20.vancuong7975(xong)WIKI

24/11/15
20.vancuong7975(xong)WIKI
  • Link docx

    Link pdf

    đoàn lâu đời nhất châu Mỹ. Hội này được thành lập vào thời buổi thịnh hành của xe ngựa và vẫn giữ nguyên tên cũ khi các thành viên của nó, thay các bác xà ích, là các tài xế xe tải, xe hơi và xe cứu thương. Ngay từ đầu nó đã là một tổ chức tai tiếng. Trong thời kỳ cấm rượu, găngxtơ đã cai quản tổ chức Union có nhiều thành viên cho nên công quỹ rất lớn. Người ta đã làm gì với hàng triệu và sau này là hàng tỉ đôla tiền công đoàn phí? Một phần thì bị các lãnh đạo công đoàn thụt két chia nhau, một phần bị mafia dùng để hối lộ, mua hàng hay đầu tư xây dựng các sòng bạc.

    Khi được cử làm chủ tịch Ủy ban điều tra thượng nghị viện, John L.Mc Clellan đã cùng với Robert Kennedy lần theo dấu vết tội phạm của các sếp Teamsters Union. Trưởng chi nhánh công đoàn ở thành phố Seattle là Frank Brewster, ủy ban điều tra có các bằng chứng về sự thụt két công đoàn có hệ thống của tên vô lại Dave Beck, chủ tịch của Teamsters Union ở Seattle. So với mức sống bình thường, y như sống ở thiên đường, chí ít như tổng giám đốc một liên hiệp xí nghiệp công nghiệp. Lương chính thức hàng năm của y là 50 ngàn đô la, một khoản không nhỏ vào năm 1956. Lương giám đốc đối với Beck còn quá ít, y đã lấy 163.000 đôla tiền công đoàn để xây cho mình một biệt thự lộng lẫy. Robert Kennedy và cố vấn của ông ta tìm thấy các hóa đơn mua giường tủ, áo quần, đồ trang sức, vật dụng nhà bếp, máy giặt và tủ lạnh. Tất cả mọi thứ, Beck đều sắm bằng tiền công quỹ.

    Quan điểm của Beck đối với các thành viên của ủy ban điều tra đúng là kiểu Mỹ chính hiệu. Tên lừa đảo hoàn toàn không thèm nói chuyện với các nhân viên ủy ban, y không cho biển thủ là phạm tội, không ai khiến các ngài nghị sĩ thò mũi vào tiền nong công đoàn, đã có chủ tịch công đoàn chịu trách nhiệm trước các công đoàn viên.

    - Tôi sẽ yêu cầu nhà chức trách đuổi những kẻ đánh hơi này về nhà, - y dọa dẫm.

    Beck không dọa nạt suông, ủy ban điều tra thượng nghị viện, được ủy nhiệm điều tra việc biển thủ quỹ công đoàn, tuy không bị gọi về Washington, nhưng Beck không thể làm việc được, vì không một ai ở Seattle sẵn sàng giúp Robert Kennedy. Nhà băng, nơi các sếp Teamsters Union có tài khoản mật, đóng cửa trước mũi các nhân viên điều tra. Hóa đơn chi tiêu, chứng từ thủ quỹ bỗng không cánh mà bay. Có lẽ tới hơn trăm luật sư được thuê để ngăn chặn bất cứ ai muốn nhìn vào ngăn kéo những tên ăn cắp.

    Các sếp Teamsters Union thậm chí còn sử dụng chính trị để bóp méo hoạt động của ủy ban Mc Clellan. Trên báo chí đã nhanh chóng xuất hiện các bài báo, trong đó những tên bồi bút lên án những người điều tra vi phạm quyền lợi của giai cấp công nhân, coi họ là kẻ thù của tiến bộ đang đe dọa nền dân chủ Mỹ và bôi nhọ uy tín các tổ chức công nhân. Thậm chí chúng còn đe dọa sẽ tổ chức bãi công.

    Tình hình quả là bất lợi, ủy ban điều tra Mc Clellan buộc phải quay về Washington và yêu cầu Quốc hội uỷ nhiệm quyền lợi đặc biệt để có thế tiếp tục điều tra. Song chẳng bao lâu sau đó, một sự may mắn đã lật ngược thế cờ. Đối phương đã đi một nước thiếu suy nghĩ. Trong bài phỏng vấn của tạp chí “Le Figaro littéraire”, thường nghị sĩ Kennedy kể lại;

    “Chiều ngày 13-2-1957, một người đàn ông tuổi chừng 40 đến văn phòng chúng tôi. Ông ta xử sự rất lịch thiệp. Cô thư ký trình tôi xem tấm danh thiếp: John Clye Cheasty, trạng sư. Tôi liền mời ông ta vào.

