21.03 -stickman (type done)

14/9/15
21.03 -stickman (type done)
  • https://drive.google.com/file/d/0B8zMka7V_FK-X0tQT01lWUVXZmc/view?pli=1


    Quyển IV

    Có người hỏi: « Việc cúng tế trong những ngày tục-tiết (1) như thế nào? » .

    Chu-Tử đáp: « Hàn Ngụy-công xử sự thật hay. Đã gọi là lễ tế theo thời-tiết thì phải kém hơn lễ giỗ chính thức ».

    Tục-tiết là tiết Thanh-mình, tiết Hàn-thực, tiết Đoan-ngọ, tiết Trung-nguyên và tiết Trùng-dương.

    Chu-Tử lại nói: Các bậc hiền-triết đời trước cúng tế ở mộ phần thì không nói gì đến nghĩa lý ».

    Sách Mộng hoa lục chép: Tết Trung-nguyên (rằm tháng bảy) người ta bày đồ mả, áo bằng giấy màu, lấy tre làm cái giường ba chân hình-trạng giống như cái bầu dầu trong cây đèn [10a], gọi đó là Vu-lan bồn (2), người ta treo giấy và đồ mả ở trên mà đốt ».

    Ông Lục-Du nói: « Thói tục đến ngày rằm tháng 7 làm đồ chay cúng tế tổ tiên, chuốt tre làm bồn chậu đựng tiền giấy rồi lấy cộng tre mồi lửa mà đốt ».

    Sách Thích thị yếu lãm chép: Tiếng Phạm nói Vu-lan cũng như tiếng Trung-hoa nói cứu đảo huyền là cứu gỡ cha mẹ đang bị thọ hình treo ngược ở địa-ngục.

    Sách Thông-giám đời nhà Đường chép: Vua Túc-tông nhà đường cho Vương-Dư làm chức từ-tế sứ (quan coi giữ việc cúng tế).

    Lúc cúng tế, Vương-Dư có khi đốt giấy tiền giống như những người đồng bóng.

    Sách Vương-Dư truyện chép: Từ đời nhà Hán trở về sau khi chôn cất người chết người ta đều có chôn tiền theo.

    Đời sau, tục quê lấy giấy làm tiền mà cúng quỷ thần.

    Vương-Dư dùng giấy để cúng tế trừ tai-ương.







    (1) Tục-tiết là những tiết thường như tiết Thanh-minh, tiết Hàn-thực, tiết Đoan-ngọ, tiết Trung-nguyên, tiết Trùng-dương.

    (2) Vu-lan bồn, tiếng Phạm là Ulambana có nghĩa là treo ngược, ngụ ý rất khốn-khổ. Ngày rằm tháng 7 người ta bố-thí cho Phật cho tăng để báo đền ơn đức của cha mẹ đã mất, có thể cứu cha mẹ đang bị thọ hình treo ngược ở địa-ngục.

    Chu-Tử nói: « Người đời xưa dùng ngọc và lụa để cúng tế. Người đời sau lấy tiền mà thay vào. Đến đời vua Huyền-tông nhà Đường, việc thờ phụng quỷ thần thật phiền-phức, không có nhiều tiền, Vương-Dư làm giấy tiền mà thay vào ».

    Sách Thanh dị lục lại chép: Ngày xe đưa [10b] linh-cữu vua Huyền-tông nhà Đường đi an-táng, những thứ như vàng bạc tiền và đồ quý báu đều tượng hình để ngụ ý cả.

    Chu-tử lại nói: « Đầu đời nhà Tống, hễ nói đến lễ thì làm mũ áo giấy, nhưng không dùng tiền giấy ».

    Không biết tiền giấy và mũ áo giấy có khác biệt gì nhau chăng?

    Tiền giấy để cúng tế có từ đời vua Túc-tông (756 – 762) nhà Đường do Thái-ất sứ Vương-Dư làm ra.

    Còn mũ áo giấy để cúng tế có từ đời Ngũ-đại.

    Sách Triều dã thiên tái chép: Theo phong-tục vùng Lĩnh-nam, hễ trong nhà có người bịnh, thì trước hết giết gà giết ngỗng cúng để cầu phúc. Nếu bịnh chưa khỏi, người ta liền giết bò dê lợn mà cầu đảo.

    Tục nầy đến nay vẫn còn.

    Người xưa chê cười thói nầy đã lâu vì muốn cầu sinh lại sát sinh, đó là điều quỷ thần giận ghét.

