21.08 - hhongxuan (type done)

15/8/15
21.08 - hhongxuan (type done)
  • https://drive.google.com/file/d/0B8zMka7V_FK-Uld1elVnalQzQlE/view?pli=1


    Hộ-khẩu (nhà cửa và số dân-chúng) là kế hoạch lớn lao của quốc-gia.

    Vua Đường Huyền-tông (713-755) sai Vũ-Văn-Dung duyệt xét suy-tầm cũng chưa từng là không đúng.

    Như nay những quân lính phản-bội đào ngũ ở các châu thì hạn cho trong vòng một trăm ngày phải tự ra đầu-thú, và chuẩn cho [41a] lịnh thức khiến sở tại biên vào hộ-tịch.

    Những người tình-nguyện lưu-trú thì tùy tiện biên vào bộ sổ chịu sai dịch thuế-khóa, và đình trưng-thu ở bổn kế. Còn những kẻ tình-nguyện trở về quê-quán và cứ theo lịnh thức không hợp phụ vào bộ sổ, trước hết gởi giấy về bổn quán cho hay, đến khi đòi trưng-thu mới đệ hoàn.

    Những người tình-nguyện trả ngay thì cũng cho, đợi đến bổn quán xin miễn thuế-khóa sưu-dịch năm nay.

    Như đủ một trăm nhà trở lên thì khiến sai-quan ở bổn quán đến nhà mà nhận lãnh.

    Những số tiền thiếu thuế trong thiên-hạ và số vay lương hột giống cùng thuế đất trong nhân-dân chưa nộp từ năm qua trở về trước đều tha cho khỏi nộp.

    Do đó cũng có thể lấy luôn cái ý tinh-tường sáng-suốt và nhân-hậu của triều-đình, cho nên sách Văn hiến thông-khảo (1) có khen ngợi việc đó.

    Theo chế-độ nhà Đường, những vật-phẩm thổ-sản của các châu trong thiên-hạ dâng cống mỗi năm sau tiết đông-chí đưa đến kinh-đô [41b] chuẩn-bị đầy đủ bày ra ở trước điện.

    Sách Địa-lý chí chép : Phẩm-vật ở châu quận trong mười đạo dâng cống rất nhiều.

    Đầu đời nhà Đường thi-hành phép Tô-dung-điệu (2).

    ------------------
    (1) Văn hiến thông-khảo, tên sách, gồm có 348 quyển do Mã-Đoan-Lâm đời Nguyên soạn ra.

    (2) Tô-dung-điệu, chế-độ thuế-má sưu-dịch đời Đường. Con trai được giao cho một khoảng ruộng (150 mẫu), mỗi năm phải nộp 2 hộc thóc, ba hộc nếp, gọi đó là ; mỗi năm phải nộp 2 tấm lụa quyến, 2 trượng lăng-the, 1/5 số vải, sợi 3 lượng, gai 3 cân, vùng nào không có trồng dâu nuôi tằm thì phải nộp 14 lạng bạc, gọi đó là điệu ; đi làm xâu mỗi năm 20 ngày, tháng nhuận thêm hai ngày, người nào không đi làm xâu thì mỗi ngày nộp 3 thước lụa quyến, gọi đó là dung.
    -------------------

    Người dân có thường-điệu (1), việc làm xâu có thường nhật (2).

    Đời vua Đường Đại-tông (763-775) có ra lịnh cho quan thứ-sử và huyện lịnh căn-cứ theo số nhà cửa của dân-chúng thực có hiện tại, lượng xét thử bậc nghèo giàu mà định thuế-má và sai-dịch, không được y theo hạn cũ.

    Nhà Tống cho người nha-tiền (3) coi giữ những sản-vật của công, cho người lý-chính (4), hộ-trưởng, hương thư-thủ (5) đốc-thúc việc đóng thuế, cho những bậc kỳ-trưởng (6) những cung-thủ (7), tráng-đinh (8) đuổi bắt trộm cướp, cho những thừa-phù, nhân-đao, thủ-đao, táng-tụng để quan sai khiến, những tạp-chức ở huyện tào-ty xem khí-hậu (mà đoán lành dữ) tuyển chọn người. Tất cả đều lấy thứ-tự hương-hộ mà định số nhiều ít khác nhau.