    Ông ta ngồi xuống ghế sa lông đen đối diện với tôi và thông báo rằng James Hoffa (chủ tịch Teamster Union lúc đó) ứng trước cho ông 1000 đôla để ông điều tra và cung cấp tin tức điều tra cho y. Cheasty nhận tiền và đến gặp tôi.

    Đã một thời Cheasty làm việc ở cục tình báo hải quân. Bây giờ ông ta có văn phòng luật sư ở New York. Ông ta biết Hoffa qua đồng nghiệp Human Fishbach. Một thân chủ của Fishbach muốn quan hệ với thành viên nào đó của ủy ban Mc Clellan. Cho nên Fishbach mới hỏi Chesty có quen ai không và ông có thể xin làm việc trong uỷ ban được không. Đó là những câu hỏi không bình thường làm cho Cheasty phải cảnh giác. Trước hết, ông hỏi tên thân chủ Fishbach và được bết đó là James Hoffa ở Detroit. Hoffa mời Cheasty đến Detroit để thỏa thuận các điều kiện.

    Cheasty Fishbach liền bay đến Detroit. Xuống sân bay, họ lập tức được đưa đến văn phòng của Hoffa. Hoffa trao cho Cheasty 1000 đô la và hứa sẽ trả mỗi tháng 2000, nếu Cheasty lọt được vào chỗ chúng tôi. Ngay sau khi trở về, Cheasty liền đến khai báo.

    Trong khi nói chuyện, tôi hiểu đây là người trọng danh dự hơn tiền bạc. Không gì dễ hơn việc lấy 1000 đôla của Hoff rồi sau đó nói với y là không kiếm được việc làm trong ủy ban chúng tôi. Hay là ông ta cũng có thể im lặng làm việc chỗ chúng tôi và cung cấp tin tức cho Hoffa kiếm mỗi tháng 2000 đôla. Khi đến gặp tôi, ông ta không được gì cả, ngược lại chỉ có mất đi. Ông ta có thể chứng nhận công khai rằng Hoffa định hối lộ nhân viên điều tra, chắc chắn đấy là một cử chỉ cao thượng, nhưng như vậy, là luật sư, ông sẽ gặp nhiều điều khó chịu. Tuy nhiên, khi đến với chúng tôi, sự nghiệp trạng sư của ông cũng bị đe dọa, bởi vì thân chủ thường tránh những trạng sư không giữ bí mật nhà nghề.

    Chúng tôi gọi điện cho Edgar Hoover. Ông này xuất hiện sau vài phút và nhận bàn giao điều khiển chiến dịch. Ngay tối hôm đó, các nhân viên FBI thẩm vấn Cheasty và sau khi thảo luận với Bộ tư pháp, chúng tôi quyết định tạo điều kiện cho Cheasty làm việc trong ủy ban điều tra và như vậy, thỏa mãn ý đồ của Hoffa, cho đến thời điểm đó cả Hoffa, cả luật sư Fishbach chưa làm gì phi pháp. Lời khai của Cheasty chưa đủ. Chúng tôi cần phải có bằng chứng rằng Hoffa thật sự đòi hỏi Cheasty cung cấp tài liệu của ủy ban.

    Cheasty đồng ý với kế hoạch đó, mặc dù đối với ông ta, điều đó nghĩa là mất mát vật chất và vị trí bất lợi cho tương lai, ông ta phải từ bỏ thu nhập từ các thân chủ và thu nhập đó chắc chắn cao hơn nhiều so với 5000 đôla mỗi năm mà ủy ban có thể trả cho ông.

    Cheasty trở thành cố vấn của ủy ban Mc Clellan. Ngày 14-2, ông ta cam kết trung thành và sau đó quay lại New York chờ Hoffa và Fishbach. Hoffa thực sự đòi Cheasty cung cấp tin tức. Tôi trao tài liệu cho Cheasty để ông ta mang đến cho Hoffa, còn hai nghìn mỗi tháng của Hoffa, Cheasty trao lại cho các nhân viên FBI. Chúng tôi cố gắng đưa cho Cheasty những tài liệu mà một điều tra viên có thể kiếm được, tất nhiên là những tài liệu đó không làm ảnh hưởng đến công việc của ủy ban.

    “Ông làm quen với Jimmy Hoffa ra sao và khi nào?”

    “Tôi biết Jimmy Hoffa qua sự môi giới của luật sư Cheifitz. Từ đầu. Edie Cheifitz làm hết sức để đánh lạc hướng sự chú ý của ủy ban đối với Jimmy Hoffa. Theo ông ta. Hoffa có một thời trai trẻ sôi nổi và không trật tự, quả là thời xa xưa y có phạm một vài tội nhỏ, nhưng bây giờ y đã khôn ra nhiều. Theo lời Cheifilz, Hoffa là một nhà lãnh đạo công đoàn hữu ích. Tôi không còn biết làm gì khác là gặp và nói chuyện với Hoffa, vì vậy tôi đồng ý sẽ ăn tối với Hoffa ngày 19 tháng hai, ở nhà Cheifitz.

