19.vancuong7975(xong)WIKI

24/11/15
19.vancuong7975(xong)WIKI
  • Link docx

    Link pdf

    PHƯƠNG ÁN MONGOOSE
    Mongoose là tên một loại cầy nhỏ nhưng vô cùng nhanh nhẹn, nó có khả năng thắng được cả rắn độc lớn. Có lẽ vì vậy mà các nhân viên mật mã Cục tình báo trung ương CIA đã lấy tên nó làm mật danh cho phương án ám sát Fidel Castro. Ở Ấn Độ, người ta nuôi mongoose trong nhà để phòng rắn độc, những người làm xiếc thường có mongoose bên cạnh khi làm trò biểu diễn với rắn hổ mang và mai gầm. Con vật bốn chân này lanh lợi và thông minh hơn đối thủ rắn, nó có thể xoay chuyển mọi tình huống. Tuy nhiên, phương án mongoose không thông minh và cũng không thực hiện nổi, cho dù CIA, với sự hợp tác của các chuyên gia sừng sỏ, đã khai thác triệt để mọi khả năng. Họ cũng không ngần ngại sử dụng khả năng cuối cùng, hợp tác với mafia và những tên giết người chuyên nghiệp.

    Lịch sử một trong những chiến dịch nhục nhã nhất, sau bao năm được giữ bí mật cẩn thận, cuối cùng đã được đưa từ bóng tối két sắt hồ sơ lưu trữ ra ánh sáng ban ngày. Dư luận thế giới đã kịch liệt lên án sự tàn bạo và trắng trợn của chiến dịch này.

    Chính phủ Hợp chủng quốc Hoa Kỳ với sự phê chuẩn của các quan chức cao cấp nhất, kể cả tổng thống, đã thực thi đường lối khủng bố các chính trị gia của các nước có chủ quyền không ăn cánh với Mỹ.

    Trong báo chí Mỹ xuất hiện các bài báo lên án các hoạt động bất hợp pháp của CIA và dư luận đòi hỏi sự giải thích. Cuối cùng, không thể lẩn tránh mãi được, chính quyền Washington buộc phải điều tra vụ việc. Tháng 11 năm 1975. uỷ ban đặc biệt thượng nghị viện Hoa Kỳ gồm có đại diện của hai đảng Cộng hòa và Dân chủ, đã phát hành tài liệu về hoạt động của Cục tình báo trung ương CIA. Dưới sự chủ toạ của thượng nghị sĩ Frank Churche, ủy ban điều tra đã đi đến kết luận rằng CIA thật sự có dự án thủ tiêu các nhà lãnh đạo quốc gia nước ngoài với sự đồng ý của các quan chức chính phủ Hoa Kỳ. Các kế hoạch khủng bố này đã trở thành một bộ phận của chính sách đối ngoại USA. Uỷ ban điều tra đã hỏi cung các nhân chứng 60 ngày liền, các lời khai được ghi đầy tám nghìn trang và sau khi nghiên cứu kỹ lưỡng các hoạt động bí mật của CIA từ năm 1959 đến 1972, Ủy ban đã đi đến kết luận rằng Cục tình báo trung ương đã cố gắng thực thi các chiến dịch mật bằng mọi phương tiện.

    Giống như trong các vụ tai tiếng khác, cả trong vụ này các nhà báo đóng một vai trò không nhỏ. Mở đầu, một trong những bình luận viên có tiếng Dreu Pearson nhận được một tin đáng chú ý. Luật sư Edmund Morgan thông báo cho Pearson rằng một thân chủ của ông ta tuyên bố: “Fide Castro âm mưu ám hại Tổng thống John F.Kennedy”. Lúc đầu, nghe đâu Morgan do dự không tiết lộ tên người đưa tin, vì đó là người ủy thác của ông ta, nhưng rồi cuối cùng luật sư đã cho biết tin này được nói ra từ miệng bố già mafia John Roselli. Drew Pearson lập tức đến Washington gặp chánh án tòa án tối cao Hoa Kỳ Earl Warren (nổi tiếng vào thời kỳ sau, khi ông làm chủ tịch ủy ban điều tra vụ ám sát Tổng thống Kennedy), ông này liền liên lạc với sếp tình báo James J.Rowley và yêu cầu thẩm tra vụ việc.