    Theo chế-độ nhà Minh, việc sai-dịch thì có lý-trưởng, giáp-thủ, lão-nhân, tức là chức lý-trưởng, hộ-trưởng, kỳ-trưởng đời nhà Tống ; cung-binh (lính bắn cung), dân-tráng tức là cung-thủ tráng-đinh đời nhà Tống, tạo-lệ (9) cấm-tử tức là [42a] thừa-phù nhân-đao thủ-đao đời nhà Tống, xứng-tử phố-hộ tức là giản-thao nhân đời nhà Tống, khổ-tử, thủ-cấp, nạp-hộ, giải-hộ tức là nha-tiền đời nhà Tống.

    Những hiền-thần đời trước nói: “Những kẻ hèn-hạ để sai việc, ngoài việc coi ngục giữ kho, thì có thể thuê đá gác, giữ cửa, theo hầu. Như thế thì dân được yên-ổn cày gặt, quan được người để sai việc, lại có thể thu hết những kẻ du-thủ (10), ấy là làm một điều mà được cả ba việc.

    --------------
    (1)Thường-điệu, mức thuế về vải lụa đã định sẵn.

    (2) Thường nhật, số ngày làm xâu đã định sẵn cho mọi người dân.

    (3) Nha-tiền người lực-dịch trong quan-nha.

    (4) Lý-chính, tức là lý-trưởng.

    (5) Hương thư-thủ, chức thư-lại ở trong làng.

    (6) Kỳ-trưởng, người già cả trưởng-thượng.

    (7) Cung-thủ, người bắn cung giỏi.

    (8) Tráng-đinh, trai trẻ mạnh khỏe.

    (9) Tạo-lệ, những người hèn-hạ để sai khiến làm việc.

    (10) Du-thủ, kẻ rong chơi biếng-nhác không chịu làm việc
    ----------------

    Sách Phù-ông (1) tạp-ký chép: Quan Tiểu-tể nói: “ Cho phép người buôn bán làm tờ chất tễ(văn-khế, tờ giao-ước buôn bán với nhau).

    Quan Tư-thị (2) nói : Dùng văn-khế để kết chặt lòng tin cậy lẫn nhau mà dứt được việc kiện thưa”.

    Quan Chất-nhân (3) nói : “Buôn bán to thì làm tờ văn-khế chất, buôn bản nhỏ thì làm tờ văn-khế tễ”.

    Trịnh-Khang-Thành chú rằng:“Tờ chất và tờ tễ là hai tờ văn-khế đồng như nhau mà có khác, tờ dài gọi là chất,tờ ngắn gọi là tễ, như [42b] tờ hạ-thủ-thư(văn-khế) ngày nay”.

    Giả-Công-Ngạn nói:“Tờ hạ-thủ-thư đời nhà Hán từ họa chỉ khoán ngày nay, há là tờ văn-khế lăn dấu tay của người dân hèn-mọn bỏ vợ ngày nay chăng? Không như thế thì bài-khoán ngày nay người không biết viết làm dấu đốt ngón tay, và văn-khế về ruộng về nhà ở Giang-nam cũng dùng giấy lăn dấu tay”.

    Theo sách Chu-lễ, quan tư-dân (4) biện chép vào sổ những con trẻ từ lúc mọc răng (5), mỗi năm biên chép số sinh và số tử, và ba năm khảo xét một lần gọi là đại tỷ để biết số nhân-dân.

    Vua chiếu xuống cho quan tư-khấu (6) lấy số dân chia cho số ruộng số làng để hợp với ngạch thuế, để chế-định bổng-lộc, để khởi công làm ruộng, để lập quân đội. Những việc cấy đều bắt đầu ở việc xem xét số dân trong nước.