    Sau đó tôi muốn hoãn cuộc gặp với Hoffa nhưng ngày 13 tháng hai, Cheasty xuất hiện trong văn phòng và tôi nhận định rằng hoãn lại sẽ gây nghi ngờ, cho nên tôi đến chỗ hẹn.

    Ngày hôm sau, ở Washington, Hoffa gặp Cheasty. Buổi sáng tôi trao cho Cheasty tên của bốn nhân chứng mà chúng tôi muốn mời đến thẩm vấn đầu tiên. Cheasty gọi điện cho Hoffa và hẹn gặp nhau ở góc phố Mười bảy và phố Một.

    Sau này ở tòa, các thám tử FBI đã thuật lại cuộc gặp đó: Họ theo dõi hai người đàn ông, quay phim bằng các máy giấu trong một xe tải. Cheasty trao cho Hoffa mảnh giấy ghi tên người. Hoffa nói với ông ta là y biết ba người trong số đó. Sau đó Cheifitz đến đón Hoffa lại nhà, nơi chúng tôi gặp nhau trong bữa ăn tối. Sau cuộc gặp, Cheasty lập tức thông báo cho FBI, sau đó ông ta cũng gọi đến văn phòng của tôi, xác nhận là đã trao mảnh giấy với tên người. Vì chờ điện thoại của Cheasty nên tôi đến nhà Cheifitz có phần muộn.

    Cheifitz và cả Hoffa cùng ra đón tôi, và khi tôi mới đặt chân vào nhà. Hoffa liền giơ tay bắt khá mạnh. Y nhỏ bé quá mức bình thường, tuy nhiên y biết cách xử sự lịch sự và niềm nở. Tối hôm đó, y ngoan cố tự bào chữa:

    - Tôi không làm gì khác mọi người. Mọi người đối với tôi thế nào thì tôi cũng đối với họ như vậy.

    - Nếu vậy có lẽ tôi phải mặc áo giáp mất. - Tôi nói.

    Sau bữa ăn, khi nói chuyện về công việc của ủy

    ban. Hoffa và cả Cheifitz nói với tôi là họ biết một thủ lĩnh Teamstern Union sẽ bị uỷ ban gọi lên thẩm vấn. Đó là một trong bốn người mà tên của họ tôi trao cho Cheasty trước đó.

    Ba tuần sau, Hoffa bị bắt. Các thám tử theo dõi và tìm thấy tài liệu của ủy ban điều tra ở nhà y, những thứ mà tôi trao cho Cheasty để ông ta giao cho Hoffa,

    Anh em Kennedy có quan điểm riêng của mình về phương pháp đấu tranh chống tổ chức tội ác. Khác với Edgar Hoover không ưa các hành động phiêu lưu mạp hiểm, anh em Kennedy muốn dùng các hoạt động chống thế giới ngầm Mỹ phục vụ cho mục đích chính trị của mình. Họ không phải những người đầu tiên trong lịch sử Hoa Kỳ. Nhiều người trước đó cũng hứa hẹn mạnh mẽ, nhưng khi đã có quyền lực trong tay họ, lại giảm bớt quyết tâm thực hiện.

    Teamsters Union là tổ chức công đoàn đông nhất và mạnh nhất nước Mỹ. Chỉ cần một lệnh bãi công ban ra là hơn hai triệu tài xế trong tổ chức có thể làm tê liệt đời sống kinh tế Hoa Kỳ. Tất cả các ngành công nghiệp đều lệ thuộc vào vận tải. Vấn đề cung cấp thực phẩm nằm hoàn toàn trong tay cánh lái xe. Nếu họ từ chối không chở, dân chúng sẽ không có bánh mỳ, thịt, rau quả và nước uống. Đe dọa về việc lái xe bãi công là một vũ khí hiệu nghiệm và nguy hiểm về chính trị. Hơn nữa, tổ chức Teamsters Union có quyền lực tài chính đáng kể. Số vốn kinh doanh của nó lên tới hai tỉ đôla. Jimmy Hoffa là hoàng đế một vương quốc hùng mạnh và y hiểu rõ điều đó.

    Jimmy sinh ngày 14-2-1913 tại bang Indiana thuộc Brasil, trong một gia đình công nhân, bố làm thợ mỏ còn mẹ thì đi giặt thuê. Khi Jimmy lên bảy tuổi, người cha chết và người mẹ phải đưa bốn con đến Detroit kiếm kế sinh nhai.