    Vùng Trung-châu, để cầu đảo người ta chỉ dùng hương đèn tiền giấy ngựa giấy hoa quả đồ chay, chớ không nghe làm [11a] thịt sát hại sinh mệnh loài vật.

    Đã gìn lòng nhân và giữ phúc dày, cầu thần thêm tuổi thọ tất phải dùng đến nhân và phúc, dâng hiến lòng thành chớ há đâu ở lễ vật?

    Sách Thượng thư có thuyết về đồng cốt.

    Quẻ Tốn trong kinh Dịch cũng có lời bói của vu-sử (1).

    Sách Chu lễ đặt ra chức quan Ty-vu coi giữ bọn đồng cốt, có cốt nam và cốt nữ, đều có tham-dự vào những cuộc cầu đảo cúng tế.







    (1) Vu-sử, đồng bóng thờ phụng quỷ thần.

    Đồng cốt vốn là để thông-cảm với quỷ thần không thể nào bỏ được.

    Xem những điều ghi chép trong Tả-truyện thì rành rành có chứng-nghiệm.

    Đời sau nhiễm về yêu tà dối trá mà gây hấn gieo họa cho nên thường nghiêm cấm việc đồng cốt.

    Vua Vũ-đế nhà Hán cúng sao Thái-ất từ chiều hôm đến sáng. Đời sau lễ phóng đăng (1) vào ngày Thượng-nguyên (rằm tháng giêng) bắt đầu từ đấy.

    [11b] Ngày nay trong ngày tiết Lập-xuân người ta thường cắt giấy màu hay giấy có bông vàng thành hai chữ Nghi-xuân dán ở cửa để đón tân xuân.

    Theo bài Yến phú của Phó-Hàm đời Tấn có câu: Ngự thanh y dĩ tán thì, trứ nghinh xuân chi gia chỉ (nghĩa là: Mặc áo xanh để tán thưởng mùa xuân, gây dựng phúc lành mà đón xuân).

    Bài Tuế thì ký của người nước Tấn chép: Trong ngày tiết Lập-xuân người ta cắt giấy màu thành hình con chim én mà đội và dán hai chữ Nghi-xuân ở cửa.

    Sách Đường thiên kim nguyệt lịnh chép: Trong ngày tiết Lập-xuân người ta dán hai chữ Nghi-xuân ở cửa.

    Sách Tuế thì ký của người nhà Tống chép: Trong đêm trừ-tịch (đêm 30 tháng chạp, đêm cuối năm) người ta dán tờ thiếp Thiên-hành, thiếp Tiến-tài ở cửa.

    Tục ngày nay cũng hơi giống như thế.

    Sách Tỏa-ngôn của Tô-Hựu đời nhà Minh chép: Cung điện nhà cửa người xưa đều hướng về phía Đông, cho nên gọi góc tây-nam trong nhà là ảo (chỗ bí-mật tối-tăm), góc tây-bắc trong nhà là ốc-lậu (góc tối-tăm đặt thần chủ trong nhà).

    Theo sách Lễ-ký, hướng về tây làm tôn (tôn-trọng), hướng về nam làm chiêu (chiếu sáng), hướng về bắc làm mục (đẹp-đẽ).









    (1) Phóng-đăng, thắp đèn và đi chơi suốt đêm.

    [12a] Sách Thuyết văn giải tự chép: Người xưa làm nhà, nửa phần trước để trống gọi là đường, nửa phần sau gọi là thất.

    Sách Lý-quật của Trương-Tử chép: Ở nhà, gian chính gọi là miếu, cũng như điện nhận chính-sóc của thiên-tử. Ở gian chính-sảnh người ta không được ở thường vì những việc cát hung: quán (1), hôn (2), tang (3), tế (4) đều được thi-hành ở đấy.

    Phía sau chính-sảnh gọi là tẩm.

    Sách Luận-hành của Vương-Sung chép: Đời thường kiêng cữ:

    1) Không trao đũa cho nhau vì sợ tình ý không bền.

    2) Không thay nhau quét nhà vì kẻ dọn dẹp nhà cửa sẽ mong người khác đến thay thế mình.

    Tục nầy đến nay vẫn còn được kiêng kỵ.

    Sách Thuyết phu chép: Con trai vào trường học thường được 7 tuổi hay 9 tuổi, bởi vì thói tục có thuyết: con trai thì kỵ số chẵn, con gái thì [12b] kỵ số lẻ.