    -----------------
    (1) Phù-ông, a) Người không rõ tên họ vào thời Đông-Hán thường đi câu ở sông Phù, cho nên hiệu là Phù-ông, thường đì ăn xin, thầy ai có bịnh tật thì dùng thuật châm cứu mà chữa trị dứt ngay, có truyền lại sách Châm kinh chẩn mạch pháp.

    b) Hoàng-Đình-Kiên đời Tống bị biếm làm Tư-mã Phù-châu, tự hiệu là Phù-ông.

    (2) Tư thị, chức quan coi việc chính-trị hình-pháp giáo-dục ở thị-thành.

    (3) Chất-nhân, chức quan giữ việc bình-định vật-giá.

    (4) Tư-dân, chức quan biên-chép số dân trong nước.

    (5) Sinh xỉ, mọc răng. Con trai 8 tuổi mọc răng, con gái 7 tuổi mọc răng.

    (6) Tư-khấu, chức quan coi việc hình-pháp đời nhà Chu.

    ----------------

    Theo chế-độ nhà Đường thì cứ ba năm làm hộ-tịch một lần.

    Theo chế-độ nhà Minh mỗi năm làm hộ-tịch một lần.

    Nhà Đường lấy 100 nhà làm một lý, 5 lý làm một hương, ở lại đô-ấp gọi là phường, ở tại đồng quê gọi [43a] là thôn. Có đặt ra chức lý-chính, chức thôn-chính, chức phường-chính. Đó là bắt chước theo phép có chức tỷ-trưởng lư-tư và lý-tể trong sách Chu-lễ.

    Dưới đời nhà Minh, một lý có một trăm nhà thì lập mười trưởng. luân phiên mỗi năm ứng-dịch trong mười năm thì trọn vòng. Người làm việc đương niên gọi là hiện-dịch, người sắp đến lượt làm việc gọi là bài-niên.

    Ngoài những việc đó ra lại phân thành khu để đốc-thúc thuế-má, chức ấy gọi là lương-trưởng.

    Ngu-Tập, nhà nho đời Nguyên nói : “Phía đông Yên-kinh bờ biển dài hàng mấy ngàn dặm là những vùng lau sậy, nước thủy-triều từ biển mỗi ngày tràn tới ứ lại thành đất tốt, phải dùng phương-pháp người Chiết-giang, đắp đê ngăn nước làm ruộng. cho những nhà giàu muốn làm quan hợp dân chia đất, phủ-định việc cày cấy, sau ba năm mới thu thuế.

    Vương-Nguyên-Hàn đời Minh làm sách Tam tài đồ hội nói: “Trong khoảng sông Trường-giang, sông Hoài, đất nhiều ao đầm lùm bụi hoặc [43b] ở bờ sông bị nước thình-lình tràn ngập, nhà giàu có tài lực độ xem hình thể ruộng nương đắp đất làm đê vòng quanh mà không đứt đoạn, chứa ở phía trong hàng ngàn hàng trăm khoảnh ruộng đều là đất đề cấy cày cả”.

    Xin đem lính thú đến đóng đồn, khiến binh lính chia đất khởi công canh-tác, cũng bắt chước theo phép đó.

    Lại có loại ruộng thấp có đê bảo-vệ ngăn nước ở ngoài, tuy có nạn lụt đều có thể cứu ngăn được.

    Đó thật là phép hay đời cận cổ.

    Mối lợi lâu dài làm giàu cho nước cho dân không thể hơn thế được.

    Hai điều đó, phép cũ của bổn-quốc đã thi hành rồi.

    Nay ruộng ở vùng ao đầm, ruộng ở bờ biển đều có bờ đê la liệt bảo-vệ, khoảnh (1), mẫu (2) phân-minh, mương rãnh thông suốt.

    Lại có tu tri bộ ghi chép phần tiếp giáp bốn bên đông tây nam bắc của ruộng đất để định rõ ranh-giới xã thôn.

    Lại liệt kê ra bốn loại ruộng : nhất đẳng, nhị đẳng, tam đẳng, tứ đẳng để định ngạch thuế cao thấp.

    Ruộng của quan, ruộng của dân [44a], ruộng của đình-thần, ruộng của chùa Phật đều có thước lấc số mục.