    Sau khi học song phổ thông cơ sở, mới 14 tuổi, y đã làm công nhân kho của hãng Kroger Food Company (Liên hiệp thực phẩm Kroger). Công việc trong hãng Kroger rất nặng nhọc, công nhân thì bị đối xử khắc nghiệt, chỉ một sơ xuất nhỏ cũng có thể bị đuổi việc ngay. Thế là Hoffa đã sớm hoạt động tuyên truyền chống lãnh đạo hãng và năm 1932, y lãnh đạo cuộc bãi công của tất cả 175 công nhân. Họ phản đối không chuyển dâu tươi vào các xe lạnh.

    Chủ hãng đứng trước sự lựa chọn: hoặc dâu bị hỏng, hoặc tăng lươrig cho công nhân. Thủ lĩnh 19 tuổi Hoffa đã chiến thắng. Lãnh đạo hãng Korger Food Company phải chấp nhận các yêu sách của công nhân, ngày hôm sau dâu tươi được mang đến các quầy bán. Đối với đồng nghiệp Hoffa trở thành người hùng ngày hôm đó, còn đối với chủ hãng y là người tổ chức bãi công nguy hiểm. Vì vậy trong một dịp thuận tiện, chủ hãng đã sa thải y.

    Thực ra bị mất việc là dịp may đối với Hoffa. Vì đã có tiếng tốt trong công nhân cho nên y có thể lập tức làm việc trong chi nhánh ở Detroit của Liên hiệp lái xe. Trong lịch sử phong trào công nhân Mỹ, những năm 30 là thời kỳ đấu tranh quyết liệt vì công bằng và quyền lợi. Các phương tiện đấu tranh cũng rất Mỹ, theo kiểu miền Tây hoang dã. Khi công nhân bãi công chủ hãng bỏ tiền thuê vài tay súng đến “nói chuyện” với họ. Công nhân không còn cách nào khác là thuê những tay súng khác bảo vệ quyền lợi của mình. Thế là xảy ra ẩu đả giữa các băng găngxtơ và nhiều tên đánh thuê đã phải nằm lại trên chiến trường. Một số không ít các “bố già” mafia khét tiếng sau này cũng đã từng đánh thuê ăn lương của phía này hoặc phe kia.

    Ban đầu Jimmy Hoffa thực sự hăng hái chiến đấu vì quyền lợi công nhân, y tổ chức bãi công và thường xuyên đối đầu với cảnh sát. Song y đã thành công bắt các chủ hãng nhượng bộ, tăng lương cho nhân viên, uy tín công đoàn nối như cồn và y trở thành một thủ lĩnh nhiều hứa hẹn. Vinh quang, quyền lực, tiền tài và đạo đức kinh doanh tàn bạo kiểu Mỹ đã đưa y vào con đường lầm lạc. Không cưỡng lại được sức hút của tiền bạc, y đã phản bội các đoàn viên của tổ chức công đoàn, mà dưới sự lãnh đạo của y, đã trở thành một trong các tổ chức mạnh nhất nước Mỹ.

    Nhưng cả y cũng không tránh khỏi chạm trán mafia. Y đã nhanh chóng làm quen với các phương pháp bẩn thỉu của tổ chức tội ác. Hơn nữa, y còn có sự ràng buộc cá nhân với mafia. Bốn năm y sống với Sylvie Pagan và có với ả một con trai. Sau Hoffa, Sylvie lấy một tên mafia vô danh, và chẳng bao lâu sau ả lại li dị để rồi làm vợ “bố già” mafia vùng Detroit Frank Coppola, một trong những găngxtơ tên tuổi nhất thế giới tội ác. Sau này Sylvie là người liên lạc giữa Hoffa và Coppola.

    Năm 1937, Hoffa đã gặp một dịp hiếm có để củng cố vị trí của mình. Tháng 4, ở Detroit đã nổ ra một cuộc bãi công của công nhân đoàn xe tải. Giống như mọi lần, chủ hãng thuê một tốp ẩu đả chuyên nghiệp. Và bên phía công nhân có Jimmy Hoffa và những người đã chiến thắng hãng Korger. Trong vụ này mafia có thế đóng vai trò quyết định. Hiển nhiên Hoffa biết điều đó, cho nên y thuyết phục Frank Coppola không đứng về phe các chủ hãng.

    Một trận chiến không thương tiếc nổ ra. Mafia im lặng quan sát, bởi vì Coppola biết rằng y sẽ được trả hậu hĩnh với thái độ trung lập của mình. Y đã không lầm, công nhân chiến thắng, nhưng người chiến thắng trước hết là Hoffa. Báo tin ca ngợi hết lời sự vô tư của phong trào công nhân, nhưng càng ngày y càng nghĩ đến ích lợi của bản thân nhiều hơn quyền lợi công nhân. Y đã bị sự ham mê quyền lực làm cho mê muội.

