21.04 - danguyen (type done)

14/9/15
21.04 - danguyen (type done)
  • https://drive.google.com/file/d/0B8zMka7V_FK-dzQ3d1hSdjJLYlE/view?pli=1
    * GHI CHÚ:
    Dấu '...' là ký tự chữ Hán không đánh máy được.
    Chữ gạch chân là chữ không nhìn rõ, không rõ nghĩa.
    ===
    ngoài ra thì dùng thứ giấy lụa họa nhỏ, nhưng thông-dụng là thứ lăng-phiêu màu tía với cây trục bằng gỗ đàn.
    Sắc hiệu của các bậc mệnh-phụ (1) được dùng thứ giấy trắng có hoa nhỏ đủ màu, cây trục thì bằng cẩm tiêu hồng nha (ngà voi bọc gấm).
    Bộ Lại ban cấp tờ cáo-thân cho các quan tại triều, thì trước hết đòi đương-sự nộp tiền mua gạo keo lụa và trục. Quan nào nghèo không nộp được tiền ấy thì phần nhiều chỉ lãnh sắc điệp (2) mà thôi.
    Lưu-Nhạc dưới thời vua Minh-tông nói : << Tờ cáo-thân có [17b] lời khen chê răn dạy của vua, thì há lại có thể khiến đương-sự không được xem lúc ban đầu hay sao? Cho nên kính xin cho quan tại triều trở lên ở kinh-đô thì được cáp-môn-lại tuyên đọc và ban cấp, cho quan ở ngoài thì được bổn-châu-sứ tuyên đọc và ban cấp>>.
    Nhà cầm quyền lại bàn nghị về tiền phí mua kẹo mua trục, xét rằng trong một năm tiền phí nầy chẳng hơn mấy vạn, triều đình đã ban bổng lộc và tước vị cho kẻ bề tôi thì không nên đòi tiền phí để mua keo mua trục nữa.
    Kính xin : tất cả các quan ở trong triều và ngoài quận hễ được trao chức quan thì được tuyên đọc và ban cho tờ cáo sắc.
    Xét rằng : Cáo-thân là lời chế của Tòa Trung-thư ban cho lúc đầu tiên. Sắc điệp là bản sao để làm chiếu-nghiệm của Tòa Trung-thư.
    Dưới thời nhà Tống, các quan lớn nhỏ đều có chế từ ban cấp.
    Đến đời nhà Nguyên nhà Minh các quan lớn nhỏ đều được trao thẳng cho tờ sắc, các quan thấp hèn thì không được cấp chế từ.
    Sách Ký - văn của Trần - Tử - Kiêm đời Tống chép : Chữ khắc ở mặt ấn đời Đường thì nhỏ như sợi tơ sợi tóc, đời Tống thì to như chiếc đũa.
    ---------------------------
    (1) Mệnh phụ, vợ các quan to được tước phong.
    (2) Sắc điệp, bản sao làm chiếu nghiệm của Tòa Trung-thư.

    Tôi vin theo sách Thuyết- [18a] phu (1) chép rằng : Ấn đời xưa chế-tạo rất nhỏ cho nên nét chữ cũng bé, cũng như con dấu bằng ngà của tư-nhân đời sau làm rất nhỏ để tiện mang theo bên mình.
    Sách Thư-sử của Mễ-Phất đời Tống chép : Chữ khắc ở mặt ấn phải nhỏ, nét vòng quanh mặt ấn phải bằng với chữ khắc. Chữ triện (2) điền vào mặt ấn cũng có phép tắc để noi theo.
    Đời gần đây chữ triện khắc ở mặt ấn không theo phép tắc gì hết. Như ấn của Tam sảnh (3), nét chữ triện đều cong lệch trái ngược cho nên từ khi đem dùng thì không có một quan tể-tướng nào là không bị tội.
    Ấn của Ngự-sử đài thì lệch về bên trái, chữ sử ... nghiêng lệch vào trong cho nên từ khi đem dùng ít có quan trung-thừa nào được khỏi tội.
    Ấn quan Tuyên-phủ giống như chữ vong ..., từ khi ấn nầy được đặt ra thì ít có quan tuyên-phủ nào trở về tâu báo công việc được hoàn tất sau khi được phải đi (4).
    Ấn của tư-gia có quan-hệ rất nhiều về sự lành dữ.