    Bờ công, ao công, chỗ dân ở, ao đầm đều có ghi chép bề dài bề rộng và khu đoạn.

    Vì thừa được cái ý hay còn truyền lại của chế-độ liên-vương, dân-chúng sống ở đấy yên-ổn với nhau, nuôi dưỡng với nhau, đủ để đưa đến cảnh giàu có dồi-dào, không có điều gì phiền-nhiễu thì ngày thịnh-trị dưới thời vua Văn-đế vua Cảnh-đế nhà Hán (3) nào xa nữa?

    Sách Nhĩ-nhã chép : Phía ngoài đô ấp gọi giao, phía ngoài cõi giao gọi mục (vùng để “chăn nuôi), phía ngoài cõi mục gọi dã (đồng-nội).

    Sách Chu lễ chép: Con đường từ quốc-đô ra cõi dã (đồng-nội) xa-xôi, cách 10 dặm có đặt một nhà lư, nhà lư có chỗ để ăn uống ; cách 30 dặm có đặt một nhà túc (trọ), nhà túc có lộ thất (nhà cho khách ở theo dọc đường), lộ thất có ủy-lại (4) ; cách 50 dặm có chợ, chợ có hậu-quán (5), hậu-quán có chứa lương-thực đề đãi các quan triều-sính (6).

    -----------------------
    (1) Khoảnh, 100 mẫu ruộng là 1 khoảnh.

    (2) Mẫu, 60 trượng vuông là 1 mẫu.

    (3) Văn Cảnh, vua Hán Văn-đế và Hán Cảnh-đế. Vua Văn-đế nhân-từ cung kính cần-kiệm. Vua Cảnh-đế là con vua Văn-đế cũng noi theo đức độ của cha mà trị vì.

    (4) Ủy, tức là ủy-lại, chức-viên coi giữ việc tích-trữ ở kho lẫm.

    (5) Hậu-quán, lầu để trông ra xa.

    (6) Triều-sính, Chư-hầu đi chầu Thiên-tử, kẻ bề-tôi đi chầu vua gọi là triều. Chư-hầu sai quan đại-phu đi thăm viếng chư-hầu gọi là sính.
    ---------------------

    Đời sau, nhà trạm (dịch-đình) và lữ-quán sao chẳng là không phải ý của đời xưa truyền lại?

    Nhưng sửa-sang những nhà trạm và lữ-quán ấy cũng phải lượng theo thời-tiết và bớt sức cực nhọc của dân.

    Cho nên dưới đời vua Chiêu-Liệt, con đường từ Thành-đô đến Bạch-thủy có làm nhiều nhà trạm. Tào-Tháo biết [44b] đó là việc làm cho dân nhọc mệt.

    Đời vua Sùng-trinh (1628- 1644) nhà Minh, quan Cấp-sự Lưu-Mậu xin giảm bớt số nhà trạm, ý là muốn cho

    dân được nghỉ-ngơi dưỡng sức.

    Nhưng dân không nghề-nghiệp ở Hà-bắc nhờ cậy vào số tiền ngựa chạy trạm mà ăn, đến lúc ấy không còn trông vào đâu mà sống, bèn dẫn nhau làm trộm cướp.

    Xét việc nầy ở bài sớ của quan Ngự-sử Khương-Tư-Duệ có nói : “Dân nghèo ở các đạo đông-đảo hàng ngàn

    hàng trăm, kéo xe mà sống qua ngày, đói khát chờ chết, tản mác ra làm trộm cướp”.

    Khương-Tư-Mậu cũng ăn-năn về lời nói ấy.

    Cho nên làm việc chính-trị mà không hiển dân tình, không độ được những tai-hại về sau, thấy bên nầy lại sót bên kia thì không phải là biết việc trị dân.

    Trong thời Tam-đại (1), binh-khí đều làm bằng đồng.

    Sách Tả-truyện chép : Sở-Tử ban đồng cho Trịnh-Bá, thế rồi lại hối-hận cho việc ấy mà thề [45a] rằng : “Chớ lấy đồng đúc binh-khí”. Cho nên lấy đồng đúc chuông. Đó là một điều.