    Rowley đã cố gắng hỏi cung Morgan, nhưng viên luật sư từ chối không khai. Thế là ngày 13-2-1967 Rowley thông báo tình hình cho giám đốc FBI J. Edgar Hoover. Trong khi đó, Drew Pearson quyết định công bố sự thật giật gân. Ngày 3 tháng 3, bài báo, trong đó tác giả nêu lên nghi vấn liên quan đến mục đích vụ ám sát Tổng thống ở Dallas được đăng tải. Nghe đâu em trai Tổng thống quá cố, thượng nghị sĩ và là bộ trưởng tư pháp, có thể đã chuẩn y việc thực thi vụ ám sát (trong bài báo không nói rõ là ám sát ai), song kế hoạch không thành và mưu đồ “đã vòng trở lại giống như bumerang(83) và trúng phải anh trai”.

    Tổng thống Johnson và Robert Kennedy liền ra lệnh cho giám đốc FBI Hoover điều tra vụ án. Ngày 20 tháng 3, hai thám tử FBI đến văn phòng luật sư Morgan để thẩm vấn Morgan từ chối không nêu tên thân chủ nhưng lại tuyên bố rằng thông tin của thân chủ gồm có hai phần: kế hoạch sát hại Kennedy của Castro và sự tham gia của thân chủ trong chiến dịch của CIA với mục đích ám hại Fidel Castro. Tuyên bố này quả là hòn đá cuối cùng gây nên vụ lở tuyết dư luận. Ngay cả đối với các thám tử “chi” FBI, đây cũng là tin sét đánh. Họ khẩn trương ngày đêm lần theo dấu vết các nghi vấn khác và ngày 22 tháng 3. Tổng thống Johnson đã nhận được báo cáo về yụ luật sư Morgan và cả về hoạt động đáng ngờ của CIA. FBI thông báo cho Tổng thống biết rằng thực sự tồn tại phương án của CIA và mafia Hoa Kỳ nhằm sát hại Fidel Castro.

    Vẫn ngày hôm ấy, khi Tổng thống Johnson đã đọc xong báo cáo của FBI với nghi vấn CIA dàn dựng các vụ ám sát chính trị gia nước ngoài, thì hai đại diện cao cấp của CIA bước vào Nhà Trắng: giám đốc Richard Helms và Nicholas de B.Katzenbach. Quả là họ có thảo luận về vấn đề tài trợ các tổ chức sinh viên phục vụ mưu đồ phá hoại của CIA, nhưng tổng thống đã yêu cầu họ báo cáo chi tiết về vai trò của CIA trong các vụ mưu sát Fidel Castro. Đây là câu hỏi khó chịu thứ nhất. Câu hỏi thứ hai hên quan đến sự tham dự của Cục tình báo trung ương và các vụ thủ tiêu các tên độc tài Ngô Đình Diệm và Trujillo ở Đôminic.

    CIA không giữ kín được mọi chuyện. Người ta đã xác định được nội dung của Allen Dulles- giám đốc CIA lúc bấy giờ, Richard Helms, sếp tương lai của CIA, và các sĩ quan cao cấp khác của CIA, một tướng Tây Đức, mà tên được giữ kín, đề nghị CIA thủ tiêu Tổng bí thư Đảng xã hội chủ nghĩa thống nhất Đức lúc bấy giờ là Walter Ulbrichi. Đại diện CIA đã bác bỏ đề nghị trên.

    Trong những năm sáu mươi, cố vấn của tổng thống Mỹ về các hoạt động tình báo của USA ở ngoại quốc Robert Murphy thậm chí đã đưa ra đề nghị ám sát lãnh tụ Việt Nam Hồ Chí Minh.

    “Hồ Chí Minh là cả một vấn đề. Hay không phải như vậy?- Murphy tuyên bố.- Các anh có thể bằng cách nào đó xóa sổ ông ta không? Theo chỗ tôi biết các anh có thể làm việc đó. Thế thì các anh hãy tiến hành đi!”

    Trường hợp Robert Murphy được uỷ ban điều tra Churche bàn đến nhưng không được đưa vào báo cáo cuối cùng vì CIA đã không duyệt đề nghị của ngài cố vấn tống thống. Điều thú vị là các quan chức cao cấp CIA đã tốn nhiều thời gian giải thích cho cố vấn tổng thống, người mà lẽ ra phải là chuyên gia trong hoạt động tình báo, tại sao không thể ám sát Hồ Chí Minh được. Cả thế giới lập tức sẽ hiểu ngay ai đã sát hại lãnh tụ Việt Nam và vì lý do gì.

    Livingston Merchart là bí thư chuyên trách các vấn đề chính trị trong chính phủ Eisenhower. Ngày 3-11-1960, vào thời gian chuẩn bị đổ bộ lên Cuba, trong một cuộc họp của ủy ban đặc biệt theo dõi các chiến dịch mật CIA, Merchant đã hỏi các sếp CIA:

    Tồn tại các kế hoạch cụ thể thủ tiêu Fidel, Raul và Che Guevara? Nếu bỗng nhiên ba người này biến khỏi bề mặt trái đất thì lãnh đạo Cuba sẽ như rắn mất đầu.