    Cho đến lễ đội mũ của con trai được 20 tuổi và lễ cài trâm của con gái được 16 tuổi cũng như thế.

    Em trai của Lý-Hồn ở Bắc-Tề là Luân lên 6 tuổi xin vào học, vì nhà có tục kỵ tuổi chẵn mà không được nhận cho học. Luân bèn học lén mà hiểu thông được sách Cấp tựu chương.

    Sách Bác-vật chi chép: Từ khi nhà Tần thống-nhất thư-văn trong thiên-hạ, quan Thừa-tướng Lý-Tư làm thiên Thương-Hiệt, quan Trung-quân lịnh Triệu-Cao làm thiên Viên-lịch, quan Thái-sử Kính làm thiên Bác-vật, quan Văn-viên lịnh Tương-Như làm thiên Phàm-tướng, quan Hoàng-môn lịnh Du làm thiên Cấp-tựu.

    Theo sách Nhan thị gia huấn, con em của bậc sĩ đại-phu đến một số tuổi nào trở lên thì không ai là không








    (1) Quán, lễ đội mũ của con trai được 20 tuổi.

    (2) Hôn, hôn-nhân, cưới gả.

    (3) Tang, đám tang.

    (4) Tế, cúng tế.

    được dạy bảo, nhiều khi thì được dạy đến phần truyện (1) trong kinh Lễ, ít thì không sót phần luận trong kinh Thi, đến tuổi đội mũ và tuổi lấy vợ, lúc ấy tính tình và thể chất đã an định, nhân cơ thần thiên-nhiên ấy của con người mà gia tăng việc dạy bảo.

    Người đời cho rằng đến tuổi đội mũ và lấy vợ mà chưa học thì gọi là chậm trễ, nhân đó chịu không thấy biết gì như quay mặt vào tường cũng là ngu dốt vậy.

    Theo triều nhà Lương, bậc hoàng-tôn (cháu nội của vua) trở xuống, những con trẻ còn để tóc hai trái đào trên đầu được vào học trước nhất (2).

    [13a] Khi nói chuyện với ai mà nói đến ông bà cha mẹ bậc trưởng cố của người ấy đều phải chữ tôn (như Tôn tổ phụ, ông nội của ông), còn từ hàng chú trở xuống thì thêm vào chữ hiền. Đó là sự khác biệt giữa người trên và kẻ dưới.

    Người phương Nam, khi khách đến thì không đón, gặp nhau thì ôm lấy tay mà không chấp, đưa khách ra khỏi chỗ ngồi mà thôi.

    Người phương Bác đón khách hay đưa khách đều đến cửa, gặp nhau thì chấp tay vái chào. Đó là lề lối đời xưa.

    Tôi cho tục đón khách và chấp tay vái chào khách là phải.

    Theo sách Chu lễ, khi gã chồng hay cưới vợ phải nộp thứ trắng tinh không quá 5 lượng.

    Sách ấy có chú rằng: 5 lượng là 10 đoan (3).

    Nhà giàu làm lễ nộp tệ cũng không được quá số 5 lượng lụa ấy. Nhà nghèo cũng có thể lo đủ số 5 lượng lụa ấy (vì không nhiều).

    Có người nói: « Lễ nộp tệ 5 lượng lụa thì quá ít, khó coi. ».

    Chu-Tử nói: « Tính nhiều ít mà lấy lợi mà nói. Đời sau







    (1) Truyện, phần giải rõ nghĩa lý trong kinh sách.

    (2) Câu nầy nguyên-văn chép sai. Phải dịch theo câu đúng ở phần Miễn-học trong sách Nhan thị gia huấn: Lương triều hoàng tôn dĩ hạ, tổng quản chi tử tất tiên nhập học.

    (3) Lượng là 4 trượng. Đoan là 2 trượng, 5 lượng là 10 đoan.

    phong-tục của nhân-dân khinh bạc thường nói đến tiền-tài. Về lễ-nghi thì đòi tiền bạc. Nhà quan phẩm lại muốn lấy thể-diện đã đưa nộp vàng [13b] lụa rất nhiều. Người nào nộp ít không đầy đủ thì chê trách. Đó thật là phi lễ ».