    Cuộc khung hoảng kinh tế thế giới, những năm 30 đã góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội ở Mỹ. Các tập đoàn mônôpol ra sức đổ lỗi thất bại kinh tế cho giai cấp lao động. Nhưng đã từ lâu công nhân không chịu cúi đầu trước các ông chủ nữa. Trước tình hình một số tổ chức công đoàn ngả về phía các chủ hãng, tháng 11-1935, các thành viên tiến bộ của Hiệp hội lao động Hoa Kỳ AFL American Federation of Labour thành lập từ năm 1886, quyết định thành lập ủy ban hành động với tên gọi là ủy ban tổ chức cộng nghiệp (Committee for Industrial Organization). Cho tới năm 1938 thì ủy ban này trở thành tổ chức công đoàn Congress of Industrial Organisation, cả lần này các chủ hãng lại yêu cầu mafia giúp đỡ và các “bố già” đã gật đầu đồng ý.

    Đầu tháng 7.1939, những tên giết thuê của mafia giết chết chín người. Ngày 6 tháng 7, một tên tội phạm lạ mặt bắn chết John Syrnick, một thành viên của công đoàn thủy thủ. Một tuần sau ở Chicago, Eric Hessler bị giết trước khi ủy ban điều tra thẩm vấn về điều kiện sống của công nhân hãng Intesnational Harvester Company một ngày. Ngày 14 tháng 7, những tên giết thuê của hãng Musder Inc, đã bắt cóc và sát hại thủ lĩnh công đoàn Peter Panto. Những ngày tiếp theo, đến lượt Bill Robert ở Sinafield. Frank Bryvan và Bradley Simpson ở Kentucky, thợ mỏ Daniel Noe ở Harlan bị các tay súng mafia sát hại.

    Trong khi đó, các thành viên của ủy ban thượng nghị viện tiếp tục công việc điều tra. Họ xác minh rằng chủ tịch công đoàn giao thông ở Seattle. Frank Brewdter, đã biển thủ 400.000 đôla. Hơn nữa, y còn ép các thành viên Teamsters Unien chỉ mua nhiên liệu ở các trạm xăng của y, Hãng nào không nghe lời, y dọa bãi công và trong trường hợp cần thiết, y đã tổ chức bãi công. Sau này người ta còn phát hiện ra rằng y đã dùng tiền công đoàn để mua ngựa đua, xây chuồng ngựa và trả tiền nhân công. Như vậy, y ăn cắp của công đoàn hơn nửa triệu nữa.

    Các thủ lĩnh công đoàn với lương tâm không trong sạch chạy trốn trước ủy ban điều tra. Chủ tịch Dave Beck chạy ra nước ngoài trước tiên song cuối cùng sau một thời gian dài y quay về, giam mình trong biệt thự lộng lẫy ở Seattle và nhắn tin với các điều tra viên rằng y bị ốm và không tiếp ai cả.

    Teamsters Union là một cường quốc chính trị và cả kinh tế nữa. Ngay từ năm 1899. Khi gia nhập tổ chức công đoàn tối cao AFL, nó đã là tổ chức đông nhất và mạnh nhất. Năm 1957. Teamsters Union có khả năng can thiệp vào nhiều ngành công nghiệp và ảnh hưởng tới chính trị nước Mỹ. Chủ tịch Dave Beck tự coi là tổng thống thứ hai ở Hoa Kỳ, y có nhiều người thân cận trong Quốc hội, y là khách thường xuyên của tổng thống Eisenhower ở Nhà Trắng. Trong khi đó ai cũng biết y biển thủ hàng trăm nghìn tiền công quỹ.

    Trong thời gian Beck chạy trốn trước ủy ban điều tra, Jimmy Hoffa nghiễm nhiên trở thành quyền chủ tịch công đoàn. Y bước vào trụ sở công đoàn, một tòa nhà lộng lẫy, đối diện với nhà Quốc hội Mỹ, do công đoàn bỏ 5 triệu đôla ra xây và chờ thời cơ.

    Và thời cơ đã đến. Các thành viên của ủy ban điều tra, đặc biệt là Robert Kennedy đã vô tình giúp y nhảy lên bậc thang danh vọng cao nhất. Robert Kennedy và các cộng sự của ông ta đã đưa được David Beck ra trước ủy ban điều tra để hỏi cung. Ban đầu y lần lữa, chối cãi các chứng cớ buộc tội, nhưng rồi các lời khai của y mâu thuẫn với nhau. Cuối cùng, y nhận tội và hứa sẽ trả lại tất cả số tiền biển thủ cho tới đô la cuối cùng. Y phải ra trước tòa và bị kết án tù giam vì tội biển thủ công quỹ. Tất nhiên là y bị mất chức chủ tịch công đoàn, chỗ của y đã có Karnes Hoffa thay thế.