    Đầu thời vua Cao-tông nhà Đường, có lịnh cấp cho các quan ở kinh-đô và chức-sự Tứ-phẩm túi ngư-đại (5) để mang theo bên mình.
    -----------------------------
    (1) Thuyết-phu, tên sách có 100 quyển do Đào-Tông-Nghi đời Minh biên soạn, sao chép những tiểu-thuyết sử ký, tóm tắt phần đại-lược, gom nhặt những sách thất-lạc.
    Sách nầy nay đã thất-lạc chỉ còn 30 quyển. Úc-Văn-Bác trong niên-hiệu Hoành trị có chép bù vào đủ 100 quyển. Diêu-An và Đào-Ban đời Thanh lại chép thêm được 120 quyển.
    (2) Triện, lối chữ cổ đời xưa thường dùng để khắc trên mặt ấn. Có hai lối chữ triện : Tiểu-triện và Đại-triện.
    (3) Tam-sảnh, ba cơ-quan lớn trong triều đời Tống : Trung-thư-sảnh, Thượng-thư-sảnh và Môn-hạ-sảnh.
    (4) Phục-mệnh, nhận mệnh-lệnh đi thi-hành rồi trở về báo-cáo khi thi-hành hoàn-tất.
    (5) Ngư-đại, cái túi đựng cái phù-tiết hình con cá. Đời xưa dùng hổ-phù, phù-tiết hình con cọp. Đời Đường đổi hổ-phù a ngư-phù, phù-tiết hình con cá. Cái túi đựng ngư-phù gọi là ngư-đại. Túi ngư-đại có ba loại : 1) Loại trang sức bằng ngọc. 2) Loại trang sức bằng vàng. 3) Loại trang sức bằng bạc. Đời Tống túi cũng con dùng, ở ngoài có hình con cá bằng vàng bằng bạc để trang-sức, nhưng ở trong thì không có đựng ngư-phù nữa.

    [18b] Về sau có chiếu vua dạy quan văn từ nhất phẩm trở xuống đều phải đeo khăn tay, túi đựng con toán và đá mài dao. Quan võ vị nào muốn mang khăn và túi cũng được.
    Quan văn quan võ :
    -- Từ tam phẩm trở lên thì mặc áo màu tía với đai nạm vàng nạm ngọc.
    -- Tứ phẩm thì mặc áo màu đỏ đậm với đai nạm vàng.
    -- Ngũ phẩm thì mặc áo màu đỏ lợt với đai nạm vàng.
    -- Lục phẩm thì mặc áo màu lục đậm với đai nạm bạc.
    -- Thất phẩm thì mặc áo màu lục lợt với đai nạm bạc.
    -- Bát phẩm, cửu phẩm thì mặc áo màu xanh đậm với đai nạm thau.
    -- Dân thường thì mang đai nạm đồng nạm sắt.
    Vua Duệ-tông chế định :
    -- Quan văn quan cõ ăn mặc y theo lệ cũ, mang khăn tay và túi đựng con toán.
    -- Quan võ mang thất sự (1) thiếp-tiếp (2) cho đầy - đủ.
    Về đai thắt ở lưng thì :
    -- Từ nhất phẩm trở xuống, ngũ phẩm trở lên nạm vàng.
    -- Lục phẩm, thất phẩm nạm bạc.
    -- Bát phẩm, cửu phẩm nạm thau.
    Về túi (đựng con toán...) :
    -- Vị nào mặc áo màu tía thì mang túi nạm vàng.
    -- Vị nào mặc áo màu đỏ thì mang túi nạm bạc.
    Đến vua Văn-tông lại định :
    -- Nhất phẩn, nhị phẩm thì cho mang đồ ngọc và sừng thông-thiên-tê (3).
    -------------------------
    (1) Thất-sự là bảy món của quan võ như dao, đá mài, đá lửa, ống kim...
    (2) Thiếp-tiếp, cái yên ngựa.
    (3) Thông-thiên-tê, một loài tê-giác, sừng có một cái lỗ thông suốt từ trên xuống dưới. Ai được sừng thông - thiên -tê dài một thước trở lên, khắc vào đấy hình con cá, cầm xuống nước, nước sẽ rẽ làm lối đi.

    -- Tam [19a] phẩm thì cho mang sừng hoa - tê (1) và sừng ban_tê (2) với ngọc.