    Sách Thông-điền chép: Trong đời vua Huyền-tông (713 – 755) nhà Đường, Đường-Thiệu có dâng biểu nói: Trong dân chúng ngày rước dâu ở nơi quê mùa thô bỉ thường có việc chận ngăn đám cưới và đòi tiền rượu thịt. Thói nầy trở thành thịnh-hành nhiễm đến hàng vương-công. Chúng tụ họp nhiều bè lũ chận ngăn đường lộ. Lúc giữ đám cưới lại chúng đòi tiền của, đến nỗi món lễ đút lót khi chúng chận xe rước dâu còn nhiều nhiều hơn món tiền sính-lễ. Xin cấm hẳn những việc ấy.

    Vua Đường Huyền-tông nghe theo.

    Thói ấy tức là tiền đón ngõ mở dây ngày nay.

    Sách Nhan thị gia huấn chép: Con trẻ sinh giáp năm (một tuổi) thì được may quần áo mới, tắm rửa trang-sức sạch-sẽ, con trai thì người ta dùng cung tên giấy bút, con gái thì thước kéo kim chỉ cùng các món đồ ăn uống [14a] và đồ chơi quý báu đặt trước mặt con trẻ. Xem ý nó muốn vật gì mà nghiệm biết nó sẽ tham-lam hay liêm-khiết, ngu-si hay thông-minh.

    Tục ấy gọi là hý-nhi. Rồi bà con nội ngoại tụ họp lại ăn uống.

    Sách Ngọc hồ dã sử cũng chép: Ngày lễ thôi-nôi của Tào-Bân, cha mẹ lấy các thứ đồ chơi bày la-liệt ở chiếu để xem Tào-Bân bắt lấy món nào.

    Sách Bắc hộ lục chép: Theo phong-tục ở vùng Lĩnh-nam, nhà giàu khi đàn bà sinh đẻ được ba ngày hoặc đầy tháng thì tắm rửa đứa con rồi làm một bữa cơm đoàn du (1).

    Theo thiên Nội-tắc trong kinh Lễ, người đời xưa chỉ trọng lễ tiếp con sau ba ngày được sinh ra.

    Theo sách Gia-lễ, chủ nhà sinh đứa con đích trưởng đầy tháng thì tiếp-kiến con.









    (1) Bữa cơm đầy tháng

    Đời sau tùy theo phong-tục ở từng địa-phương, người ta tụ hợp lại vui chơi, trang-sức và ăn mừng lần lần thêm to.

    Nay theo phong-tục ở Trung-quốc, người ta sinh đẻ con được 3 ngày thì hội họp bà con lại.

    Tục nước ta, người ta sinh đẻ con được 3 ngày thì chỉ làm vài mâm cỗ cúng thần Dưỡng-bà. Đợi đến bảy ngày, chín ngày và đầy tháng, một trăm ngày, giáp [14b] năm thì đều bày lễ cáo lên tổ tiên, rồi bày yến tiệc linh-đình, đem thơ văn đồ chơi quần áo đến chúc mừng. Những lễ mừng một trăm ngày và giáp là trọng đại hơn hết.

    Lễ mừng giáp năm, người ta bày các thứ đồ chơi ở trước mặt trẻ con để xem nó bắt lấy món gì, giống với tục ở Giang-nam.

    Sách Điền nghi lục ở Nam-tống chép: Về việc sinh đẻ ở trong cung có những lễ-nghi sau đây: Tam-triêu, mãn-nguyệt, Nhất-lạp, Nhị-lạp, Tam-lạp, Bách-tối và Đầu-tối (1).

    Trong những lễ tiết kể trên, vua đều có ban cho bạc và lụa.

    Tháng 8 năm Khai-nguyên thứ 7 (729) đời nhà Đường, vua Đường Huyền-tông lấy ngày sinh-nhật của mình ban yến cho các quan ở dưới lầu Hoa-ngạc.

    Trương-Thuyết và Nguyên-Kiền-Diện xin lấy ngày mùng 5 tháng 8 mỗi năm làm tiết Thiên-thu bố-cáo cho khắp thiên hạ đước yến ẩm vui chơi nghỉ-ngơi ba ngày.

    Đó là bắt đầu đặt lễ tiết theo ngày sinh-nhật.

    Năm đầu niên-hiệu [15a] Trường-khánh (821) vua Mục-tông nhà Đường xuống chiếu nói rằng: Ngày mùng 6 tháng 7 là ngày sinh-nhật của Trẫm. Đến ngày ấy các quan và mệnh-phụ (2) phải đến cửa Quang-thuận môn tiến dâng tên họ tham dự lễ chúc mừng. Trẫm ở trong cửa tiếp-kiến các quan.