    Tháng 12-1955, hai tổ chức công đoàn lớn nhất Hoa Kỳ là Liên hiệp lao động Hoa Kỳ (AFL) và Hiệp hội tổ chức công nghệ (CLO) hợp nhất. Trong tổ chức hợp nhất này, Teamesters Union có tiếng nói đáng kể và quyền chủ tịch Hoffa có quyền lực rất lớn. Ngày 4-10-1957, đại hội công đoàn tổ chức tại Miami ở Florida bầu y làm chủ tịch Teamsters Union.

    Nhưng thắng lợi, và cả vinh quang, cũng có mặt trái của nó. Dư luận đã biết quá rõ về các thủ đoạn tài chính phi pháp và sự biển thủ công quỹ của các vị lãnh đạo Teamsters Union, cho nên chủ tịch đoàn AFL- CLO quyết định khai trừ Teamsters Union khỏi hàng ngũ của mình. Lý do? Hợp tác với mafia chi dùng công quỹ bất minh.

    Ủy ban thượng nghị viện tiếp tục điều tra. Trong thời gian Hoffa làm chủ tịch, tiền của công nhân tiếp tục bị ăn cắp. Trong năm đầu tiên trị vì của tân chủ tịch, hơn hai triệu rưỡi đôla không cánh mà bay. Công đoàn bỏ ra những khoản lớn để trả cho các luật sư bào chữa cho những tên tội phạm của mafia hoặc của chính công đoàn. Tiền công đoàn còn dùng để tài trợ cho các hãng tư nhân. Hãng Marberry Construction Company nhận được 175.000 đôla, còn hãng tư nhân khác là Northville Downs Race Track Company cũng được 50 ngàn.

    Chủ tịch công đoàn Jimmy Hoffa sở hữu một trang trại lớn, do vợ y cai quản, mà nhân công lại được trả lương từ quỹ công đoàn. Nhưng gai mắt nhất vẫn là sự liên minh với mafia. James Hoffa đã thoả thuận với các bố già mafia và cả hai bên đều có lợi. Bố già mafia ở Chicago là Paulricca, biệt hiệu -The Waiterr (hầu bàn) được Teamsters Union “biếu” một dinh thự lộng lẫy trị giá 150 ngàn đôla.

    Hoffa không từ bất cứ thủ đoạn nào. Khi ngồi lên ghế chủ tịch, y đã cố gắng lợi dụng vị trí của mình một cách toàn diện. Với sự giúp đỡ của mafia, dưới cái ô công đoàn và bằng công quỹ, y xây dựng một hãng riêng. Hối lộ, tống tiền và các trò lừa đảo là các biện pháp quen thuộc của y. Bằng cách đó, theo mẫu mafia y đã bắt những người bán rau ở Michigan, nộp thuế mười đôla hàng tháng, bởi vì họ không muốn thuê các xe tải của Teamsters Union chở rau. Hoffa trở thành cổ đông của nhiều cửa hàng, nhà máy. Y mua và bán cổ phần, bất động sản. Trong mọi trường hợp, y tiến hành theo đúng cách thức hữu hiệu của mafia: mua chuộc hoặc thuê người thanh toán những kẻ cạnh tranh.

    Chính sách phân biệt chủng tộc của y gây nên sự bất bình đáng kể. Chi nhánh Detroil của Teamsters Union cấm thuê việc các tài xế da đen. Các chủ xe buộc phải đuổi việc người da đen. Thậm những người da đen có xe tải riêng cũng không được phép đi xe của mình, ủy ban điều tra gọi Jimmy Hoffa ra hỏi cung và thư ký ghi lại câu trả lời hỗn xược của y: “Chẳng lẽ các ngài lại kết tội vì dân Detroit không ưa người da đen. Đối với tất cả bọn mọi đó, tôi chỉ có một lời khuyên là đừng ló mặt vô ích. Khí hậu Detroit không tốt cho chúng đâu”.

    Chúng ta đã biết công đoàn công nhân cảng New York bị mafia, đứng đầu là Albert Anstasia - Sếp hãng Murderr Inc tên giết người nhiều lần và găngxtơ chuyên nghiệp thao túng. Jimmy Hoffa đã liên kết với chính tổ chức công đoàn đó và bằng các thủ đoạn và áp lực thô bạo, y thâu tóm luôn cả công đoàn thợ mỏ. Chi nhánh New York của Teamsterrs Unio cũng liên minh với găngxtơ.