    Không lâu sau đó, thậm chí có thế trong cùng một thời điểm, CIA tiến hành việc chuẩn bị ám sát lãnh tụ cách mạng Cuba. Âm mưu của chính phủ Kennedy sát hại Fidel Castro xuất hiện chính thức từ ngày 10.8.1962, giữa thời kỳ “khủng hoảng Cuba”. Một ủy ban đặc biệt mở rộng được triệu tập đến văn phòng ngoại trưởng Mỹ Dean Rusk để nghiên cứu “Chiến dịch mongoose”. Bộ trưởng quốc phòng Robert Mc Namara bỏ phiếu thuận, còn giám đốc cơ quan thông tin USA Enward A.Murrow thì bỏ phiếu chống. Số còn lại bỏ phiếu trắng.

    Việc chuẩn bị “chiến dịch mongoose” được giao cho một nhóm đặc biệt gồm các nhân viên CIA từng trải trong phòng Task Force w (lực lượng đặc nhiệm W). Trưởng nhóm này là William Harvey nhận lệnh trực tiếp từ Edward G.Lasdale, người được bộ trưởng tư pháp Robert Kennedy ủy nhiệm chỉ huy chiến dịch.

    Năm 1962 Richard Helms được cử làm sếp. CIA trong một tình hình bất lợi, cố giám đốc CIA phải từ chức sau thất bại Vịnh Con Heo và người ta chờ đợi tân giám đốc phục hồi uy tín CIA.

    Ngay từ mùa thu 1961, anh em Kennedy đã ra lệnh cho giám đốc CIA xóa sổ Fidel Castro. Ý muốn tương tự cũng đã được truyền đạt tới giám đốc CIA Me Cone. Anh em Kennedy là một liên doanh mạnh. Robert Kennedy là bộ trưởng tư pháp cứng rắn, kiên quyết chống lại tổ chức tội ác và sự tham gia của các chính trị gia vào các vụ làm ăn mờ ám của thế giới ngầm. Chính ông ta đã tuyên chiến với mafia và đang mưu đồ thâu tóm cá quyền lãnh đạo Cục tình báo trung ương.

    Từ tháng 12 năm 1961, CIA vạch kế hoạch thủ tiêu Fidel Castro dưới sự giám sát trực tiếp của Nhà Trắng. Phương án đã được dự thảo ở mức chuyên môn trong hoạt động tình báo. Chiến dịch dược duyệt vào loại tuyệt mật và người ta cố gắng để sao cho số người tham dự là ít nhất. Công tác bảo mật quả là hoàn hảo chiến dịch được giữ kín hơn mười năm. Nay chúng ta biết rõ rằng cả Richard Helms cũng không thành công anh em Kennedy thì bỏ mạng trong những hoàn cảnh bi thám và cho đến ngày nay, vẫn chưa được giải thích thỏa đáng. Tuy vậy Helms đã thành công trong việc giữ bí mật “chiến dịch Mongoose” trước các ký giả tò mò.

    Đó là một nhiệm vụ không dễ dàng chút nào, chính anh em Kennedy lại làm tiết lộ bí mật. Ngày 20.4.1964. Tổng thống Kennedy, trước thành viên của Hội các chủ báo Mỹ đã nói bóng gió về quyết định chống Cuba bằng mọi phương tiện. Tháng 12 năm 1962 ông ta đã đảm bảo với thính giả ở Miami
    Beach rằng dân di cư Cuba sẽ trả lại La Habana trong khúc nhạc chiến thắng.

    Sau này có ý kiến cho rằng “chiến dịch Mongoose” là dự án lớn nhất trong lịch sử CIA. Chúng ta không có điều kiện để thẩm tra ý kiến đó, có điều chắc chắn là chuyên gia lành nghề nhất đã tham dự chiến dịch, song các phương pháp thực hiện lại quá ngây thơ và vô hiệu.

    CIA không nắm vững tình hình trên đảo. Họ muốn gây rối loạn phá hoại kinh tế, làm suy yếu Nhà nước mới bằng các vụ phá hoại. Việc này rất khó khăn và mạo hiểm, vì trên đảo không tồn tại một lực lượng chống đối nào cả.

    Trong khi đó, anh em Kennedy lại thiếu kiên nhẫn, liên tục thúc giục CIA hoạt động. Robert Kennedy đã nói trắng ra rằng ông ta quan tâm đặc biệt đến các vụ phá hoại ở mỏ đồng Matahambre.