    Quý Vũ-Tử vì thắng được binh nước Tề, làm cái lâm-chung (2) mà ghi chiến-công của nước Lỗ. Đó là hai điều.

    Chiến-quốc-sách (3) chép: Đổng-An-Tử làm nhà ở cung

    -----------------------------
    (1) Tam đại, ba đời : Hạ, Thương, Chu.

    (2) Lâm chung, tên một âm trong 12 luật. Có lẽ lâm chung ở đây là cái chuông có tiếng kêu đúng với âm lâm-chung.

    (3)Chiến-quốc-sách, tên sách, gọi tắt là Quốc-sách và cũng gọi là Đoản-trường-thư do Lưu-Hướng đời Hán sưu-tập thời-sự chiến-quốc của các nước để ghi chép.
    ---------------------------

    Tấn-dương đều đúc đồng làm cột trụ. Triệu-Tương lấy đồng ấy mà dùng cũng còn dư. Đó là ba điều.

    Thiên Binh-chí trong Minh-sử chép : Đời xưa gọi pháo (súng) đều là loại máy bắn đá.

    Đầu đời nhà Nguyên được súng Tây-vực đánh Thái-châu thành nước Kim, từ đo bắt đầu dùng lửa, nhưng phép chế-tạo không được truyền lại. Về sau cũng ít dùng đến.

    Đến khi Minh Thành-tổ dẹp yên nước Giao-chỉ được phép đúc súng thần-cơ sang pháo, đặc-biệt lập ra Thần-cơ-doanh.

    Cách chế-tạo dùng đồng đủ thứ sống và chín trộn nhau.

    Còn dùng sắt, thì sát Phúc-kiến mềm và tốt nhất. Sắt Tây-vực kém hơn.

    Súng lớn súng nhỏ không đồng nhau.

    Súng to dùng xe mà bắn.

    Súng cỡ trung và súng cỡ nhỏ bắn thì dùng cái giá để gác lên hay vác lên vai.

    Súng lớn tiện-lợi cho việc phòng thủ, súng nhỏ tiện lợi cho việc chiến-đấu, tùy-nghi mà dùng. Súng là binh-khí trọng yếu để hành-quân.

    Sách Thông-ký có nói : Lúc đầu mới dựng nước chỉ có năm doanh : đó là Trung-doanh, Tiền-doanh, Tả-doanh, Hữu-doanh và Hậu-doanh.

    Đầu niên-hiệu Vĩnh-lạc (1403-1424) nhà Minh bắt đầu đem ba ngàn kỵ-binh rợ Hồ đặt dưới là cờ rồng lập ra Tam-thiên-doanh, về sau đi đánh ở phương Nam bắt đặng Hồ-Quý-Ly, được cách-thức chế-tạo thần-sang hỏa-tiễn, lập ra Thần-cơ-doanh. Đó là ba doanh to.

    Sách Cô thụ biều đàm chép : Lê-Trừng, con Hồ-Quý-Ly được nhà Minh cho làm Hộ-bộ Thượng-thư chế-tạo súng rất giỏi, làm súng thần sang cho triều-đình nhà Minh.

    Ngày nay hễ tế binh-khí thì tế luôn Lê-Trừng.

    Sách Thù vực chu tư lục chép: Lê-Trừng, em của Hồ-Hán-Thương tiến dâng cách-thức chế-tạo thần-sang. Vua

    nhà Minh xuống chiếu cho Lê-Trừng làm quan. Như vậy thì thứ binh-khí nầy được truyền vào Trung-quốc thực từ Lê-Trừng.

    Sách Minh-sử chép: Trong niên-hiệu Vĩnh-lạc (1403-1424) vua nhà Minh thân-chinh đánh Mạc-bắc, quân giặc ùa đến đông-đảo, lúc ấy mới được thần-sang của nước An-nam, liền đem ra đánh, quân giặc mới kéo nhau chạy.