    Jack Parisi một thời hợp tác với băng của Lucky Luciano, phải ngồi hai năm rưỡi ở nhà tù Sing-Sing vì tội tòng phạm với Lepke Buchalter. Y là một găngxtơ tàn nhẫn với quá trình “hoạt động” phong phú. Công đoàn cơ sở khu Yoncers ở New York gồm phần lớn các tài xế xe vệ sinh. Trưởng chi nhánh này là John Acroplis. Một ngày đẹp trời, trong văn phòng của ông ta xuất hiện găngxtơ Paris với tối hậu thư: ngay lập tức tăng giá dọn rác. Mafia quyết định thâu tóm cả địa hạt này,

    Acropolis tự vệ. Cho đến lúc bấy giờ, Teamstes Union hợp tác với hãng Westchester Carting dưới sự điều khiển của găngxtơ Alfred Ratteni, tên này đã từng bị tù bảy năm ở Sing-Sing, cùng hội với Frank Costello. Acropolis quyết định cộng tác với hãng khác. Hãng này tên là Rex Carting Company chuyên về dịch vụ vệ sinh. Đó là một ngành kinh doanh lời lãi và Vua rác ở New York là sếp găngxtơ Vincent J.Squillante, bạn hữu của Albert Anastasia.

    Băng Squillante là găngxtơ Modica, tên này nghe đâu có thời giảng bài ở một trong các trường tổng hợp ở Mỹ Modica được đồng bọn gọi là “giáo sư” vì công lao đào tạo găngxtơ, ý dạy dỗ con cái của Albert Austasia, Willi Moretti, Vito Genovese và Joe Adonis.

    Khi John Acropolis cả gan chống lại quyền lợi mafia và liên kết với hãng Rex Carling Company, găngxtơ đã tuyên chiến với ông ta. Chúng đốt xe tải, hành hung tài xế và làm cản trở việc dọn rác đã chất thành đống trên các đường phố New York. Acropolis không chịu khuất phục. Cuộc chiến không cân sức kéo dài cả tháng. Một tối Acropolis trở về nhà. Ông xuống xe và đi về phía cổng nhà. Hai người lạ mặt xuất hiện, đứng chắn ngay trước mặt ông. Súng nổ và trên đường phố chỉ còn lại Acropolis nằm chết. Các bác tài đầu hàng và chịu tuân theo lệnh mafia.

    Sau đó, “giáo sư” Modica giúp mafia độc quyền điều hành dịch vụ vệ sinh. Giá cả nhảy vọt và các bố già thu về hàng triệu đôla. Chúng đã hoàn toàn cai quản một số chi nhánh của Teamsters Union. Khi bị gọi ra trước ủy ban điều tra, Modica đã ngạo ngược tự xưng là nhà văn và là giáo sư. Tuy nhiên các thám tử FBI đã xác minh rằng trong quá khứ, y đã bị kết án vài năm tù vì hành nghề khám bệnh phi pháp. Ngoài ra y còn lãnh một án nữa là vì tội biển thủ.

    Squillante tiếp tục hoành hành và ủy ban Mc Clellan bất lực. Y tống tiền các chủ tải, bắt họ phải nộp mỗi người 250 đôla vào “quỹ tự vệ” và sau đó cuỗm luôn số tiền này. Khi nhận ra lửa cháy tới chân, y biến mất và không bao giờ xuất hiện nữa.

    Jimmy Hoffa nắm trong tay số vốn lưu động : một tỉ rưỡi đôla. Y đầu tư số tiền đó vào các loại kinh doanh và cho vay nặng lãi. Quỹ phúc lợi công đoàn biến thành một loại nhà băng, được liệt vào hạng lớn nhất Hoa Kỳ. Để cho tên của mình không bị xuất hiện trong các chứng từ kế toán. Hoffa đã ủy toàn quyền sử dụng công quỹ cho thành viên mafia Alllan Dorfman. Tên này rất rộng rãi với bạn bè của mình, găngxtơ không phải trả nợ, bằng số tiền vay, chúng mua khách sạn, xây dựng casino ở Las Vegas. Còn chính bản thân Dorfman thì bằng số tiền công đoàn, y đã mua khẩu phần các công ty phát đạt, y sở hữu nhiều hãng bảo hiểm và xuất nhập khẩu. Trong khi đó các thành viên công đoàn lại bị từ chối cho vay những khoản nhỏ. Song đi đêm lắm cũng có ngày gặp ma, cuối cùng thì Hoffa đã phải ra trước tòa đối chất về những thủ đoạn phi pháp của y. Tuy nhiên, Hoffa có thừa tiền để hối lộ và cũng có nhiều quen biết thế lực, y được tha bổng vì thiếu chứng cứ.

    “Theo pháp luật, không được phép coi là phạm tội, nếu hội đồng dự thẩm gồm mười hai công dân đáng kính không coi người đó là có tội”, sau này Robert Kennedy nói. “Kết quả vụ án không đáp ứng mong muốn của tôi. Chấp nhận kết luận của hội đồng dự thẩm, song tôi tin rằng Hoffa có tội”.