    Joe Kennedy, bố của Robert John, là một thương gia tài năng. Gia đình Kennedy sở hữu nhiều hãng phát đạt, trong đó có cả Hội khai thác mỏ Anaconda ở Chile. Điều này giải thích một phần các mánh khóe hậu trường trong việc dàn dựng đảo chính và sát hại tổng thống Allende ở Chile, đồng thời nó cũng là nguyên nhân của sự quan tâm đặc biệt đến việc làm tê liệt hãng cạnh tranh ở Cuba, Matahambre nằm ở phía tây đảo, Kennedy ra lệnh cho thám báo đánh mìn các thiết bị quan trọng ở mỏ. Nghe đâu ngày nào ông ta cũng gọi điện đến trụ sở CIA hỏi chiến dịch đã tiến triển đến đâu, các toán phá hoại đã cho mìn nổ chưa. Những tên phá hoại rốt cuộc không hoàn thành nhiệm vụ và mỏ vẫn làm việc liên tục.

    Nhiều nguồn tư liệu cho thấy sự mù quáng hiển nhiên của “phương án Mongoose”, ở Florida mọc Ịên một chi nhánh đồ sộ của CIA với 600 gián điệp tinh nhuệ, chỉ huy tương lai của ba nghìn biệt kích. Lansdale là một kẻ thực dụng già đời và y có thừa những tên phá hoại dày kinh nghiệm, có thành tích từ các chiến trường Philipin và Việt Nam, tuy vậy y vẫn không có mảy may cơ hội ở Cuba.

    Trong hồ sơ của ủy ban điều tra xuất hiện vài điểm tiết lộ sự thiếu nghiêm túc và thiếu thông tin của chiến dịch. Những tên gián điệp chuẩn bị phao tin thất thiệt trong dân chúng Cuba rằng ngày phán xử cuối cùng đang đến gần. Chúa Giêsu sẽ hiện thân ở Cuba với điều kiện dân Cuba lật đổ Fidel Castro. Trong đêm Chúa hiển hiện ở Cuba, một tàu ngầm Mỹ sẽ tiến gần bờ biển Cuba, các nhân viên CIA sẽ phóng tên lửa lên trời để cho sự hạ thế của chúa có vẻ như thật. Pháo hoa sẽ thuyết phục dân Cuba tin rằng đã bắt đầu ngày phán quyết cuối cùng. Một sáng kiến ngây thơ đến mức đó thiết tưởng không cần lời bình.

    Những tốp phá hoại nhỏ thỉnh thoảng cũng đột nhập vào bờ biển Cuba và đốt phá các đồng mía. Nhưng mọi âm mưu của kẻ thù cách mạng đều bị thất bại. Trong thời kỳ gian nan đó tôi cũng có mặt ở Cuba. Cả dân tộc cảnh giác, mọi người đi làm việc đều mang theo vũ khí. Những người tình nguyện ngày đêm canh giữ bờ biển. Những tên biệt kích không có cơ hội phá hoại. Lặng lẽ tẩu thoát không bị sứt đầu mẻ trán là điều may mắn lớn đối với chúng rồi. Fidel Castro đã dạy cho anh em Kennedy một bài học không lấy gì làm dễ chịu và trở thành tử thù của họ. Trong bối cảnh như vậy, áp lực ngày càng tăng của Washington đối với Task Force là một điều dễ hiểu. Mưu sát Thủ tướng Cuba là một phương án vô liêm sỉ nhất lúc bấy giờ.

    Theo hồ sơ của ủy ban điều tra Churche, các nhân viên CIA đã tiến hành mưu sát lãnh tụ cách mạng Cu Ba ít nhất là tám lần. Thậm trí trụ sở CIA ở Langley thuộc Virginie đã treo giải thưởng 10.000 đôla cho ai dàn dựng được tai nạn xe hơi để giết em của Fidel là Raul Castro. Đầu độc bằng thức ăn tẩm thuốc độc cũng được CIA xét đến.

    Không có gì đáng ngạc nhiên khi các nhà kế hoạch CIA nảy ra sáng kiến sử dụng các chuyên gia giết người lành nghề. Người môi giới là đại tá Sheffield Edwards, giám đốc phòng bảo vệ CIA. Edwards liên lạc ngay với Robert Maheu, một cựu tình báo viên FBI nhiều chiến tích.

    - Chúng ta có 150 ngàn cho việc này, - Edwards
    nói.

    - Ngài nghĩ rằng món đó lớn lắm hay sao?-Maheu cười mỉm.