    -- Vị nào mặc áo màu xanh biếc thì nay cho mặc màu lục.
    -- Những bộ-hạ khách nữ (?) nô-tỳ thì thông-dụng mặc màu xanh biếc.
    -- Thường dân thông - dụng mặc màu vàng màu trắng màu đen.
    Đầu thời vua Hán Văn-đế có lịnh vho các quan thái - thú ở châu quận làm hổ-phù (3) bằng đồng và sứ-phù (4) bằng tre. Hổ-phù và sứ phù đều được chẻ làm hai mảnh, mảnh bên hữu để ở kinh-đô, mảnh bên tả giao quan thái - thú ở ngoài.
    Vua Hán Cao-tổ ban thố-phù (5) bằng bạc cho các quan thú ở quận, rồi lại đổi làm ngư-phù (6) bằng đồng.
    Kho ở mỗi châu trong nước có tám cái ngư-phù bằng đồng, một cái to và bảy cái nhỏ hai mảnh phù-tiết bên tả và năm mảnh phù-tiết bên hữu. Mảnh ngư-phù bằng đồng bên hữu, một cái để mãi ở trong kinh - đô, một cái lưu lại ở bổn châu. Cứ đến tháng cuối mùa (như tháng ba cuối mùa xuân, tháng sau cuối mùa hạ, tháng chín cuối mùa thu, tháng chạp cuối mùa đông) thì kho phải báo-cáo bình an vô sự.
    Những mảnh phù - tiết bên tả đều ghi chữ hiệu theo thứ tự.
    Mỗi khi quan thứ-sử mới đến nhận chức ở quận, sai người đến đương tỉnh xin lãnh mảnh ngư-phù bên tả. Đương ty phúc tâu về triều, nội-khố (7) theo thứ- [19b] tự phát cấp cho mảnh ngư-phù phía tả.
    ---------------------------
    (1) Hoa-tê, sừng tê có hoa.
    (2) Ban-tê, sừng tê có đốm.
    (3) Hổ-phù, binh-phù làm thành hình con cọp.
    (4) Sứ-phù, phù-tiết dùng để cầm làm tin lúc đi đường.
    (5) Thổ-phù, phù-tiết làm thành hình con thỏ.
    (6) Ngư-phù, phù-tiết làm thành hình con cá.
    (7) Nội-khố, kho ở nội-đình.

    Quan tân thứ-sử đến châu tu-tập các quan-lại, lấy mảnh ngư-phù bên hữu cất trong kho ở châu ra ráp lại với mảnh ngư-phù bên tả, hễ thấy hai mảnh bên hữu và bên tả ăn khớp nhau mới tin thật, liền sai người đem mảnh ngư-phù bên tả nộp trả lên tỉnh để khỏi phải qua lại mệt nhọc và tốn kém.
    Đời vua Văn-tông mới bắt đầu có lịnh cho quan mới nhậm chức được tự tiện gởi công văn đến đương tỉnh xin mảnh ngư-phù bên tả đem về bổn quận so ráp đúng với mảnh ngư-phù bên hữa cất trong kho ở quận, rồi sai người nộp lên tỉnh để khỏi qua lại cực khổ và tốn kém.
    Đến đời vua Chu Thế-tông bắt đầu xuống chiếu cho các quan mục quan thú ở các đạo, dạy rằng mỗi lần quan chức được bổ-nhiệm hay dời đổi đều đặc-biệt có chiếu-thư, thì còn mượn phù-tiết để làm gì. Ngư-phù bằng đồng cũng được bãi bỏ.
    Đời vua Đường Huyền-tông chế định điều lệ bưu dịch (trạm truyền tống công-văn) phải được cấp chỉ khoán (giấy chứng-thực). Thường thường các quan ở ngoài được bổ-nhiệm hoặc nghỉ phép khi qua lại phải được cấp giấy chứng-khoán.
    Từ đấy về sau Bộ-binh cấp thẻ bài để di-chuyển theo đường dịch-trạm bắt đầu từ đấy.
    Theo chế-độ nhà Đường, các quan văn võ về triều tham-yết:
    -- Nhất phẩm được 7 ngựa.
    -- Nhị phẩm được 5 ngựa.
    -- Tam phẩm và tản quan (2) [20a] được 3 ngựa.
    -- Tứ phẩm, ngũ phẩm được 2 ngựa.
    -- Lục phẩm trở xuống được 1 ngựa.