    Bằng quỹ công đoàn, bạn bè của Hoffa trả tiền cho cựu vô địch quyền anh Louis. Từ Detroit, Louis đến Washington và làm quảng cáo cho Hoffa hai ngày liền ở sảnh đường tòa án. Thậm chí anh ta còn ôm hôn Hoffa trước đông đảo cử tọa. Chúng mời cả nữ luật sư da đen Martha Jefferson từ California và một luật sư danh tiếng khác. Một câu hỏi được đặt ra là tại sao luật sư bào chữa Endru Williams, một trong các luật sư nổi tiếng nhất Hoa Kỳ, lại cần tới bấy nhiêu trợ lý và một sự vận động rùm beng như vậy. Hoffa đã chụp ảnh với nữ luật sư Jefferson và cho đăng trên một tạp chí của người da đen. Bài viết dưới bức ảnh giới thiệu Hoffa như là một người bạn lớn của người đa đen, mặc dù trong thực tế, y thực thi chính sách phân biệt chủng tộc trong công đoàn.

    Không chỉ có các tình tiết trên ảnh hưởng tới quan điểm của hội đồng thẩm phán. Đó cũng còn do nghệ thuật tuyệt vời của luật sư Williams, bản khai khôn khéo của bị can và sự bất lực của ủy viên công tố.

    Trong khi thẩm vấn, Hoffa quả quyết rằng cho tới lúc bị bắt, y không hề biết Cheasty là thành viên của ủy ban điều tra. Y khẳng định rằng đã trả cho ông ta 3000 đôla để làm việc như luật sư, chứ không phải để thông báo hoạt động của ủy ban.

    Ủy viên công tố không nắm vững nội dung hồ sơ và phạm sai lầm khi chuẩn y thành phần hội đồng thẩm phán. Chẳng hạn, một thẩm phán đã bị kết án mười bốn lần vì say rượu, một người nữa thì bị chín lần vì tội say rượu và hành hung. Con của một thẩm phán đang ngồi tù vì tội hút thuốc phiện, còn một ông nữa bị nghi là đồng tính luyến ái.

    Bao nhiêu là cố gắng mà kết quả không ra gì. Ủy ban điều tra truy nã mafia nhiều năm và đã thẩm vấn 1500 nhân chứng tập trung đầy đủ bằng chứng và giao cho hội đồng thẩm phán. Nhưng lắt léo làm sao con đường công lý ở Hoa Kỳ. Tham nhũng, hối lộ, sự lệ thuộc chính trị hay tài chính, đó là những yếu tố thường đóng vai trò chính trong các vụ án. Vụ Hoffa không phải là trường hợp đặc biệt. Tuy nhiên đến cuối năm. Hoffa lại phải một lần nữa ra tòa. Lần này là vì tội nghe lén phi pháp điện thoại.

    “Thông qua trung gian là găngxtơ Johnny Dio, y thuê một chuyên gia lắp máy móc nghe lén ở tổng hành dinh Teamsters Union ở Detroit”, Robert Kennedy nói: “Song hội đồng thẩm phán đã trả tự do cho Hoffa. Trong khi đó, rõ ràng là y hối lộ các thẩm phán. Hoffa biết cách “quan hệ” với chánh án thẩm phán và cả ủy viên công tố". Thông qua một hội từ thiện, y đã khéo “ủng hộ” tiền cho một chánh án Michigan trong một đợt vận động bầu cử, còn các con của vị chánh án này cũng là luật sư, thì nhận được tiền thưởng, mặc dù họ chưa từng bào chữa cho y. Khi thấy tự mình không đảm đương được công việc, bao giờ y cũng tìm ra người trung gian, chẳng hạn Robert Scott”.

    Đây là nhân vật quen thuộc của phong trào công đoàn ở Michigan suốt hơn 25 năm và y có nhiều bạn hữu trong giới chính trị gia. Một lần, Hoffa yêu cầu Scott tác động đến thống đốc bang Michigan ân xá cho găngxtơ Franck Camarato, một tên cướp đã từng bị hai lần trục xuất khỏi Hoa Kỳ.

    Không khí chính trị nước Mỹ không dễ hiểu. Ở đó hiện hành những tiêu chuẩn khác với suy nghĩ của chúng ta, cho nên rất có thể rằng quyền lợi của chính khách và găngxtơ gặp nhau và nhiều khi bổ sung cho nhau. Cả quan hệ giữa mafia và các chính trị gia cũng không đơn giản. Ở đây tống tiền, hối lộ và gây sức ép từ thế mạnh đóng vai trò quan trọng.

    “Hoffa còn phô bày sự hỗn xược của y trong cư xử với ủy viên công tố Rasid, khi ông này điều tra vụ tống tiền của một thủ lãnh công đoàn”, Robett Kennedy cho biết. “Khi phiên tòa kết thúc, Raisd gặp Hoffa ngoài hành lang. Hoffa đã cảnh cáo Rasid:
  • Chia sẻ trang này