    - Một biệt thự đấy.

    - Ừ, nhưng có khi cùng là một viên đạn vào trán. Tôi sẽ tìm người cho các ngài.

    Maheu đứng ra tổ chức sự hợp tác đen tối của CIA với mafia. Ông ta khuyên CIA tìm gặp găngxtơ từng trải John Roselli, sau đó tên này bắt liên lạc với Santos Trafficante và San Giancana. Bọn này đặc biệt thâm thù cách mạng Cuba và Fidel Castro, bởi vì, cho đến lúc phải vắt chân lên cổ tháo chạy, trước đây chúng đã dễ dàng kiếm được hàng triệu ở các sòng bạc La Habana.

    Ngay từ tháng 10-1961, các thám báo CIA đã nếm mùi thất bại đầu tiên. Khi đó ở La Habana người ta đang chuẩn bị một cuộc mít tinh chính trị lớn trước dinh tổng thống cũ. Fidel Castro sẽ phát biểu trong buổi lễ này. Mọi người khẩn trương dựng lễ đài. Treo cờ, trương biểu ngữ. Cách dó không xa, trên tầng tám ngôi nhà số 29 phố Avenida de las Misiones, biệt kích CIA cũng đang bố trí đặt một khẩu bazoka với mưu đồ sát hại không những Fidel Castro mà cả các nhà lãnh đạo Cuba khác tập trung trên lễ đài. Vụ ám sát đã không được thực hiện. Tên nữ gián điệp có nhiệm vụ nổ súng đã bị bắt trước lúc xay ra sự biên, ả bị bắt quả tang khi đang đặt thuốc nổ vào cửa hàng bách hóa Sears. Bị hỏi cung, ả đã khai ra kế hoạch ám sát, và tên chỉ huy Juan Izquierdo Diaz. Các chiến sĩ an ninh lập tức hành động. Một giờ sau Diaz bị bắt và khai ra đồng bọn. Tất cả nhóm biệt kích bị tóm gọn cùng với vũ khí và chất nổ.

    Sau thất bại trên, CIA và mafia từ bỏ ý đồ dùng súng và quay sang yêu cầu phòng thí nghiệm hóa học CIA chuẩn bị những điếu xì gà tẩm thuốc độc với mưu đồ dầu độc Fidel trong thời gian ông tham dự hội nghị của tổ chức Liên hợp quốc. Theo cảnh sát Michael J.Murphy ở New York, thuốc nổ còn được gài vào hộp dựng xì gà. Khi mở, lập tức hộp sẽ nổ tung.

    Ủy ban điều tra Churche đã xác minh rằng ngày 7-10 phòng thí nghiệm CIA thực sự đã “chế biến” các điếu xì gà đặc biệt dành cho Fidel. Ngoài ra, họ còn sản xuất các viên thuốc độc botulin mà tác dụng đã được thử nghiệm trước đó ở khỉ. Tất cả những mặt hàng này của phòng thí nghiệm CTA đã được đại tá Edwrds trao cho găngxtơ John Roselli tại khách sạn Fontainebleau, sau đó Rosselli lại chuyển hàng cho các tên khác theo các đường dây mật của mafia. Cuối tháng hai 1961. Rossell) đã gửi cho các ông chủ CIA báo cáo sau:

    “Các viên boiulin đã trao cho một người trong phạm vi lân cận Castro, nhưng sau đó người này đã trả lại với lý do y bị mất chức và không thế tiếp cận lãnh tụ Cuba được”.

    Năm 1963, những nhà vạch kế hoạch CIA lại nghĩ tiếp một số “thực đơn” làm hại Fidel Castro. D.Eitzgerald, chỉ huy đội đặc biệt “W”, có sáng kiến lợi dụng sự say mê môn thế thao bơi lặn của Fidel. Ai cũng biết Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Cuba rất thích săn cá dưới mặt biển Caribê, ông thường lặn xuống những ghềnh đá ngầm và săn các loại củ san hô bằng harpuna(84). Ông còn nhặt cả những con sên đẹp, các vỏ sò hồng lớn, những thứ ngày càng hiếm ở vùng nước Caribê. Các kỹ thuật viên của đội đặc nhiệm đã nghiên cứu nghiêm túc phương án đặt thuốc nổ vào trong một vỏ sò không lồ để bẫy Castro.