    Lại trong khoảng niên-hiệu Tuyên-đức (1426 - 1435)[46a] vua Tuyên-tông nhà Minh có xuống sắc cho quan Tổng-binh ở Tuyên-phủ rằng :

    Súng thần là loại binh khí mà quốc-gia quý trọng, liệu lường mà cấp cho các đồn ở biên-giới đề làm dũng uy thế

    của quân-đội, không nên cấp cho một cách khinh-suất.

    Trong khoảng niên-hiệu Chính-thống (1436 - 1449) tướng-lãnh ở biên-thùy lập ra Thần-sang-cục.

    Vua nhà Minh cho rằng loại súng lửa chế-tạo ở ngoài thì e sợ bị tiết-lậu bí-mật, liền xuống chỉ ngăn cấm Thần-

    sang-cục.

    Việc thận-trọng đối với súng thần-sang là như thế.

    Lê-Trừng thường có viết sách Nam ông mộng lục, kể những việc lặt-vặt đời nhà Lý nhà Trần, phần nhiều hợp

    với Quốc-sử, nay thấy chép ở sách Thuyết-phu.

    Sách Minh-sử chép: Trong niên-biểu của Thất-khanh (bảy vị quan-khanh) có nói Lê-Trừng làm Bỉnh-bộ Thượng-thư.

    Sách Tuy khấu ký lược (1) của người nhà Minh có một

    đoạn nghị-luận, cũng có thể thấy súng ống đem dùng có nửa lợi nửa hại.

    --------------------
    (1) Tuy khấu ký lược, tên sách, có 12 quyển, do Ngô-Vĩ-Nghiệp đời nhà Thanh soạn, chép những giặc cướp cuối đời Minh, phân làm 12 thiên , ở cuối mỗi thiên có thêm phần bình-luận. Việc chép gần đúng sự thật. Thiên cuối cùng, Ngu-Nguyên-Trầm, chép những tai-biến cuối đời Minh.
    ---------------------

    Sách ấy chép: Năm thứ lửa trong binh-pháp chỉ để phá tra sức nóng. Súng thì có máy bắn đá phóng vào người ta.Từ trong niên-hiệu Vĩnh-lạc thì được phương-pháp chế-

    tạo súng lửa thứ to thứ nhỏ của Âu-Tây, mà kỹ-thuật dùng cung tên giáo [46b] mâu bị phế bỏ không dạy nữa.

    Tướng sĩ quen không trông thấy quân địch, một khi bắn không trúng thì bỏ chạy, lại để súng vào tay quân giặc.

    Cho nên lúc đầu dùng súng để thị oai cùng thiên-hạ,rồi về sau để mất nước.

    Sách ấy lại chép : Từ đời Tần trở về sau, nhân-dân chết về gươm đao không thể kể xiết, nhưng lúc ấy súng lửa (hỏa-khí) chưa được truyền vào Trung-quốc thì còn có thành quách kiên-cố có thể giữ được.

    Nay Hiến-vương (1), Sấm-vương (2) làm giặc tung-hoành, những đô-thị danh tiếng (như Thành-đô,Kinh-đô) (3) bị đổ tan đều vì quân giặc cướp được súng lửa của ta.

    Dẫu sức khỏe của Mạnh- Bôn (4), mưu trí của Mặc-Địch (5) cũng không thể làm gì được.

    -----------------
    (1) Hiến vương, tức Trương-Hiến –Trung, người đời Minh, nhiều mưu trí, mặt vàng, hàm cọp, được người đời gọi là Hoàng-hổ (cọp vàng). Trong niên-hiệu Sùng-trinh làm giặc cướp, thường bị Tả-Lương-

    Ngọc đánh bại, đầu hàng rồi lại phản, kết hợp với Lý-Tự-Thành, cướp phá những vùng đất Tấn, Thiểm và Dự, đi đến đâu thì tàn sát thê-thảm, về sau chiếm cứ Vũ-xương vây hãm Thành- đô, tiếm xưng là Đại-Tây Quốc-vương, cuối cũng gặp quân nhà Thanh, trúng tên ngã ngựa bị bắt và bị giết.