    -- Quan ở ngoài thành thì không kể vào lệ nầy.
    Phụ-nữ từ trước đến nay vốn đi xe, phép nhà Đường dùng kiệu (3) và chế-định :
    --------------------
    (1) Tản quan, quan lại nhàn tản không có chức sự.
    (2) Nguyên văn là đảm tử là đồ để gánh khiêng, chắc là cái kiệu, tức là cái ghế có mui dùng để khiêng bậc quý nhân đi.

    -- Mệnh-phụ ở ngoài, mẹ và vợ của quan nhất phẩm, nhị phẩm, Trung-thư môn hạ tam phẩm được ngồi kiệu trang-sức bằng vàng và đồng có tám người khiêng.
    -- Mệnh-phụ bậc tam phẩm được ngồi kiệu trang-sức bằng vàng, bằng đồng có sáu người khiêng.
    -- Mệnh-phụ mẹ hay vợ của quan tại Thượng-thư-sảnh, Ngự-sử đài lang được ngồi kiệu trang-sức bằng thau có bốn người khiêng.
    -- Mệnh-phụ mẹ hay vợ của quan tứ phẩm ngũ phẩm được ngồi kiệu trang sức bằng đồng bằng đá quý có bốn người khiêng.
    -- Mệnh-phụ mẹ hay vợ của quan lục phẩm trở xuống được ngồi hề-xa (1) hay kiệu có bốn người khiêng.
    -- Vợ con của các tư-lại (2) và của người buôn bán không được ngồi hề-xa và kiệu.
    -- Người già-cả đau bịnh được ngồi xe bọc da và kiệu đâu-lung (3) có hai người khiêng.
    Phép nhà Đường hạn chế nghiêm nhặt là như thế.
    Bậc đại-thần được ngồi kiên-dư (4) vào điện là có đặc-ân của vua mới được như thế.
    Vua Tống [20b] Cao-tông từ khi đi Hàng-châu thấy đường xá bùn lầy mới cho phép các quan thông-dụng kiệu song loan (5). Đến nay cũng noi theo đó mà có lệ như sau :
    -- Quan nhất phẩm nhị phẩm thì đi kiệu có tám người khiêng.
    -- Quan tam phẩm trở xuống thì đi kiệu có bốn người khiêng.
    ------------------
    (1) Hề-xa (hề, tôi-tớ; xa, xe) dịch theo nghĩa từng chữ là xe của tôi-tớ đẩy kéo.
    (2) Tư-lại, chức lại coi giữ giấy tờ sổ sách, như chức thư-ký ngày nay.
    (3) Đâu-lung (đâu, loại kiệu khiêng ở vai; lung, cái lồng), kiệu có mây hay tre đan như cái lồng.
    (4) Kiên-dư (kiên, cái vai; dư, cái kiệu), cái kiệu có người khiêng ở vai.
    (5) Kiệu song loan, kiệu có trang-sức bằng hình hai con chim loan.

    -- Dân thường đi kiệu có hai người khiêng.
    Theo chế-độ nhà Đường, nhân-dân người nào được tinh biểu (1) tuyên-dương đức hạnh đáng làm gương treo ở cửa, thì ở trước chính-sảnh và chỗ hành-lang có bày cái bình-phong và trồng hai cây ô-đầu (2), cửa chính-môn phiệt-duyệt (3) cao một trượng hai thước. Hai cây trụ cách nhau một trượng, đầu trụ lợp ngói sơn đen gọi là ô-đầu (đầu sơn đen). Xây hai cây trụ khuyết cao một trượng cách cây trụ ô-đầu về phía nam ba thước bảy tấc giáp ngả tư mười lăm bộ, có trồng cây hòe cây liễu thành hàng.
    Đời nhà Tấn trong thời Ngũ-đại, những việc dựng hai cây trụ làm cửa ô-đầu ở chỗ chính-sảnh đều không thấy chép.
    Nay sách chỉ chép rằng ở trước nhà người được tinh-biểu, lượng đất cho thích-nghi, làm cao ở phía ngoài cửa, chỗ cửa có trồng cây trác cây tiết, phía ngoài cửa ở bên tả bên hữu có dựng một cái đài cao một trượng năm [1a] thước, rộng hẹp vuông vức ngay thẳng xứng hợp với hình-thế của cái đài, lấy vôi phết bốn góc và nhuộm đỏ. Còn những hàng cây thì cứ trồng tùy theo sức mình.