    James Donovan là một luật sư tài giỏi thường được chính phủ mời làm cố vấn trong các vụ gay cấn. Ông đã gặt hái nhiều thành công rực rỡ trong sảnh đường tòa án cũng như trong các nhiệm vụ chính thức hoặc nửa bí mật. Trước đó vài năm ông đã bào chữa xuất sắc cho tình báo viên Xô Viết Abel ở tòa án New York. Sau này ông còn xuất hiện vai người trung gian trong vụ trao đổi Abel với gián điệp Hoa Kỳ, phi công Powers. Lần này ông phải đóng một vai miễn cưỡng, chả là ông đang chuẩn bị đến La Habana để đàm phán với Fidel và các nhà lãnh đạo cao cấp khác về vấn đề trao trả tù binh trong cuộc đổ bộ thất bại lên Vịnh Con Heo.

    Các kỹ thuật viên CIA, tham dự chiến dịch Mongoose, gói vào hành lý của Donovan một bộ đồ lặn cao su mốt mới nhất. Luật sư sẽ trao nó cho Fidel Castro với danh nghĩa là quà biếu của Hoa Kỳ. Mặt trong của bộ đồ lặn đã được cấy các loại vi rút nguy hiểm gây nên những bệnh hiểm nghèo vô phương cứu chữa, còn mũ và ống thở thì đã bị nhiễm vi khuẩn lao.

    Luật gia James Donovan quả có mang đến La Habana- một bộ đồ lặn, nhưng đó là bộ đồ khác do ông bỏ tiền túi ra mua. Bộ đồ nhiễm độc ông bỏ lại nhà. Ông không đến nỗi ngây thơ như các nhân viên đặc biệt CIA, và ông hiểu rõ rằng mọi cố gắng ám hại Fidel Castro và biến Cuba thành chư hầu của Mỹ đều vô ích.

    Ngày nay, các phương pháp mà gián điệp Mỹ định sử dụng hòng ngăn chặn quá trình cách mạng Cuba có vẻ nực cười. Có thể nào các nhân viên CIA lão luyện lại vô học, mù quáng và điếc lác đến mức tin rằng tên thám báo Lash sẽ đến được gần Fidel Castro để bí mật bằng xi lanh dấu trong bút bi, chích thuốc độc vào người ông?

    Tất cả cố gắng đều vô ích. Liên minh với mafia cũng không giúp gì cho CIA. Các bố già mafia tham dự chiến dịch Mongoose đều bị giết chết. Đao phủ không để lại dấu vết gì. Lại thêm một vết nhơ lên bộ mặt không lấy gì đẹp đẽ của CIA.

    LIÊN DOANH CÔNG ĐOÀN MAFIA
    Victor Riesel là một trong các nhà báo Mỹ nổi tiếng nhất. Từ năm 1936, ông chuyên viết về các vấn để tổ chức tội ác. Ông góp phần đáng kế phanh phui các vụ giết người, ăn cướp và tống tiền của mafia Hoa Kỳ. Không hề biết bao nhiêu đàn ông rơi vào hoàn cảnh nguv hiểm đến tính mạng, bị những kẻ nặc danh dọa dẫm hoặc hối lộ để ông im lặng. Ông không lùi bước và tránh được tất cả mọi cạm bẫy. Năm 1958 ông lần ra dấu vết dẫn đến một vụ tai tiếng: sự cộng tác giữa các sếp mafia với các chính trị gia. Trên báo chí, sau đó là trong các buổi phát thanh, xuất hiện tên những kẻ tội phạm và tay sai của chúng. Dân Mỹ khâm phục lòng dũng cam của nhà báo và ủng hộ ông.

    Mọi người đều biết rằng các tổ chức công đoàn bị mafia lũng đoạn. Ngay cả Viện các vấn đề công đoàn cũng do Giovanni Dioguardi-biệt hiệu Johnny Dio, một chuyên gia tống tiền lành nghề, một kẻ phát minh có năng lực các phương pháp thâm hiểm để lấy tiền của người khác - sáng lập và kiểm soát.

    Y đã tốt nghiệp các trường găngxtơ hệ chính quy. Buổi đầu y là sếp một băng thiếu niên lưu manh ở New York. Là một găngxtơ tháo vát và bển bỉ, chẳng bao Lâu Dioguardi trở thành một trong những tên giết người thành thạo của hàng Murder Inc. Năm 1937 y bị bắt qua tang, phải ra tòa và bị tống vào nhà đá Sing-Sing. ở đó y làm quen với Lepke Buchalter và được tên này bổ sung các kiến thức còn khiếm khuyết. Ra tù, Dioguardi chuyên về các tổ chức công đoàn. Dọa nạt, tra tấn và giết người là những phương tiện này thường dùng để bắt các chủ hãng và cả những người lãnh đạo công đoàn nộp tiền. Y bị chánh án điều tra gọi lên mấy lần, song lần nào sau khi hỏi cung cũng được thả về nhà. Nhưng rồi trên vũ đài tân văn xuất hiện Victor Riesel, các bài báo của ông được 192 tờ báo và tạp chí Mỹ đăng tải. Năm 1956, Riesel tìm ra tài liệu về các thủ đoạn gian lận trong liên hiệp công đoàn cơ khí ở Long Island, nơi bố con King trị vì với bàn tay sắt. Trong thực tế, chúng tên là Koenig và làm việc cho Giovanni Dioguarđi. Riesel tìm được các nhân chứng sẵn sàng khai báo và cảnh sát đã hỏi cung họ. Họ là những công nhân cảng Peter Batalis và William Wilkens. Những lời khai vào biên bản của họ đã làm cho dư luận bàng hoàng.