    (2) Sấm-vương, tức Lý-Tự-Thành, người đời Minh trong niên-hiệu Sùng-trinh làm giặc cướp, tự xưng là Sấm-vương, cướp phá những vùng đất : Tấn, Dự, Hồ, Quảng, Ba, Thục, đốt phá tàn-sát rất thê-thảm, xưng Vương, tiếm hiệu là Đại-thuận, đưa quân tiến về phía đông, vây hãm kinh-đô, vua Trang-liệt-đế tử trận. Về sau Ngô-Tam-Quế dẫn quân Thanh vào, Lý-Tự-Thành chạy trốn về phía tây, bị nhân-dân bắt ở núi Cửu-cung và tự-sát.

    (3) Nguyên văn là danh-đô, tức là những đô thị nổi tiếng như Thành-đô và Kinh-đo bị Trương-Hiến-Trung là Lý-Tự-Thành vây hãm.

    (4) Mạnh-Bôn, người nước Vệ đời Chiến-quốc, có sức mạnh vô song, có thể nhổ sừng con bò còn sống.

    (5) Mặc-Địch, người nước Lỗ đời Chiến-quốc, chu du các nước, làm quan đại-phu cho nước Tống, xướng lên học-thuyết kiêm-ái (thương yêu tất cả mọi người), dạy nhiều học trò, lập thành một học-phái nhà học Mặc, được người đời tôn-sùng gọi là Mặc-tử.
    --------------------

    Việc cướp phá nhân-dân càng sâu, sát khí của ngũ-hành đã cùng tột, làm khốn-khổ sinh-linh so với sự nguy

    hại của lưỡi đao mũi kiếm thật đã hơn gấp ngàn lần.

    Các dân-tộc người Man ở núi giỏi nhất về nghề bắn nỏ. Đầu mũi tên có tẫm thuốc độc, thú dữ bị bắn trúng

    chỉ bị ngứa ngáy mà [47a] chết.

    Người Man gặp nhau cách núi, người kia kêu lên nói: “Đã hết tên”. Người này đáp lời : “Tôi gởi sang vài chiếc”. Rồi liền nhắm bắn ghim vào đầu tóc của người kia (để người kia nhận lấy).

    Thể mới biết thuyết Tượng-Thạch đẽo mũi (1), người xưa nói không ngoa.

    Đại-lý là nước Nam-chiếu ngày xưa. đất liền với Tây-nhung, sản-xuất ngựa rất nhiều. Ngựa ấy nhiều nhất ở vùng tây-nam, đã thấy sách Ngu hành chí (2) của người nhà Tống khen.

    Nay châu Khai-hóa ở Vân-nam và những địa-phương Tứ-thành, Điền-châu, Bách-ấp ở Quảng-tây sản-xuất rất nhiều ngựa tốt. Nhân-dân ở đấy bán ngựa ra khắp vùng lân cận chung quanh.

    Nước ta vùng Tuyên-quang, Cao-bằng cũng sản-xuất nhiều ngựa.

    Phủ Phú-yên thuộc xứ Quảng-nam sản-xuất ngựa nhiều nhất, có bầy hàng ngàn hàng trăm con như bò dê.

    Khách thương đàn-bà đều cỡi ngựa chở hàng-hóa chuyển-vận mà bán.

    [47b] Tống-sử chép: Thái-Diên-Khánh làm tri-châu ở Hoạt-châu thường được phép hành-quân của nước An-nam,

    ---------------------
    (1) Trác ly, [] (đẽo mũi), thiên Từ vô quỷ trong sách Trang-Tử chép : Có người đất Sính lấy bùn bôi lên chót mũi một lớp mỏng như cánh ruồi rời cho người thợ Tượng-Thạch đẽo. Tượng-Thạch múa cây búa thành gió đẽo sạch lớp bùn mà không phạm đến chót mũi.

    (2) Ngu hành chí, tức sách Quế hải ngu hành chí có một quyển do Phạm-Thành-Đại đời Tống soạn ra.
    ------------------