    Sách Bạch tục thông điển đời Tống chép : Những tuần viện châu phủ ở các đạo (4) truyền đệ các sắc thư của triều-đình đều có dùng cái mộc-giáp (5).
    Sách Ngu-hành chí của Phạm-Thành-Đại chép : Trong khoảng niên-hiệu Thiệu-hưng đời Tống, súy-ty của An-nam và Quảng-tây có dùng hai miếng ván sơn để kẹp văn - thư, có khắc chữ ở trên gọi mộc-giáp.
    Sách Hán quan nghi chép : Những chương biểu của
    -------------------------
    (1) Tinh biểu, người trung hiếu tiết nghĩa được vua ban cho tấm biển tuyên-dương đức hạnh đáng làm gương treo ở cửa.
    (2) Ô đầu, đầu con quạ. Đầu cây trụ sơn đen gọi là ô-đầu.
    (3) Phiệt-duyệt, cửa bên trái gọi là phiệt, cửa bên mặt gọi duyệt, dùng để ghi công-trạng. Từ đời nhà Đường nhà Tống trở về sau, nhà có công-trạng được trồng hai cây trụ, gọi là ô-đầu phiệt-duyệt. Nhà thế-gia gọi là phiệt-duyệt.
    (4) Đạo, khu vực hành-chánh.
    (5) Mộc-giáp, tấm ván gỗ dùng để kẹp giữ văn-thư sắc-thư để chuyển đi.

    Gián-viện (1) dâng lên đều được đựng vào trong cái túi đen phong kín.
    Sách Tống-sử chép: Vua Thế-tông nhà Chu đi đánh giặc ở phương bắc, dọc đường duyệt xét văn-thư từ bốn phương gởi đến, được một miếng gỗ dài hơn ba tấc để trong cái túi da có đề chữ : Điểm kiểm tác thiên-tử (Hãy kiểm-điểm khi làm thiên-tử).
    Tôi trộm nghĩ rằng : Những kẻ-sĩ có đạo thuật có tài tiên-tri đã viết thư bỏ vào đấy để đạt [21b] lên vua xem.
    Sách Thông-giám chú của Hồ-Tam-Tỉnh chép : Khấu-Chuẩn làm chức tể-tướng Bổn-triều, các chức lại ở sảnh-đường kiêng kỵ tên chuẩn, những chữ chuẩn ... trong văn-thư đều được viết bỏ phần chữ thập ... thành ra ... Đời sau cũng noi theo mà không sửa đổi lại.
    Sách Thái-bình quảng ký chép : Trong văn-thư công hay tư những chữ số từ nhất (là một) đến thập (là mười) đầu phải dùng những chữ đồng âm nhiều nét thay vào, như chữ ... nhất là một, .... nhị là hai, ... cửu là chín, ... thập là mười. Lệ nầy bắt đầu từ quan Thượng-thư bộ Hộ Khai-Tế đời vua Thái-tổ nhà Minh định ra để ngăn phòng mối tệ của bọn gian lén sửa đổi (như chữ ... nhất có thể viết thêm một vài nét sửa thành chữ ... thập, chữ ... nhị, chữ ... tam ....).
    Sách Sách phủ nguyên quy chép: Vua Hiến Văn-đế nhà Ngụy hạ chiếu-thư rằng : Thứ-sử, thú, tể, đáo quan chi nhật ngưỡng tự cử dân vọng trung tín dĩ vi tuyển quan : Ngày quan thứ-sử, quan thú, quan tể đến nhậm chức, mong rằng các vị hãy tự đề-cử những người dân có danh-vọng trung-tín để tuyển làm quan. (Chữ ngưỡng là lời người trên nói xuống kẻ dưới, có nghĩa là mong rằng).
    Những chiếu lịnh văn-thư đời nhà Tùy nhà Đường đều dùng chữ ngưỡng [22a].
    Nay những giấy trát đến hầu việc thưa kiện cũng còn
    --------------------------
    (1) Gián-viện, viện của các gián quan ( quan dùng để can-gián) làm việc.

    dùng chữ ngưỡng, như ngưỡng sai lại chuẩn thử : Mong sai chức lại hãy chiếu theo đấy.
    Vua Thái-tông nhà Đường ban cho Uẩn-Cổ bó lụa.