    Để cho phát hiện của mình gây hiệu quả lớn hơn, Riesel đã mời các công nhân cảng đến đài phát thanh chuẩn bị một chương trình đặc biệt. Tối ngày 4.4.1956, chương trình này được phát ra và gây nên sự chú ý trong công chúng, đặc biệt là các bố già mafia. Sau buổi phát, Victor Riesel và nữ thư ký Belty Nevins cùng hai công nhân đi đến Broadway và cùng nhau uống cà phê ở nhà hàng “Lindy’s Reataurant”. Khoảng hai giờ sáng họ chia tay và Riesel cùng với Nevins đi đến phố năm mốt, nơi họ để ô tô.

    - Xin ông bà thương hại...

    Một người ăn xin. Gã chặn đường họ, mặt cúi xuống đất, còn một tay chìa ra phía trước dáng chờ đợi. Victor Riesel tìm tiền lẻ trong túi. Nhưng chỉ đợi có thế, gã ăn mày lập tức hất cả một chai coca cola vào mặt nhà báo và biến mất. Riesel ôm mặt lăn lộn. Chai coca cola đựng đầy a xít sunfuaric đậm đặc. Riesel được chở tới bệnh viện thánh Clara, ở đó mấy tuần liền ông vật lộn với cái chết. Cuối cùng, các bác sĩ cứu được ông thoát chết, song trả lại thị giác cho ông đã vượt quá khả năng của họ.

    Vụ án đã gây nên một làn sóng căm phẫn trong dư luận, Riesel nhận được 75.0000 bức thư biểu lộ sự đồng tình, còn Tổng thống Eisenhower đã ra lệnh cho giám đốc FBI bằng mọi phương tiện truy nã phạm nhân. Thật không dễ dàng điều tra hậu trường tội ác kinh tởm này. Mọi nơi các thám tử đều vấp phải bức tường im lặng. Tuy nhiên cuối cùng họ cũng tìm ra một vài nhân chứng sẵn sàng cung khai và nhờ vậy, chúng ta có thể dựng lại các sự kiện lúc bấy giờ.

    Condolfo Muanti là chủ cửa hiệu bánh kẹo ở phía đông New York. Y không chỉ bán kem Ý, bánh gatô và các thứ đồ ngọt khác, mà đằng sau chiếc bàn mặt đá cẩm thạch hồng, y còn giải quyết các vụ làm ăn mờ ám. Tháng 3.1956, Dioguardi với sự tháp tùng của Charles Tusa, đến cửa hiệu gặp Miranti. Chúng ngồi xuống bàn, làm một chầu kem Neapole chính hiệu và đặt hàng giết người với chủ hiệu, với giá 1000 đôla.

    Maranti chỉ là người môi giới. Đơn đặt hàng được trao cho găngxtơ Domeniko Bando, và tên này lại giao tiếp cho Joseph Carlin. Cho đến găngxtơ Abrahana Telvi thì tiền công chỉ còn có 500 đôla. Người ta nói với gã rằng một việc vặt như việc trả thù sự không chung thủy không thể cao giá hơn. Bando, Carlin và Telvi chờ trước tòa nhà đài phát thanh nơi Riesel phát chương trình của mình. Khi nhà báo cùng với nữ thư ký và hai công nhân cảng đi ra, chúng theo sát họ đến tận nhà hàng “Lindy’s Restaurant”. Sau đó một mình Telvi chờ nhà báo, còn hai tên tòng phạm thì giấu mình trong ô tô ở bãi đỗ xe khoảng giữa phố Năm mươi và phố Năm mốt.