    Đó là bắt đầu đặt lễ-tiết để vua nhận lời chúc mừng.








    (1) Tối, là đầy năm, giáp năm.

    (2) Mệnh-phụ, những người đàn bà được phong hiệu. Có Nội mệnh-phụ và Ngoại mệnh-phụ.

    Triều nhà Minh những lễ-tiết sinh-nhật của vua cũng noi theo đó. Các quan đến chầu mà chúc mừng như trong ngày Tết Nguyên-đán.

    Sách Ngọc-đường ký của Chu-Tất-Đại dẫn lời nói của Tiền-Duy-Dần rằng: « Theo quy-chế cũ, các quan Học-sĩ và Đại-phu gặp ngày lễ-tiết sinh-nhật của vua cùng góp 120 quan tiền bày cỗ chay ở trong chùa, đương 50 quan tiền để cùng với các quan Khu-mật-sứ mở đạo-tràng cho các đạo-sĩ cúng sao cầu thọ cho vua ».

    Sách Quy điền lục của Âu-Dương-Tu có chép: Sứ thần ở Tam-ban-viện (3) hàng mấy trăm người hàng năm góp tiền nuôi nhà sư dâng hương cầu thọ cho vua, gọi đó là hương tiền (tiền dâng hương cầu thọ).

    Người xưa đã có lễ-tiết nầy, đó là tình chí-thiết của kẻ bề tôi cầu thọ-mệnh cho bậc vua chúa.

    [15b] Sách Nhan thị gia huấn chép: Từ đời nhà Hán, nhà Ngụy về sau, người ta gọi là giáp-dạ, ất-dạ, bính dạ. đinh dạ, mậu dạ. Người ta cũng nói nhất-cổ, nhị-cổ, tam-cổ, tứ-cổ, ngũ-cổ. Người ta cũng kêu là canh một, canh hai, canh ba, canh tư, canh năm. Mỗi cách đều lấy năm khoảng thời gian trong một đêm làm tiết mục.

    Bài Tây-đô phú cũng chép: Phòng-vệ để nghiêm ngặt việc canh gác chỗ công-thự. Sở dĩ đã như thế là vì giả như tháng giêng thuộc kiến dần thì chiều tối chuôi sao đẩu chỉ cung dần, sáng sớm chỉ cung ngọ. Từ dần đến ngọ là đã trải qua 5 giờ. Nhưng tháng mùa đông mùa hạ tuy lại dài ngắn so le nhau, nhưng thời gian xa rộng, dài thì khoảng 6 giờ, ngắn thì không đến 4 giờ, tới lui thường ở khoảng 5 giờ.

    Chữ canh [] có nghĩa là trải qua, suốt qua, cho nên gọi là năm canh.

    Sách Thuyết-phu chép: Vua Thái-tổ nhà Tống nhân lời nói của tiên-ông Trần-Đoàn : « Chỉ phạ ngũ canh đầu »










    (3) Tam-ban-viện, ba cơ-quan trong triều: Đài-viện, Điện-viện và Sát-viện.

    [] » (nghĩa là: Chỉ sợ đầu canh năm), liền ra lịch cho khắp nơi từ kinh-đô đến quận huyện đều phải đánh 6 canh trong một đêm.

    Tống Thái-tổ lấy được nước [16a] nhằm năm canh-thân (960), truyền phúc được hơn 300 năm, tức là được 5 lần năm canh-thân (một giáp-tý 60 năm có 1 lần năm canh-thân. 5 lần năm canh-thân tức là 5 giáp-tý. 5 giáp-tý là 300 năm, 60 X 5 = 300).

    Thiên Lễ-chí trong sách Tống-sử chép: Khi vua đi tuần thú hay xuất ngoại, Hàn-lâm-viện phải dâng khẩu-lệnh và truyền xin Khu-mật-viện mỗi đêm trích một chữ giao cho quân vệ sĩ hô ứng với nhau để nhận-thức. Từ đấy đời sau bắt đầu đặt ra khẩu hiệu (1).

    Chu-Tử nói: « Đời xưa nhà ở không có hành-lang ven nhà. Khi chầu vua thì ba vị quan chức công khanh đứng lộ thiên ở dưới cây hòe, chín vị quan chức khanh đứng lộ thiên ở dưới cây cức. Đương buổi chầu mà gặp mưa liền phải nghỉ.