    Hồ-Tam-Tỉnh chua rằng : Theo chế-độ nhà Đường, hễ ban cho 10 đoạn lụa thì theo suất như sau :
    -- Quyến 3 thất (1).
    -- Bố 3 đoạn (2).
    -- Khoáng (3) 4 đồn.
    Nếu ban cho lụa đủ màu 10 đoạn thì theo suất như sau:
    -- Bố bông 2 thất.
    -- Trừu (4) 2 thất.
    -- Mạn (5) 4 thất.
    Nếu ban cho khách ngoại phiên cẩm đoạn (6) 10 đoạn thì theo suất như sau:
    -- Si (7) 1 trương.
    -- Lăng (8) 1 thất.
    -- Mạn 4 thất.
    -- Miên (9) 4 đồn.
    Hễ ban cho y-phục mặc theo mùa, có đủ bộ thì ban cho đủ bộ, có một nửa thì bớt không cấp cho.
    Trong dịp hội chính đông, vua có lệ ban cho bó lụa tùy theo đẳng cấp có khác nhau:
    -- Từ ngũ phẩm trở lên được ban 5 thất.
    -- Từ lục phẩm trở xuống được ban 2 thất.
    -- Các bà mệnh-phụ thì xét theo phẩm của chồng.
    Theo chế-độ nhà Đường:
    ---------------------------------
    (1) Thất, độ dài 4 trượng dùng để đo vải lụa.
    (2) Đoan, độ dài 1 trượng 8 thước dùng để đo vải lụa.
    (3) Khoáng, bông.
    (4) Trừu, một loại lụa dệt bằng tơ.
    (5) Mạn, một loại tằng không có vân.
    (6) Đoạn, thứ lụa trơn bóng và dày.
    (7) Si, thứ vải dệt bằng chỉ dây sắn.
    (8) Lăng, một lại tằng có vân.
    (9) Miên, bông gòn.

    -- Quan từ tam phẩm trở lên thì mặc thứ đại liệu tế lăng và là màu tía.
    -- Quan từ ngũ phẩm trở [22b] lên thì mặc tiểu liệu tế lăng và là màu đỏ.
    -- Quan từ thất phẩm trở lên thì mặc quy-giáp hoa lăng màu lục.
    -- Quan từ cửu phẩm trở lên thì mặc tơ vải tạp tiểu lăng màu xanh.
    -- Thường dân thì mặc tế lăng và thi bố màu vàng màu trắng.
    Vua Văn-tông định pháp-chế về áo bào:
    -- Quan từ tam phẩm trở lên thì mặc áo bào bằng lăng có thêu con chim công đối nhau.
    -- Quan ngũ phẩm, lục phẩm thì mặc áo bào bằng lăng có thêu hai cành tréo nhau.
    -- Quan từ lục phẩm trở xuống thì mặc áo bào bằng lăng có thêu chùm trái mà không có hoa.
    Vua Văn-tông lại định pháp-chế về áo sam bố (áo đơn bằng vải) :
    -- Không kể những quan văn võ thường tham (1), các quan tứ phẩm trở lên ở các châu phủ thì thông-dụng áo đơn bằng tơ lụa, không được dùng thứ lăng có hoa.
    -- Nhà buôn và trăm họ thường dân không được mặc áo đơn bằng lăng là màu.
    Theo chế-độ nhà Minh, lễ phục mặc lúc bồi tế của các quan được quy-định như sau:
    -- Quan nhất phẩm: Áo bào bằng bạch-sa màu xanh, trung đơn (2) đều dùng cổ đen, [23a] có viền, quần bằng lăng đỏ viền đen, miếng tế-tất (3) bằng lụa đỏ, dây đai to màu đỏ màu trắng, vớ trắng, giày đen.
    Quan từ nhị phẩm đến cửu phẩm, trang phục cũng y như thế.
    ------------------------
    (1) Thường tham quan, các quan thường ngày đến chầu tham chính gọi là thường tham quan, như quan văn từ ngũ phẩm trở lên, quan cung phụng ở lưỡng-sảnh, giám-sát ngự-sử, viên-ngoại-lang, thái-thường bác-sĩ theo chế-độ nhà Đường.
    (2) Trung đơn, cũng gọi là trung y, là áo mặc lót ở trong.
    (3) Tế tất, miếng che ở phía trước thòng xuống đầu gối.