    Khi Telvi hắt axit vào mặt Riesel, lập tức gã cũng cảm thấy rát bỏng trên mặt. Một vài giọt axít đã bắn lên trán và má gã. Gã lấy tay áo chùi mặt và chạy đến bãi đỗ xe. Nhưng vào lúc ấy ở góc phố xuất hiện một tốp tuần tra. Telvi lanh lẹ biện báo rằng gã vừa bị những người lạ mặt trấn lột và gã chỉ hai công nhân cảng. Tốp cảnh sát chạy đến chỗ Riesel còn Telvi thì chạy đến xe chờ sẵn và đồng bọn chở đã đến chỗ tình nhân Cruz để ẩn náu. Ở đó chúng biết được mặt Telvi cũng có dấu vết axít. Đối với cảnh sát, các vết sẹo đó sẽ làm bằng chứng nhận dạng khó lòng, chối cãi.

    Olga de la Gruz là một phụ nữ thông minh và tính toán. Khi biết được từ ti vi, ai là nạn nhân của tình nhân, ả nói với Telvi rằng gã bị bóc lột. Ám sát một nhà báo tiếng tăm như thế gã phải nhận được ít nhất là 40 ngàn Telvi đồng ý và thế là Olga đến cửa hiệu bánh kẹo. Ả gọi một cốc sinh tố và nói với chủ hiệu rằng Telvi đòi 50 nghìn đôla tiền công vụ tạt axít, không được thiếu một chinh. Miranti lắng nghe, không nói gì cả nhắn Telvi chịu khó chờ để y còn phải báo với cấp trên đã.

    Vài ngày sau, một người đàn ông lạ mặt xuất hiện trước cửa nhà của Olga.

    - Tôi đến gặp anh, - người lạ mặt nói với Telvi ở phòng khách. - sếp sai tôi đến, cảnh sát đang truy nã anh. Anh phải đi trốn.

    - Ở đâu? - Telvi hói.

    - Ở Florida.

    Họ ngồi vào chiếc xe lán đậu trước nhà. Tài xế đi vòng vèo trong trung tâm thành phố và sau đó đi ra xa lộ. Telvi nhận ra xe không đi sân bay theo như người đưa tin và gã bắt đầu hoảng. Tuy vậy gã vẫn bình tĩnh và nảy ra một mẹo. Bỗng nhiên gã vỗ trán, yêu cầu tài xế dừng xe để gã gọi điện nói chuyện với Olga một lát. Xe dừng, Telvi đi đến điện thoại trong một hiệu tạp hóa, biến vào đám đông.

    Lúc đầu gã xuất hiện chỗ bạn bè Ohio. Sau đó, gã bặt tăm hơi một vài tháng. Tháng 7 gã lại xuất hiện ở New York. Gã đinh ninh rằng mafia đã quên yêu sách của gã, nhưng gã đã lầm. Ngày 18.7.1956, cảnh sát New York tìm thấy dưới cống phố Mulberry Street xác một người đàn ông lạ, đầu bị ba phát đạn, trên mặt có vài vết sẹo còn mới do axit sunfuric gây ra. Olga de la Cruz nhận ra nạn nhân. Đó là tình nhân Abraham Telvi của ả. Có lẽ để báo thù cho người tình, Olga đã khai một cách nhiệt tình tất cả những gì ả biết về vụ án.

    Thứ sáu 16.8.1956, là một ngày đen đủi đối với các găngxtơ Miranti, Carlin, Bando và anh em Dioguardi cả bọn bị bắt giữ. Chúng im lặng trước chánh án điều tra, trước hội đồng dự thẩm cũng vậy. Mọi hứa hẹn, đe dọa đều vô hiệu. Domenico Bando tuyên bố không khai, còn Gondolfo Miranti thì hoàn toàn không mở miệng. Nữ nhân chứng không đến và thế là cả bọn được thả vì thiếu chứng cớ. Mãi hai năm sau Dioguardi mới phải vào nhà đá, khi mà y bị kết án 15 năm tù vì tội trốn thuế.

    Sau này người ta điều tra ra các mới liên quan khác. Trong vụ này Dioguardi chỉ là người trung gian. Tội nhân thật sự là chủ tịch công đoàn các tài xế Jimmy Hoffa, một người giàu có và thế lực, nhưng cũng rất tàn nhẫn, tội ác của y bị Riesel vạch trần trong các buổi phát thanh của mình. Đó là một trong nhật vật cỡ lớn của tổ chức tội ác Hoa Kỳ và một thời gian dài không ai làm gì nổi y. Mãi sau này y mới bị Robert Kennedy hạ đo ván.

    International Brotherhood of Teamsters -Nghiệp đoàn quốc tế lái xe, hay còn gọi là Teamsters Urion - Liên đoàn lái xe là một trong các hội công
  • Chia sẻ trang này