sau. Tổng cộng anh đạt được số điểm 69 so với Palmer là 73.

    Đến lượt sân thứ 18, anh đã giành được vinh quang, Casper đã có thể giơ tay vẫy chào trong tiếng hò reo của mọi người. Anh đã có thể hét lên ‘Ta là kẻ mạnh nhất!". Tuy nhiên thay vì làm những điều đó, anh chỉ lao tới bắt tay từng người một, và anh đến ôm người đối thủ tài ba không kém mình, nói rất nhẹ nhàng ‘Tôi rất tiếc, Arnold!”

    Casper lại tiếp tục thành công trong giải Golf Master ở Augusta năm 1970. Anh đã giành được vinh quang ấy với niềm tin vào “cảm giác bên trong” của anh và bằng cách bám vào trò chơi quen thuộc của mình.

    Bên cạnh những giá trị gia đình, lòng khiêm tốn, và niềm tin không lay chuyển vào sức mạnh của sự suy nghĩ tích cực mà anh chia sẻ với Shirley, Casper đã có được một “bí quyết thành công” khác - đó là chế độ ăn uống khác thường của anh. Anh duy trì một chế độ ăn cực kỳ nghiêm ngặt, anh chỉ ăn thịt trâu, vì vậy mà mọi người thường gọi anh với biệt danh là Bill Trâu.

    Trong sự nghiệp huy hoàng của mình, Casper tổng cộng đã giành được 60 chức vô địch chuyên nghiệp, 51 giải trong số đó là giải PGA. Anh được bình chọn là Vận động viên PGA của năm trong hai năm 1966 và 1970. Anh cũng 8 lần được chọn làm thành viên trong Đội Ryder Cup của Mỹ và được làm đội trưởng trong năm 1979. Anh đã 5 lần đoạt cúp Vardon - chiếc cúp trao hàng năm cho những người chơi gôn chuyên nghiệp giành chiến thắng ở giải PGA với tỉ số thấp nhất. Casper được mời tham dự Hội Những người chơi gôn nổi tiếng thế giới vào năm 1978 và Hội những người chơi gôn nổi tiếng PGA vào năm 1982. Anh được phong 9 danh hiệu trong giải PGA siêu hạng.

    Casper tin rằng tài năng không đến với anh một cách vô tình mà là nhờ vào mọi người. Những thành quả mà anh đạt được trong thể thao đã tạo ra và liên hệ được với cái anh gọi là “một gia đình nhiều thế hệ đáng kinh ngạc” trên khắp thế giới, từ các tổng thống và giới quý tộc đến những đứa trẻ của những gia đình nghèo khổ nhất. Tạp chí Golfweek đã công nhận anh là “Người Cha của Năm” trong năm 1996. Năm 2001, anh trở thành người Mỹ duy nhất vinh dự được hoàng gia Ma-rốc trao tước hiệu hiệp sỹ nhân kỷ niệm 30 năm tình bạn giữa anh và vua Hussan.

    Luôn luôn nhớ về khởi nguồn giản dị của mình, đứa trẻ từng chạy chân đất khắp đồng cỏ để đưa hết quả bóng này đến quả bóng khác vào những cái lỗ nhỏ mà người bố đào cho đã quyết định thành lập Trại hè chơi gôn dành cho Thiếu nhi mà sau này được biết đến là giải Billy’Kids. Và thông qua Quỹ dành cho Người trẻ tuổi của Billy

    Casper, anh và Shirley đã quyên được hàng triệu đô la cho những trẻ em nghèo, bị ốm đau hoặc có hoàn cảnh khó khăn trên khắp thế giới.
    Sau khi tham gia vào tất cả các giải đấu với đủ loại địa hình trong suốt năm thập kỷ với tư cách là một tay chơi chuyên nghiệp, Casper quyết định dùng kinh nghiệm của mình để tư vấn các công ty phát triển và quản lí các khóa học về chơi gôn. ông đóng vai trò cố vấn cao cấp của Công ty Billy Casper Golf. Như lời công ty giải thích, "Sự ảnh hưởng của ông đến việc quản lý các cơ sở hạ tầng của BCG cũng đồng hành với cách mà ông điều khiển chính mình - quan tâm đến tất cả - tất cả vì sự quan tâm”.

    Sự quan tâm của Billy Casper có thể thấy rõ trong cuộc sống của ông với Shirley. Sự theo đuổi môn gôn suốt cả cuộc đời của ông thực sự là một phần của giấc mơ mà gia đình ông nguyện cùng chia sẻ với ông ngay từ đầu. Họ tìm thấy ở nhau tình yêu thương, sự yên ổn và cùng hỗ trợ nhau đạt được một cuộc sống cân bằng kỳ diệu.

    Chăm sóc gia đình không làm mất thời gian của Casper mà thậm chí nó còn giúp xác định Casper là ai. Người đàn ông này được vợ và các con ở bên và động viên, thành công không phải là khái niệm mơ hồ trừu tượng, cũng không phải là nhu cầu phải cân bằng cuộc sống gia đình và công việc. Billy và Shirley đều nhận thấy rằng sự theo đuổi nghiệp chơi gôn của ông sẽ giúp thúc đẩy, và đồng thời là được thúc đẩy bởi cuộc sống gia đình hạnh phúc của ông.
  • Chia sẻ trang này