    Sách Thử-phác (2) chép: Theo quy-chế nhà Đường, trời chưa sáng, còn 7 khắc nữa thì đánh một hồi trống, gọi là nhất nghiêm, quan thị trung tâu xin mở cửa cung và cửa thành; còn 5 khắc nữa thì đánh hai hồi trống, gọi là tái nghiêm, các quan đều tụ-tập ở triều-đường; còn 1 khắc nữa thì đánh ba hồi trống gọi là tam nghiêm, quan Thị-trung, quan Trung-thư-lịnh trở xuống đều đến Tây-các đón [16b] xa giá của vua.

    Chữ nghiêm [] có nghĩa là nghiêm nhặt cung kính.

    Sách Độc-đoán của Thái-Ung chép: Theo chế-độ nhà









    (1) Khẩu hiệu, lời nói bí-mật dùng để hô ứng với nhau mà nhận ra người trong bọn.

    (2) Thử-phác, tên sách, có 1 quyển do Đái – Thực đời Tống soạn ra, khảo-chứng những nghĩa nghi-ngờ trong kinh sử và những chỗ dị-đồng về danh vật điển-cố, biện-luận có nhiều điều tinh-thâm. Sách nầy được đặt tên là Thử phác vì sự-tích sau đây: Người nước Trịnh gọi là ngọc chưa trau-giồi là phác. Người nhà Chu gọi con chuột chưa khô là phác. (Đồng một tên gọi mà khác vật-thể). Người nhà Chu gặp người nước Trịnh, mới hỏi: « Anh mua phác không? » - « Mua ». Người nhà Chu đưa con chuột ra. Người nước Trịnh không mua. Câu chuyện nầy ngụ ý việc hiểu lầm nhau vì có việc đồng tên mà khác vật.


    Hán. khi vua đi tuần thú hay đi săn trở về, các quan công khanh trở xuống đều đứng bày ra nơi đường Đô-đình ở thành Lạc-dương.

    Khi vua đi xe đến, các quan công khanh đều bái. Khi vua xuống xe, các quan công khanh thân đến xem nhan sắc vua, rồi vua mới về cung.

    Lễ nầy so với đời sau thấy có thân-mật hơn.

    Sách Tạp-ký của Giang-Lân-Cơ chép: Tổ-Tử-Dung đời Tống làm quan Phán ở Lễ-viện có nói: « Nay nhạc-khí loại treo lên như chuông khánh thì chỉ nghe tiếng chuông mà thôi, còn những tiếng nhạc khác thì bị lấp không nghe được. Nên bỏ lối đánh liền tiếng để lần lượt lượt nghe được tiếng nhạc khác ».

    Than ôi! Nhạc đã không được chỉnh-bị đã lâu rồi vậy.

    Vua Thái-tông nhà Đường xuống chiếu dùng giấy bằng gai viết sắc.

    Vua Cao-tông nhà Đường, vì giấy trắng nhiều mọt đục, xuống lịnh cho quan thượng thư [17a] thông sức cho các châu huyện đều phải dùng giấy vàng. Còn ty thừa nhận chế cáo của vua phải liệu lường làm quyển trục.

    Nhưng sách Lục-điền (1) nhà Đường lại chép: Những sắc thư ban xuống cho các châu huyện đều bằng lụa.

    Tờ cáo thân (2) đời Đường lúc đầu làm bằng giấy, dưới thời triều vua Túc-tông thì bằng lụa, trong đầu niên-hiện Trinh-nguyên (785 – 805) thì bắt đầu dùng lăng (3).

    Tờ cáo thân của bậc Ngũ-phẩm trở lên thì bằng thứ lăng lạ bông to hay thứ la-phiêu màu tía (4) mà cây trục thì bằng gỗ đàn, các quan tại triều từ Lục-phẩm trở xuống thì dùng thứ trang (?) mà viêt và thứ lăng-phiêu bông to,








    (1) Lục-điền, sách Lục-điền trong thời Đường Minh-hoàng có 30 quyển.

    (2) Cáo thân, văn-bằng trao chức quan trong thời nhà Đường, cũng như bổ-nhiệm trạng ngày nay.

    (3) Lăng, thứ lụa có vân.

    (4) Phiêu, thứ lụa màu xanh trắng.
  • Đang tải...